Tục tư trị thông giám 續資治通鑑 – quyển 220: Kỷ nhà Nguyên – quyển 38
Dẫn nhập
Cuối thời nhà Nguyên,
triều chính suy vi, lại thêm thiên tai làm hại, dân chúng khốn khổ. Năm thứ mười
một niên hiệu Chí Chính (1351), Nguyên Thuận đế mệnh Thượng thư bộ Công là Giả
Lỗ trị thủy Hoàng Hà, sử dụng một lượng lớn dân phu, gây thành bất mãn. Giáo chủ
Bạch Liên giáo là Hàn Sơn Đồng cùng với địa chủ Lưu Phúc Thông, quan viên li
khai là Đỗ Tuân Đạo phát động khởi nghĩa tại Dĩnh Thượng (nay thuộc tỉnh An Huy).
Việc bị phát giác, Hàn Sơn Đồng bị giết, Lưu Phúc Thông, Đỗ Tuân Đạo mang con của
Sơn Đồng là Hàn Lâm Nhi cùng vợ của Sơn Đồng là Dương thị thoát chết khỏi vòng
vây trốn đến Vũ An, rồi chiếm lĩnh Dĩnh Châu (nay là huyện Phụ Dương tỉnh An
Huy), thu thập những người lưu lạc chạy trốn ở An Huy, Hà Nam, tiếp tục khởi nghĩa.
Bấy giờ ở Từ Châu có Lý Nhị, Bành Đại; ở Nam Dương có Vương Quyền; ở Tương Dương
có Mạnh Hải Mã; ở Hào Châu có Quách Tử Hưng đồng loạt hưởng ứng, quân lính đều
thắt khăn đỏ làm phù hiệu, nên sử gọi là khởi nghĩa Hồng Cân. Ngoài ra còn có một
số cá nhân cũng nhân thời thế loạn lạc mà khởi binh, như ở Kì Châu có Từ Thọ
Huy, Bành Oánh Ngọc; ở Tần Châu có Trương Sĩ Thành.
Triều đình Nguyên phái
một lượng lớn quan viên cấp cao, đứng đầu là Thừa tướng Thoát Thoát mang quân đi
dẹp, kết hợp với lực lượng quân đội của bọn địa chủ như Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ trấn
áp. Năm Chí Chính thứ mười lăm (1355), Thoát Thoát bị triều đình tước bỏ binh
quyền, đày đến Vân Nam ép chết, nhà Nguyên chỉ còn dựa vào Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ.
Lưu Phúc Thông đón Hàn Lâm Nhi về xưng làm “Tiểu Minh vương”, đặt quốc hiệu là
Tống, niên hiệu là Loan Phượng, đóng đô ở Bạc Châu, sử gọi là “Hàn Tống”, sau đó
chia quân bắc phạt, chiếm Biện Lương, dời đô về đấy. Tuy nhiên dần dần Sát Hãn Đặc
Mục Nhĩ đều phá được các lộ quân bắc phạt, đến năm thứ mười chín (1359), chiếm
lại Biện Lương. Năm thứ hai mươi hai (1362), về cơ bản bình xong Sơn Đông. Sang
năm sau, Trương Sĩ Thành theo lệnh triều đình đánh bại quân khởi nghĩa trong trận
An Phong, Lưu Phúc Thông tử chiến, Hàn Lâm Nhi phải chạy về với Chu Nguyên Chương.
Sát Hãn bấy giờ đã chết, con nuôi là Khố Khố Đặc Mục Nhĩ lên thay.
Lại nói ở miền nam, từ
năm thứ mười một (1351), Từ Thọ Huy xưng đế, cũng đặt quốc hiệu là Tống, sử gọi
là “Từ Tống”. Năm thứ mười bốn (1353) sau khi chiếm một loạt các trọng trấn ở
Giang Nam, Trương Sĩ Thành cũng xưng Thành vương, đặt quốc hiệu Đại Chu, tuy
nhiên đến năm thứ mười bảy (1357) thì về hàng triều đình, quay sang trấn áp quân
khởi nghĩa. Năm thứ mười lăm (1355), Quách Tử Hưng bệnh chết, Chu Nguyên Chương
lên thay. Năm thứ hai mươi (1360), Từ Thọ Huy bị tướng cũ của mình là Trần Hữu
Lượng sát hại, đổi quốc hiệu là Hán, sử gọi là “Trần Hán”. Đến giai đoạn này,
quần hùng nổi lên xưng vương, các lộ chư hầu đánh lẫn nhau.
Trương Sĩ Thành nhiều
lần xin triều đình Nguyên ban phong vương tước, song đều bị cự tuyệt, Sĩ Thành bất
mãn, tự lập làm Ngô vương, sử gọi là “Đông Ngô” hay “Trương Ngô”. Tiểu Minh vương
Hàn Lâm Nhi lúc này đã về với Chu Nguyên Chương, phong Nguyên Chương làm Ngô quốc
công. Năm thứ hai mươi ba (1363), Trần Hữu Lượng chết trong trận thủy chiến trên
hồ Bà Dương, Chu Nguyên Chương thôn tính Trần Hán. Năm thứ hai mươi tư (1364),
Nguyên Chương cũng tự xưng Ngô vương, sử gọi là “Tây Ngô” hay “Chu Ngô”. Bấy giờ
cả miền Giang Nam chỉ còn Sĩ Thành và Nguyên Chương là hai thế lực lớn nhất, kình
địch lẫn nhau.
Năm thứ hai mươi sáu
(1366), nhận thấy rằng Hàn Lâm Nhi là trở ngại cho đế nghiệp của mình, Chu Nguyên
Chương bèn sai Liệu Vĩnh Trung giả đón Lâm Nhi về Kim Lăng, khi thuyền đi đến Qua
Bộ thì ngầm lật thuyền chết. Nhà Hàn Tống đến đây thì mất hẳn.
Lại nói ở miền bắc, các
thế lực quân phiệt bấy giờ có Khố Khố Đặc Mục Nhĩ, Lý Tư Tề, Trương Lương Bật,
Khổng Hưng, Thoát Liệt Bá, tiếng là phục tùng triều đình Nguyên, song thường
xuyên tị hiềm đánh lại lẫn nhau. Trong đó Khố Khố công lao lớn nhất, được vua
Nguyên cho thống lĩnh binh mã cả nước, song vì thế mà chịu nhiều nghi kỵ. Sau vua
Nguyên tin lời gian, bỏ không dùng Khố Khố, lại lệnh các lộ quân khác thảo phạt
Khố Khố. Sắp mất nước mà còn như thế, vận nhà Nguyên quả đến hồi suy bại vậy.
Bộ “Tục tư trị thông giám”
do Tất Nguyên soạn vào thời Càn Long nhà Thanh, được xem như sự tiếp nối của bộ
“Tư trị thông giám” của Tư Mã Quang nhà Tống, tất cả gồm 220 quyển, cộng 411 năm,
chia thành kỷ nhà Tống và kỷ nhà Nguyên. Dưới đây lược dịch quyển thứ 38 của kỷ
nhà Nguyên, cũng là quyển kết thúc của bộ sách, nói về hai năm cuối cùng niên
hiệu Chí Chính nhà Nguyên (*), khi mà Chu Nguyên Chương diệt xong Trương Sĩ Thành,
thống nhất Giang Nam, kiến lập nhà Minh, tiến hành bắc phạt thu phục Trung Nguyên,
đánh dấu sự cáo chung ngót trăm năm dưới nền thống trị ngoại tộc đối với người
Hán.
---------------------------
Chú thích:
(*) Nguyên Thuận đế vẫn còn dùng niên hiệu Chí Chính thêm hai năm nữa sau khi đã dời về Mông Cổ tới khi từ trần vào năm 1370, ngang với năm thứ ba niên hiệu Hồng Vũ của Minh Thái Tổ. Ở đây nói "hai năm cuối cùng" để nói đến hai năm cuối trước khi nhà Minh thay thế nhà Nguyên trở thành triều đại chính thống.
***************
Thuận đế Chí Chính năm thứ hai mươi bảy (tức là năm Đinh Mùi, dương lịch từ ngày 31 tháng 1 năm 1367 đến ngày 19 tháng 1 năm 1368)
Mùa thu, tháng bảy, việc binh ở Quan Trung thắng bại chưa ngã ngũ, Khố Khố Đặc Mục Nhĩ bảo với bọn Tôn Trứ, Triệu Hằng rằng: “[Tình hình] bây giờ đang như thế nào?”, [Trứ, Hằng] cùng đáp lại: “Bốn quân ở Quan Trung, duy chỉ có Lý Tư Tề là mạnh nhất, phá được Tư Tề, ắt ba quân còn lại không đánh cũng tự phục vậy. Nay binh tướng Quan Trung còn do dự không dám chống cự, sở dĩ vì nghe ngóng thấy có Ma Cai (1) mà sợ hãi. Vậy nên để Ma Cai nhanh chóng dẫn một đạo quân tới đất Hà Trung, từ Hà Trung vượt sông, uy hiếp Phượng Tường, đánh vào sào huyệt của Tư Tề, khiến chúng không kịp trở tay, khi đó quân ở Vị Bắc ắt có thể một lần đánh là hàng được, giống như sách lược phá Biện Lương của [Hậu] Đường Trang Tông vậy. Quan Trung đã định, sau đó sẽ xuất binh thảo phạt Giang Hoài, nhất định phá được!” Khố Khố lập tức làm theo kế ấy, truyền hịch cho Ma Cai xuất binh đánh Phượng Tường.
Ngày Giáp Thân, [vua]
mệnh Y Tô quản việc Võ bị tự.
Bọn Hữu tướng quốc nước
Ngô là Lý Thiện Trường khuyên [Ngô] vương lên ngôi Hoàng đế, vương không đồng
ý. Bọn Thiện Trường lại cố sức thỉnh cầu, vương mới nói rằng: “Ta thường chê
cười Trần Hữu Lượng mới dựa vào một góc địa thế đã tự mình vọng xưng lấy tôn hiệu,
rốt cục cũng phải diệt vong, há lại có thể giẫm lên việc đó mà làm theo sao? Nhược
bằng thiên mệnh có nhằm vào ta, ắt tự có thời, không thể ngu dốt mà làm sự gian
trá được”.
Nước Ngô cấp cho các
quan phủ châu huyện tiền bạc khi nhậm chức, lại ban tơ lụa cho cha mẹ, vợ và
con trưởng của họ theo thứ bậc. Ghi lại thành lệnh.
Ngày Kỷ Sửu, có sét
đánh vào thú vẫn (2) trên cửa cung nước Ngô, làm đá biến thành hình lưỡi
rìu, vương mệnh cất giữ lấy, từ đó khi ra ngoài đều sai người mang theo trước
xa giá, khi lâm triều nghe chính sự đều dâng đặt lên kỷ án, lấy làm điều răn mà
kính trời. [Vương] bèn lệnh đại xá tù phạm.
Phương Quốc Trân khi
trước đã hàng nước Ngô, hẹn lúc hạ được Hàng Châu sẽ lập tức vào chầu, nay lại
ngang nhiên chiếm cứ đất đai, sai sứ đi lại với nước Mân (Bấy giờ, đất Mân do Phúc Kiến hành tỉnh Bình chương sự của nhà Nguyên là Trần Hữu Định cai trị), hòng làm thế ỷ giốc.
Ngô vương nghe việc đó cả giận, sai sứ đến đòi Quốc Trân cống lương thực hai
mươi ba vạn thạch, rồi gửi thư dụ rằng: “Ngươi đã sớm sửa lỗi mà quy thuận
mà còn lo không bảo toàn được phú quý? Lại bất ngờ ngầm tính kế để tìm đường sống,
trốn vào hải đảo, đe dọa, chiếm giữ nhân dân tài vật của ta để làm phản, thế là
tự mình thành địch quốc với ta, khiến cho hào kiệt chê cười ngươi đấy”.
Thư gửi tới nơi, Quốc
Trân rất sợ hãi, gọi em, cháu mình cùng với bọn tướng tá bàn việc đi hay ở.
Lang trung [của Quốc Trân] là Trương Bản Nhân nói: “Tô Châu chưa hạ, có thể
vượt ngàn dặm sang bên ấy an toàn để giữ gìn!” Lưu Dung thì cho rằng: “Quân
đội Giang Tả (chỉ nước Ngô) nhiều bộ kỵ, sao có thể vượt qua biển của ta được!”
Em và cháu của Quốc Trân cũng đều cho là đúng, duy chỉ có Khâu Nam tranh luận rằng:
“Lời nói của hai người chẳng ích gì. Chỉ có dùng trí mới quyết được việc,
dùng tín mới giữ được nước, dùng ngay thẳng mới dụng được binh. Nay công (chỉ
Quốc Trân) kinh lý Chiết Đông, đã trải hơn mười năm, chần chừ lâu ngày, đến lúc
thời thế thay đổi, không sớm định kế nên không thể cho là trí được. Đã hứa về
hàng lại còn bội lại, không thể cho là tín. Dấy quân đi đánh, ắt phải bố cáo, mà
thực chẳng có, cũng không thể cho là ngay thẳng. Chẳng bằng theo về mà nghe mệnh,
ngõ hầu mới có thể được đối đãi tử tế!” Quốc Trân xưa nay vốn hôn ám, không
quyết định nổi, chỉ lo ngày đêm vận chuyển đồ trân bảo, tập trung tàu bè để khi
thất bại tính kế chạy ra biển.
Ngày Tân Sửu, nước Ngô
lập bốn ty Thái thường, Tư nông, Đại lý, Tượng tác.
Tháng ấy, Lý Tư Tề sai
bộ tướng là Hứa Quốc Tá, Tiết Mục Phi, hội cùng với quân Trương Lương Bật, Đồ Lỗ
Bốc đồn trú Hoa Âm.
Lại nói khi đó [vua] mệnh
Đồ Lỗ làm Thiểm Tây hành tỉnh Tả thừa tướng, Tư Tề không theo, mới mệnh bộ tướng
Trịnh Ứng Tường giữ Thiểm Tây, nên [Đồ Lỗ] phải về Phượng Tường.
Rồng hiện ra ở núi
Long Sơn huyện Lâm Cù, lại có đá lớn nứt ra.
Bộ tướng của Ma Cai là
Đa Bác La Đặc Mục Nhĩ cùng với thuộc hạ, phụng hịch theo Ma Cai điều sang Thiểm
Tây, tới Vệ Huy, các tướng ban đêm tụ họp lại mưu tính rằng: “Quan quân
chúng ta, có thể đánh lại quân phương Nam được không? Nay lại nghe sắp phải tới
Phượng Tường, mà ở Phượng Tường cũng đều là quan quân cả, quan quân đánh lại
quan quân, thế là ý gì?” Mọi người đều cho là phải, mới cùng hẹn tôn Ma Cai
làm Tổng binh. Ma Cai vốn giỏi bàn luận việc binh, khi trước đã được Sát Hãn Đặc
Mục Nhĩ tín nhiệm; Quan Bảo từ khi Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ khởi binh tới nay, dũng
mãnh đứng đầu các quân, công cũng là cao nhất; tới đây tất cả đều không phục Khố
Khố Đặc Mục Nhĩ. Ma Cai sai Thủ lĩnh quan (3) là Hồ An Chi tố cáo [Khố
Khố] với triều đình, lại sai bộ tướng phía bắc chiếm Chương Đức, phía tây chiếm
Hoài Khánh.
Bọn Tát Lam Thác Lý, Đặc
Lý Tích, Ba Diên Đặc Mục Nhĩ, Lý Quốc Phụng tiến mưu với Hoàng thái tử rằng: “Chiếu
thư lúc trước lệnh các tướng bản bộ phân đạo mà tiến binh, nhưng không lập đại
tướng thống lĩnh, nên họ mới không phục tùng vậy. Thái tử có thể không tấu lên
trên mà lập Đại phủ quân viện để trấn giữ [các quân]. Phàm các tướng chỉ huy, đều
phải đi từ Phủ quân viện mới có thể dùng được, binh quyền đều quy về một mối, từ
bên trong ức chế bên ngoài, ngõ hầu mới yên việc thiên hạ. Lại nói về bọn bộ
thuộc của Ma Cai không phục Khố Khố đang hướng về triều đình, cũng nên ban cho
danh hiệu, cấp cờ riêng cho chúng”. Thái tử bèn nghe theo lời ấy.
Tháng tám, ngày Bính
Ngọ, [vua] mệnh Hoàng thái tử tổng thống lĩnh binh mã trong thiên hạ.
[Vua] hạ chiếu rằng: “Trọng
trách của hiền thần, vốn từ Phủ quân mà ra (4); Việc chinh thảo
xưa nay, đều có thành điển lệ. A Dụ Thực Lý Đạt Lạt mưu việc yên tông miếu xã tắc,
nhiều lần xin xuất sư, trẫm thấy ngôi Quốc bản rất hệ trọng, không dám xem nhẹ
mà tiến hành, lại đã phó thác cho Khố Khố Đặc Mục Nhĩ việc lớn tổng thống quân
đội, ban cho vương tước, thay mặt [trẫm] làm việc. [Thế nhưng] bọn Lý Tư Tề,
Trương Lương Bật có thành kiến khác, đánh nhau không ngừng, để cho đám đạo tặc
càng thêm hưng mạnh, khiến lòng trẫm rất ưu phiền. Trẫm hỏi ý kiến mọi người, đều
nói rằng Hoàng thái tử thông minh nhân hiếu, tài kiêm văn võ, mọi việc đều noi
theo điển cũ, mới mệnh làm Trung thư lệnh, Khu mật sứ, thống lĩnh tất cả binh
mã trong thiên hạ, Chư mã, Phò mã, Tổng binh các đạo cùng tướng lại đều phải nhất
nhất đáp ứng quân cơ chính vụ, lại trao cho quyền sinh sát và quyết định mọi việc
bất kể nặng nhẹ, đều phải coi như mệnh lệnh từ trẫm. Còn Khố Khố Đặc Mục Nhĩ tổng
lĩnh quân mã bản bộ từ Đồng Quan về phía đông, dẹp yên Giang Hoài; Lý Tư Tề tổng
lĩnh quân mã bản bộ từ Phượng Tường về phía tây, cùng với Hầu Ba Diên Đạt Thế
tiến vào giữ đất Xuyên, đất Thục; Lấy Thiếu bảo Đồ Lỗ làm Thiểm Tây Hành trung
thư tỉnh Tả thừa tướng, tổng lĩnh quân mã bản bộ cùng với các nhánh quân mã của
Trương Lương Bật, Khổng Hưng, Đồ Lỗ Bốc, tiến vào giữ đất Tương, đất Phiền;
Quân mã bản bộ của Vương Tín cố thủ đất cũ, nghe lệnh điều khiển riêng. Chiếu
thư ban ra, lũ các ngươi nên gạt bỏ lòng riêng, cùng nhau vượt qua lúc gian nan
này”.
Ma Cai sai bộ tướng tới
Chương Đức, giả làm sứ giả đi vào, bèn chiếm lấy. Tới Hoài Khánh, tướng giữ
thành của Khố Khố là Hoàng Thụy thấy vậy liền đóng cửa thành, [Ma Cai] không
vào được. Ngày Canh Tuất, Ma Cai giết tướng giữ Vệ Huy là Dư Nhân Phụ, tướng giữ
Chương Đức là Phạm Quốc Anh, rồi dẫn quân tới Thanh Hóa, nghe tin Hoài Khánh đã
có phòng bị, mới quay về Chương Đức, dâng sớ lên vạch tội trạng của Khố Khố Đặc
Mục Nhĩ. [Vua] hạ chiếu nói rằng Khố Khố Đặc Mục Nhĩ bất tuân quân mệnh, phải
truất bỏ binh quyền, lại lệnh cho Ma Cai tiếp quản. Ma Cai bèn ra mặt thủ xướng
đại nghĩa, ban cho tướng sĩ bộ thuộc danh hiệu trung nghĩa công thần.
Ngày Tân Hợi, [vua] tiến
phong Đặc Mục Nhĩ Bố Cáp làm Hoài vương.
Ngày Giáp Dần, [vua] lấy
Hữu thừa tướng Ngạc Lặc Triết Đặc Mục Nhĩ, Hàn lâm Thừa chỉ Đạt Nhĩ Mã, Bình
chương chính sự Ngạc Lặc Triết Đặc Mục Nhĩ đều giữ chức Tri Đại phủ quân viện sự.
Ngày Quý Sửu, nước Ngô
làm xong viên khâu, phương khâu và đàn xã tắc (5), đều phỏng theo Hán chế
mà dựng thành đàn rộng hai mươi dặm.
Ngày Bính Thìn, Ngạc Lặc
Triết Đặc Mục Nhĩ nói: “Đại phủ quân viện chuyên chưởng quản việc quân cơ, từ
nay về sau quân vụ phía bắc noi theo chế độ cũ do Khu mật viện quản, còn lại
vương tước các xứ nội địa, Phò mã, Tổng binh các xứ, Hành tỉnh, Hành viện,
Tuyên dụ ty đều nhất nhất tùy theo quân tình, không được phép vượt quyền mà phải
báo cáo trực tiếp với Đại phủ quân viện”.
Lấy Chiêm sự viện Đồng
tri Lý Quốc Phụng kiêm chức Đồng tri Đại phủ quân viện sự, Trung thư Tham tri
chính sự Ngạc Lặc Triết Đặc Mục Nhĩ làm Phó sứ, Tả ty Viên ngoại lang Diệu
Châu, Khu mật viện Tham nghị Vương Hoằng Viễn làm Kinh lịch.
Ngày Canh Thân, Ngạc Lặc
Triết Đặc Mục Nhĩ nói: “Tướng sĩ các quân kẻ nào có năng lực, phụng mệnh ra
sức, kiến lập kỳ công, xin được thưởng tuyên sắc chỉ theo chế độ thường dùng ở
bên ngoài, lấy hiệu trung nghĩa công thần mà gia phong”. [Vua] nghe theo.
Bấy giờ mặc dù vua đã
hạ chiếu thư, nhưng các tướng đều không nghe theo mệnh. Lý Tư Tề nghe nói Ma Cai
gây biến, Quan Bảo, Hạo Nhĩ Tề ban đêm chạy trốn, bèn giải tán quân đội về phía
tây. Thác Âm Đặc Mục Nhĩ cướp bóc dân chúng, gia súc ở Sơn Đông, mang theo toàn
bộ về phía tây tới Vệ Huy, Khố Khố Đặc Mục Nhĩ dẫn toàn bộ dân binh Hà, Lạc vượt
lên phía bắc tới Hoài Khánh, Ma Cai sợ anh em Khố Khố làm thành thế giáp công Vệ
Huy, mới cướp bóc dân chúng và gia súc Vệ Huy đi lên phía bắc, đóng giữ Chương
Đức, triều đình cũng không thể làm gì được.
Quan Bảo liệt kê tội
trạng của Khố Khố tại triều, cử quân tiến đánh.
Ngày Tân Dậu, [vua] mệnh
Ngạc Lặc Triết Đặc Mục Nhĩ vẫn giữ hàm Thiếu sư, chức Tri Khu mật viện sự, Y Tô
giữ hàm Thái bảo, chức Trung thư Hữu thừa tướng như trước, lại lấy Đặc Lý Đặc Mục
Nhĩ làm Thái úy gia chức Trung thư Tả thừa tướng.
Ngày Bính Dần, lập
Hành Khu mật viện ở A Nam Đạt Sát Hãn Nặc Nhĩ, mệnh Thiểm Tây hành tỉnh Tả thừa
tướng Đồ Lỗ vẫn giữ hàm Thiếu bảo như trước, nay kiêm Tri Hành Khu mật viện sự.
Ngày Mậu Thìn, [vua] mệnh
Đặc Lý Đặc Mục Nhĩ vẫn giữ hàm Thái úy, chức Tả thừa tướng, Tri Đại phủ quân viện
sự như trước cùng với Trung thư Hữu thừa Trần Kính Bá làm Trung thư Bình chương
chính sự.
Ngô vương viết thư dụ
cha con Vương Tuyên (6) ở Nghi Châu rằng: “Cha con ngươi mấy năm trước
khi cùng ta thư từ qua lại có nói: “Tuy gặp lúc già cả bạc tóc mà vẫn vọng về
các hạ mà cổ vũ quần hùng, giết Tử Anh ở Hàm Dương (7), phanh
thây Thương Tân ở Mục Dã (8), để vỗ yên thiên hạ”. Nay ta sửa
sang quân sĩ, phòng thủ Hà Nam, rồi tới Hoài An, ngươi hãy cứ như thế mà phấn
chấn theo về, cùng nhau chung sức dẹp yên loạn lạc, [việc ấy] há chẳng lớn lắm
sao?”
Ngày Kỷ Tỵ, nước Ngô lập
Thái miếu xong, lại dựng miếu thờ tổ tiên bốn đời, cao tổ ở giữa, tằng tổ ở miếu
thứ nhất phía đông, tổ ở miếu thứ nhất phía tây, khảo ở miếu thứ hai phía đông (9).
Ngô vương mệnh Tham
chính là Chu Lượng Tổ thảo phạt Phương Quốc Trân, có lời dặn rằng: “Dân của
ba châu mỏi mệt đã lâu, khi nào hạ được thành, chớ có giết lấy một người”.
Tháng chín, ngày mùng
một Giáp Tuất, có người nghĩa sĩ là Đới Tấn Sinh dâng thư lên Hoàng thái tử nói
về phương cách trị loạn.
[Vua] mệnh Trung thư Hữu
thừa tướng Y Tô dẫn quân tới Sơn Đông, Tham tri chính sự Pháp Đồ Hô Lạt phân
chia các quan bộ Hộ để đồng thời cung ứng đi theo.
Ngày Ất Hợi, [triều
đình] bắt đầu khởi binh. Xét thấy phía nam bách tính sinh sống đông đúc, bèn miễn
một nửa thuế ruộng cả năm trong dân gian các xứ Chân Định, Hà Nam, Thiểm Tây,
Sơn Đông, trừ quân nhân ở bên ngoài thì phải tự cày ruộng tự kiếm ăn.
Ngày Tân Tỵ, Đại tướng
quân nước Ngô là Từ Đạt đánh Tô Châu, bắt Trương Sĩ Thành.
Bấy giờ [quân Ngô] vây
thành đã lâu, [hàng tướng] Hùng Thiên Thụy sai bắn phi pháo vào trong thành,
phá hủy đền miếu. Thấy dân cư [trong thành] vì sợ pháo, [Từ] Đạt mới lệnh trong quân dựng các tấm gỗ
giống hình cái mui xe để che chắn, lại dùng tre gai, quân sĩ nép xuống dưới mà
tiếp tục công thành nhưng không bị thương vong bởi tên đạn. Đạt đốc tướng sĩ
phá cửa Phong môn, Thường Ngộ Xuân phá trại quân mới lập ở cửa Xương môn, rồi dẫn
quân vượt cầu tiến sát dưới thành. Khu mật [sứ của Sĩ Thành] là Đường Kiệt lên
mặt thành cự chiến, Sĩ Thành đóng quân bên trong cửa, lệnh cho Chu Nhân dựng
hàng rào lấp lại bên ngoài thành. [Đường] Kiệt cùng với Chu Nhân, Phan Nguyên
Thiệu đều xin hàng, quân đội Sĩ Thành tan vỡ, các tướng cuối cùng đều xông cả
lên mặt thành. Sĩ Thành bèn sai Phó Khu mật [sứ] là Lưu Nghị tập hợp tàn quân vẫn
còn hai, ba vạn, thân dẫn quân chống cự khu phía đông chùa Vạn Thọ, lại thất bại,
Nghị xin hàng. Sĩ Thành vội cùng bọn tùy tùng mấy người cưỡi ngựa quay về. Trước
kia, Sĩ Thành nói với vợ là Lưu thị rằng: “Ta thua sắp chết rồi, còn theo
làm gì nữa?” Lưu thị trả lời: “[Thiếp] quyết không phụ ngài!”, mới
gom củi chất dưới lầu Tề Vân, thành phá, tự thiêu mà chết. Sĩ Thành ngồi một
mình bên trong, Đạt sai Lý Bá Thăng dụ ý, sau chiều hôm ấy, Sĩ Thành cự tuyệt
mà thắt cổ. Bá Thăng bèn cản lại, lệnh hàng tướng Triệu Thế Hùng mở nút thắt
ra, [Sĩ Thành] chưa tắt thở nên tỉnh lại. Đạt lại lệnh Phan Nguyên Thiệu dùng
lý lẽ khuyên giải, hết bốn lần, Sĩ Thành nhắm mắt không nói gì, mới cho một người
quen cũ khiêng ra khỏi cửa Phong môn, trên đường, đổi sang dùng cái cánh cửa
khiêng vào trong thuyền. Còn bọn quan thuộc [của Sĩ Thành] là Bình chương Lý
Hành Tố, Từ Nghĩa, Tả thừa Nhiêu Giới, cùng với tông thất nhà Nguyên là bọn Thần
Bảo đại vương, Hách Hãn đều áp giải về Kiến Khang, lại giết Hùng Thiên Thụy.
Trước đó, Đạt đã cùng
với Ngộ Xuân hẹn đến ngày phá được thành thì chia nhau ra an phủ quân dân. Ban
đầu triệu tập tướng sĩ, thân bố cáo ý chỉ của [Ngô] vương, lệnh đưa cho tướng
sĩ các huyện mỗi người một thẻ gỗ nhỏ làm hiệu, lại ra lệnh rằng: “Kẻ nào cướp
bóc tài sản của dân, xử chết; Sách nhiễu dân chúng, xử chết; Tự ý rời khỏi quân
doanh hai mươi dặm, xử chết!” Đến lúc thành phá, Đạt cầm quân cánh trái, Ngộ
Xuân cầm quân cánh phải, hiệu lệnh nghiêm túc, quân sĩ không dám làm bậy, dân
chúng đều yên ổn cả.
Ngày Quý Mùi, Ngô
vương nghe tin Tô Châu đã phá, liền mệnh Trung thư Bình chương chính sự Hồ Đình
Thụy giữ châu Vô Tích, rồi mệnh Đại đô đốc phủ Phó sứ Khang Mậu Tài kế nhiệm. Lại
mệnh Hổ Bôn Tả vệ Phó sứ Trương Hưng dẫn một nghìn dũng sĩ tới Hoài An để đợi đại
quân; lệnh Hào Châu luyện tập Bình hương sơn trại quân, hợp lại với nhau giữ
Giao Châu, Đăng Châu, Lai Châu; giả mệnh Giang Hoài vệ lấy một nghìn quân phòng
ngự Bi Châu.
Bọn Từ Đạt nước Ngô
sai quân phòng thủ Thông Châu. Đến ngày Ất Dậu, tới Lang Sơn, tướng thủ thành dẫn
bộ thuộc đến xin hàng.
Mạc Thiên Hựu ở Vô
Tích dâng thành hàng nước Ngô.
Trước, Thiên Hựu đi
theo Trương Sĩ Thành, Sĩ Thành nhiều lần khen ngợi, cho chức Đồng thiêm Khu mật
viện sự để làm ràng buộc. Từ Đạt mấy lần sai sứ đến dụ hàng, Thiên Hựu đều giết.
Tới đây bọn Hồ Đình Thụy công đánh thành, người trong châu là Trương Dực thấy
việc gấp bèn dẫn phụ lão tới gặp nói: “Họ Trương đã chịu trói, nếu [chúng
ta] còn cố thủ, thì để làm gì nữa? Sinh mệnh cả thành tồn vong như thế nào, đều
tại đêm nay, mong được minh xét”. Thiên Hựu trầm tư hồi lâu, bèn đồng ý đầu
hàng. Dực lấy dây thừng trèo xuống thành, nộp tiền [chuộc thành] lên Đình Thụy.
Đình Thụy mừng rỡ nói: “Thành không phải chịu cảnh binh đao, đó đều là nhờ sức
ngươi đấy!” Dực quay về báo [với Thiên Hựu], cuối cùng Thiên Hựu cũng ra
hàng.
Ngày Kỷ Sửu, [vua] hạ
chiếu lấy Y Tô làm Trung thư Hữu thừa tướng phân tỉnh Sơn Đông, Tát Lam Thác Lý
làm Trung thư Tả thừa tướng phân tỉnh Đại Đồng.
Chu Lượng Tổ nước Ngô
đóng quân ở Tân Xương, sai Chỉ huy [sứ] là Nghiêm Đức đánh Quan Lĩnh sơn trại,
bình được.
Từ Đạt sai người giải
Trương Sĩ Thành tới Kiến Khang. Sĩ Thành ở trong thuyền, nhắm mắt lại không chịu
ăn uống, tới Long Giang, vẫn nằm yên không chịu dậy. Đến Trung thư tỉnh [của nước
Ngô], Lý Thiện Trường hỏi, không trả lời, Thiện Trường lấy làm ghét, rồi cho là
lời lẽ của Sĩ Thành thiếu lễ. [Ngô] vương muốn bảo toàn cho Sĩ Thành, nhưng cuối
cùng Sĩ Thành tự thắt cổ chết, ban cho quan tài để an táng.
Vùng Chiết Tây dân vật
phồn thịnh, của cải tích trữ dồi dào. Anh em Sĩ Thành kiêu ngạo xa xỉ dâm dật,
lại hôn ám mà bỏ việc cai trị, thích được người ta khen là được lòng kẻ sĩ,
nhưng những kẻ đi theo [Sĩ Thành] đều là đám vô hiền bất tài, mà [Sĩ Thành] lại
rất trọng chúng, thường đưa tặng đồ quý, cấp cho nhà cửa ngựa xe, tất cả đều
giàu có sung túc, nên kẻ sĩ đi theo rất đông. [Trương] Sĩ Tín (10) làm
việc, thường dâng sớ xin bỏ những tướng lĩnh cũ, tước đoạt binh quyền của họ,
thế nên trên dưới đều li tán, nghi hoặc. Phàm việc xuất binh, sai tướng, đương
lúc ấy có kẻ ốm yếu tật bệnh không đi được, yêu cầu quan tước, nhà cửa ruộng vườn
đẹp, [Sĩ Thành] lập tức y lời xin mà ban cho. Gặp lúc quân thua đất mất, Sĩ
Thành cũng không hỏi han, [đến lần sau] vẫn dùng lại bại tướng. Bởi thế mà chẳng
có uy quyền là vậy.
Sĩ Tín ngu vọng, không
biết đến đại thể, thế nhưng Sĩ Thành vẫn ủy thác việc quân chính mà khiến nước
phải mất. Cái bại của Sĩ Tín cũng là vì bọn Tham quân Hoàng, Thái, Diệp làm hại,
tới đây đều giết, lại giết Phan Nguyên Thiệu, phanh thây Mạc Thiên Hựu.
Lại kể đến Chu Chấn vốn
là thợ rèn sắt ở Sơn Dương, nhờ vơ vét tích trữ mà làm quan tới bậc thượng
khanh. Tới lúc thành phá bị bắt, mới nói lại: “Tiền bạc, lương thực, muối sắt
đều do ta nắm, nước ngươi (chỉ nước Ngô)
muốn giàu mạnh thì chớ có giết ta”. Trả lời rằng: “Ngươi là tên giặc làm
mất nước, còn không biết tội mình là tội chết à?” Cuối cùng giết chết hắn.
Dân chúng cả mừng, hô lên: “Hôm nay đúng là trời mở mắt!”
Ngày Tân Mão, nước Ngô
lập Tuyên Huy viện, đổi Thái y giám thành Thái y viện.
Ngày Giáp Ngọ, Chu Lượng
Tổ nước Ngô tiến quân tới Thiên Đài, Huyện doãn ở đó là Thang Bàn xin hàng.
Ngày Bính Thân, [vua]
truy phong Thái sư Vượng Gia Nỗ làm Duyện vương, thụy là Trung Tĩnh.
Ngày Đinh Dậu, Chu Lượng
Tổ nước Ngô tiến công Thai Châu, Phương Quốc Trân xuất quân cự chiến, Lượng Tổ
đánh bại được, Chỉ huy [sứ] [Ngô] là Nghiêm Đức trúng tên chết. [Nghiêm] Đức là
người đất Thải Thạch vậy.
Ngày Mậu Tuất, Ngô
vương sai sứ gửi thư, trao trả bọn tông thất nhà Nguyên là Thần Bảo đại vương
cùng với Hách Hãn, tất cả chín người cho vua, lại gửi thư cho Khố Khố Đặc Mục
Nhĩ rằng: “Các hạ nếu muốn giữ lấy đại nghĩa, thì nên chỉnh đốn quân lữ,
nghe mệnh triều đình. Tiếng là làm thần tử, mà quyền chính của triều đình lại nắm
trọn ở nơi cửa quân, dù cho [các hạ] tự có lòng trung đi nữa, vẫn làm sao có thể
bỏ qua được bình luận của người đời, thực không hợp lý vậy! Nhược bằng có ý
khác, [ta] tất cử quân mạnh, giữ vững cương thổ”.
Ngày Kỷ Hợi, Vương
Tuyên ở Nghi Châu sai Phó sứ Quyền Miêu Phương qua nước Ngô để cảm tạ. Ngô
vương sai Trấn phủ Hầu Chính Kỷ sang đáp lại.
Ngày Tân Sửu, Ngô
vương mệnh chọn đá ở Linh Bích, Tứ Châu để làm khánh, gỗ cây tử ở Thải Đồng, Hồ
Châu để làm đàn cầm đàn sắt.
Nước Ngô phong Lý Thiện
Trường làm Tuyên quốc công, Từ Đạt làm Tín quốc công, Thường Ngộ Xuân làm Ngạc quốc
công, ban thưởng theo thứ bậc.
Vương dụ các tướng rằng:
“Giang Nam đã bình, nay phía bắc định Trung Nguyên, chớ có quen yên ổn tạm bợ
mà quên đi nghiệp lớn, chớ có thấy đánh gần thắng nhiều là đủ mà mê muội không
tính xa”. Ngày hôm sau, bọn [Từ] Đạt vào lạy tạ, vương hỏi rằng: “Đợi
các vị trở về, hãy cứ bày rượu xướng nhạc có được không?” Đáp rằng: “[Chúng
thần] đội ơn, [khi ấy] xin được bày rượu mừng”. Vương nói: “Ta há lại tiếc
vui vẻ một ngày mà không muốn bày rượu cùng các tướng sao? Mà vì nay Trung
Nguyên chưa bình, chẳng phải là lúc bày biện yến nhạc. Các vị không thấy cái việc
của họ Trương (chỉ Trương Sĩ Thành) ư? Đến ngày tàn vẫn còn chìm đắm trong ca rượu,
nay lại như thế sao được?”
Chu Lượng Tổ nước Ngô
chiếm xong Thai Châu.
Trước kia, Phương Quốc
Anh (11) nghe tin đại quân nước Ngô tới liền muốn bỏ chạy, mới cho gọi
Đô sự là Mã Khắc Nhượng từ Khánh Nguyên trở về. [Khắc Nhượng] nói bây giờ đang
là lúc Quốc Trân dùng binh thủ thành, khuyên Quốc Anh không nên bỏ đi. Quốc Anh
mới hạ lệnh cho tướng sĩ cự thủ, song sĩ tốt ai nấy trong lòng sợ hãi, thường
xuyên có kẻ đào ngũ. Lượng Tổ càng ra sức công phá, Quốc Anh dùng thuyền lớn chở
vợ con ban đêm đi về Hoàng Nham. Lượng Tổ vào thành, rồi đi xuống các huyện đất
Tiên Cư, Quốc Anh đã trốn đi rồi, cùng Tổng quản Triệu Uyển đi Hoàng Nham. Uyển
ngầm trốn vào nơi hẻo lánh ở Bạch Long, trú nhờ nhà dân, sau tuyệt thực mà chết. Uyển
là em của [Triệu] Liễn vậy.
Ngày Quý Mão, nước Ngô
dựng xong nội thành, kiến trúc đều theo lối đơn giản, không dùng các thứ chạm
trổ tô vẽ. [Ngô] vương mệnh Bác sĩ Hùng Đỉnh Loại chọn ra những việc làm của
người xưa có thể dùng làm gương khuyên răn, viết lên tường vách [trong nội điện],
lại mệnh cho thị thần viết sách “Đại học diễn nghĩa” lên tường vách trong
hai gian bên cạnh chính điện. Vương nói: “Cung thất của những đời trước, phần
nhiều toàn lắm thơ ca hội họa, còn ta dùng chữ này để khi chiều xuống chiêm ngắm,
há chăng hơn mấy thứ hội họa kia sao?” Lại có người nói ở Thụy Châu xuất hiện
ngọc đá có vân, dùng để trang trí xây dựng được, vương nói: “Ngươi cho rằng ta
chuộng sự xa xỉ, [thế nhưng] đó có phải là tâm ta đâu!”
Mùa đông, tháng mười,
ngày mùng một Giáp Thìn, Ngô vương dặn Trung thư tỉnh rằng: “Binh lính trong
quân những ai bị thương khi chiến đấu, không được phép loại khỏi hàng ngũ. Nay
cung thành mới dựng, bên ngoài đang cần vệ binh, đóng các khu đất trống bên
ngoài xung quanh tường cung, đặt các nhà trực ở đó. Nay lệnh những người phế tật
tới đấy, ban ngày sinh sống, ban đêm tuần tra cảnh giới, nhân đó phát cho lương
thực để cấp dưỡng”.
Ngô vương sai bọn Khởi
cư chú là Ngô Lâm, Ngụy Quán, dùng tơ lụa để cầu người hiền bỏ sót khắp bốn
phương, đem bọn phú dân ở Tô Châu dời đi Hào Châu.
Ma Cai dẫn quân vào
Sơn Tây, bình định Vu Châu, Hãn Châu, hạ Quách Châu (12), kế đến tấn
công Chân Định, [vua] hạ chiếu cho Y Tô từ Hà Gian hội quân với Ma Cai, rồi lại
không quyết, mệnh Y Tô về lại Hà Gian, Ma Cai về Chương Đức.
Ngày Ất Tỵ, Hoàng thái
tử dâng tấu xin lấy Hoài Nam hành tỉnh Bình chương chính sự Vương Tín làm Sơn
Đông hành tỉnh Bình chương chính sự kiêm Tri Hành khu mật viện sự. Lập Trung
thư phân tỉnh đối với lộ Chân Định. Ngày Bính Ngọ, vua gia phong cho Tư đồ Hoài
Nam hành tỉnh Bình chương chính sự Vương Tuyên làm Nghi quốc công.
Nước Ngô mệnh bách
quan về việc lễ nghi đều lấy bên trái làm gốc (13), đổi Hữu tướng quốc thành
Tả tướng quốc, Tả tướng quốc thành Hữu tướng quốc, các chức còn lại đều theo
như thế. Lại định quan chế của Quốc tử học, lấy Bác sĩ Hữu Tồn Nhân làm Tế tửu,
Lưu Thừa Trực làm Tư nghiệp, đổi Thái sử giám thành Thái sử viện, lấy Thái sử
giám lệnh là Lưu Cơ làm Thái sử viện sứ.
Quân Chu Lượng Tổ tới
châu Hoàng Nham, Phương Quốc Anh chạy ra biển, tướng giữ Hoàng Châu là Cáp Nhĩ
Lỗ xin hàng.
Ngày Đinh Mùi, [nước
Ngô] làm lễ tế ở Thái miếu.
Ngô vương xuống sắc
cho lễ quan rằng: “Từ xưa trung thần nghĩa sĩ, xả thân giữ nghĩa, thân mất
danh còn lưu, mà truyền được gương tốt cho thiên hạ, như Hữu thừa của nhà
Nguyên là Dư Khuyết giữ An Khánh, sừng sững giữa nam bắc, đến lúc viện quân chẳng
còn mà sức đã kiệt, cả nhà đều chết, tiết nghĩa thực là uy nghiêm. Lại có Giang
Châu tổng quản là Lý Phủ, thành bị cô lập nhưng vẫn tự chống giữ, ra sức kháng
địch mạnh, gặp nạn mà chết vì nghĩa, cũng giống như [Dư] Khuyết. Việc tế tự những
gương trung nghĩa đời trước, cần phải nghiêm chỉnh theo phong tục, lệnh cho
quan viên có trách nhiệm tới dựng miếu, phỏng theo tướng mạo mà họa lại thành
hình, cúng bái hằng năm”.
Ngày Nhâm Tý, [vua] xuống
chiếu giáng Khố Khố Đặc Mục Nhĩ làm Thái phó Trung thư Tả thừa tướng nhưng vẫn
kiêm lĩnh việc cũ, giữ tước Hà Nam vương như trước, lấy Nhữ Châu làm thực ấp.
Em là Thác Âm Đặc Mục Nhĩ làm Tập Hiền học sĩ, cùng với Khố Khố Đặc Mục Nhĩ cư
trú ở phủ Hà Nam, lấy phủ Hà Nam làm Lương vương thực ấp. Quan viên tùy tùng dưới
quyền, tất cả đều lệnh về triều. Phàm các quân phục vụ tại trướng của Khố Khố Đặc
Mục Nhĩ khi trước, mệnh cho Bạch Sách Châu, Hạo Nhĩ Tề thống lĩnh; Các quân ở
Hà Nam, sẽ do Trung thư Bình chương chính sự Lý Khắc Di thống lĩnh; Các quân ở
Sơn Đông, sẽ do Thái bảo Trung thư Hữu thừa tướng Y Tô thống lĩnh; Các quân ở
Sơn Tây, sẽ do Thiếu bảo Trung thư Tả thừa tướng Tát Lam Thất Lý thống lĩnh;
Các quân ở Hà Bắc, sẽ do Tri Khu mật viện sứ Ma Cai thống lĩnh; duy có Quan Bảo
vẫn cho thống lĩnh các quân bản bộ như trước. Khố Khố Đặc Mục Nhĩ đã nhận chiếu
rồi, lập tức lui quân về châu Đồn Trạch.
Ngày hôm ấy, [nhà
Nguyên] đại xá thiên hạ.
Nước Ngô lập Ngự sử
đài, lấy Thang Hòa làm Tả ngự sử đại phu, Đặng Dũ làm Hữu ngự sử đại phu, Lưu
Cơ, Chương Dật làm Ngự sử trung thừa, [Lưu] Cơ vẫn kiêm giữ chức Thái trung viện
[sứ]. [Ngô] vương xuống dụ rằng: “Việc xây dựng nhà nước, chính sự cả thiên
hạ chỉ do tam đại phủ quản lý, trong đó lấy Trung thư [tỉnh] làm căn bản, Đô đốc
phủ chưởng quản quân lữ, Ngự sử đài giám sát trăm ty. Kỷ cương của triều đình,
đều quan hệ ở cả đấy, [vì thế] những chức ấy thực rất trọng yếu vậy. Các khanh
nắm quyền tư pháp để trị lý bên dưới, làm việc phải đặt chữ trung chữ cần lên
trên hết, chớ có ôm giữ hư vị mà mặc ý ngồi yên bàng quan, chớ có ủy mị quyến
luyến mà để cho gian ác lộng hành, chớ có mượn việc công mà lo việc riêng, làm
tổn người hại vật. Kinh Thi có nói: “Cứng không được nhả, mềm không được nuốt” (14).
Đấy là cốt cách của bậc đại thần vậy”.
Ngày Giáp Dần, nước
Ngô mệnh Thang Hòa làm Chinh Nam tướng quân, Ngô Trinh làm phó, thảo phạt
Phương Quốc Trân ở Khánh Nguyên.
Ngày Nhâm Tuất, nước
Ngô mệnh Trung thư tỉnh định luật lệnh, lấy Lý Thiện Trường làm quan tổng tài, lấy
bọn Dương Hiến, Lưu Cơ, Đào An làm quan nghị luật.
Ban đầu, [Ngô] vương
thấy nhà Đường nhà Tống đều bỏ việc ngục hình, đã có luật thành văn, duy chỉ tới
nhà Nguyên là không theo cổ chế, cứ thấy có việc phát sinh là thành luật lệnh (15),
để cho bọn tư lại hóa thành gian tệ. Từ khi bình được Vũ Xương đến nay, đã lập
tức bàn việc định luật, tới nay đài gián (16) đã lập, Án sát ty các đạo
sẽ theo lịch mà tuần xét quận huyện, để đi tới ban hành pháp điển, khiến cho
trong ngoài đều tuân thủ, ấy là mệnh lệnh vốn có vậy. Lại ra dụ rằng: “Việc
lập pháp quý ở giản đơn, dùng lời nói biện lý cho sáng rõ ngay thẳng, người người
đều hiểu biết. Gặp những lúc sự thể phức tạp, hoặc một việc sinh từ hai mối
nguyên do, có nặng có nhẹ, ấy là lúc bọn quan lại tham lam giảo hoạt thừa cơ
làm sự gian trá, cho nên ắt phải cấm kẻ tàn bạo, phản phúc làm hại người thiện
lương, trái với pháp luật nghiêm minh, nhất thiết phải tập trung trừ bỏ hết
thói tệ nhũng nhiễu. Người ngư phủ giăng lưới quá dày thì nước chẳng còn cá, cũng
như luật pháp mà quá khắt khe thì nước chẳng còn dân, [vì thế nên] các khanh phải
tận tâm tham cứu, phàm điều mục về các loại hình phạt, phải dần dần khai thác,
ta cùng các khanh gặp nhau bàn bạc châm chước, những gì khả dĩ có thể dùng để
thi hành lâu dài vậy”.
Ngày Bính Thìn, Ngô
vương sai sứ gửi thư cho Lý Tư Tề, Trương Lương Bật, nhân cơ hội đó để ngưng
binh hòa giải. Bọn Tư Tề nhận được thư nhưng không hồi đáp.
Ngày Tân Dậu, Ngô
vương hỏi bọn Từ Đạt rằng: “Trung Nguyên nhiễu loạn, nhân dân ly tán, ở Sơn
Đông thì Vương Tuyên phản trắc, ở Hà Nam thì Khố Khố ngang ngạnh tự mình một ý,
ở Quan Lũng thì Lý Tư Tề, Trương Tư Đạo (17) hai bên nghi kỵ lẫn
nhau. Khí số nhà Nguyên sắp mất, thời cơ ấy đã rõ, thế nên nay sắp bắc phạt, phải
làm gì để chắc thắng?” Thường Ngộ Xuân nói: “Bây giờ phương Nam đã bình
định, binh lực có thừa, đánh thẳng kinh đô nhà Nguyên, dùng đại quân bách chiến,
so với quân địch nhàn rỗi lâu ngày, có thể thắng dễ như nhổ cây tre lên vậy. Đô
thành đã lấy rồi, [quân ta] tự được thế chẻ tre, thừa thắng đuổi dài, khi đó thừa
sức mà đổ nước từ trên xuống vậy (18)”. Vương nói: “Nhà
Nguyên dựng đô đã trăm năm, thành trì phòng thủ ắt kiên cố. Nay đại quân từ xa thâm
nhập, không thể lập tức mà phá được ngay, rồi đóng quân mệt mỏi dưới chân
thành, tiền bạc lương thảo không có kế sách gì, viện binh từ bốn phía kéo đến,
khi đó muốn tiến cũng không thể đánh mà muốn rút cũng chẳng có chỗ mà đi, như
thế là bất lợi với quân ta vậy. Như ý ta muốn trước lấy Sơn Đông, triệt đi bình
phong che chắn [kinh đô nhà Nguyên]; hồi quân quay về Hà Nam mà chặt đứt vây
cánh, chiếm Đồng Quan mà chống giữ ở đó, nắm lấy then cửa. [Lúc này] hình thế
thiên hạ đã nằm cả trong lòng bàn tay ta, sau đấy mới tiến quân vào kinh đô nhà
Nguyên, ắt đương lúc tình thế cô lập không có viện binh, chẳng cần đánh vẫn lấy
được. Đô thành đã lấy xong, Vân Trung (19) chấn động, Cửu nguyên (20)
cùng với đất Lũng (21), có thể hạ như cuốn chiếu vậy”. Các tướng
đều nói: “Hay!”
Ngày Giáp Tý, Ngô
vương mệnh Trung thư Hữu thừa tướng, Tín quốc công Từ Đạt làm Chinh thảo Đại tướng
quân, Trung thư Bình chương chính sự Chưởng quân quốc trọng sự Thường Ngộ Xuân
làm Phó tướng quân, dẫn đại quân hai mươi lăm vạn, từ sông Hoài tiến nhập Hoàng
Hà, bắc định Trung Nguyên.
Xét các bậc danh tướng
lúc bấy giờ, ắt phải kể đến Đạt và Ngộ Xuân, hai người đều có tài dũng. Ngộ
Xuân dũng mãnh tốc chiến, [trong trận] không ngại vào sâu, còn Đạt lại giỏi ở
mưu lược. Ngộ Xuân mỗi lần hạ được thành ấp, không thể tránh khỏi chém giết; Đạt
thấy không phục, liền cùng bọn tráng sĩ [trong quân] liên lạc, kết thành ơn
nghĩa, khiến họ thuận theo mình. Tới đây, Ngô vương trước mặt các tướng dụ rằng:
“Ngự quân (22) cầm giữ trọng trách, ắt phải có kỷ luật,
thắng trận dù công hay thủ, đều tương quan đến đại thể cả. Chớ như Phó tướng
quân Ngộ Xuân, đương giữa trăm vạn địch quân vẫn [liều chết] vào sâu đánh phá;
Chớ như Đại tướng quân Đạt, thân vốn là đại tướng mà vẫn kết giao ngang hàng với
đám quân hiệu nhỏ nhặt, thực rất trái với kỳ vọng của ta vậy (23)”.
Ngô vương mệnh Trung
thư Bình chương chính sự Hồ Đình Thụy làm Chinh nam Tướng quân, Giang Tây hành
tỉnh Tả thừa Hà Văn Huy làm phó, dẫn các vệ quân An Cát, Ninh Quốc, Nam Xương,
Viên, Cống, Trừ, Hòa, Vô từ Giang Tây tới bình định Phúc Kiến. Lấy Hồ Quảng
Tham chính Đới Đức đi theo thảo phạt. Lại mệnh Bình chương Dương Cảnh, Tả thừa
Chu Đức Hưng, Tham chính Chu Bân dẫn các vệ quân Vũ Xương, Kinh Châu, Ích Dương,
Thường Đức, Đàm, Nhạc, Hành, Lễ tới bình định Quảng Tây. Văn Huy trước là con
nuôi của [Ngô] vương, đã ban họ Chu, tới đây lại cho khôi phục họ Hà.
Ngày Ất Sửu, lấy Tập
Hiền Đại học sĩ Đinh Hiếu Lễ làm Trung thư Thiêm thiết Bình chương chính sự.
Ngô vương sai Thế tử
cùng các con thứ tới bái yết lăng mộ ở Lâm Hào, mệnh Trung thư [tỉnh] chọn quan
phụ đạo đi cùng, phàm đi qua các quận ấp gặp thành hoàng hoặc các thần linh
sông núi, đều phải dùng cỗ thiếu lao (24) để cúng tế.
Ngày Bính Dần, [nhà
Nguyên] phong Bình chương Nội sứ Quan Bảo làm Hứa quốc công.
Ngô vương truyền hịch
phủ dụ quan dân Tề Lỗ, Hà Lạc, Yên Kế, Tần Tấn (25), lệnh mau chóng quy
phục.
Ngày Đinh Mão, Đại tướng
quân nước Ngô là Từ Đạt dẫn đại quân tới Hoài An, sai người chiêu dụ Vương
Tuyên cùng với con là [Vương] Tín.
Ngày Kỷ Tỵ, thấy đại
quân của Ngô vương tiến đánh Trung Nguyên, Thác Âm Đặc Mục Nhĩ sợ hãi, nhân lúc
đó ngầm mệnh các nơi Lư Châu, An Phong, Lục An, Hào, Tứ, Kỳ, Hoàng, Tương Dương
gấp rút đặt binh phòng thủ.
Hồ Quảng hành tỉnh của
nước Ngô sai quân đánh huyện Tân Hóa thuộc Bảo Khánh, giết tướng trấn thủ ở đó
là Ma Chu, phá được thành.
Chu Lượng Tổ nước Ngô
tiến binh tới Ôn Châu, chiếm lấy thành trì ở đó, Phương Minh Thiện đã bỏ chạy từ
trước. Lượng Tổ chia quân đi đánh Thụy An, tướng trấn thủ là Tạ Bá Thông dâng
thành xin hàng.
Ngày Tân Mùi, Vương
Tín ở Nghi Châu đã nhận được thư của Từ Đạt, bèn sai sứ mang tiền bạc tới nộp
cho quân Ngô, lại dâng biểu mừng việc bình định Trương Sĩ Thành. Ngô vương sai
bọn Từ Đường, Lý Nghi tới Nghi Châu, cho Tín chức Giang Hoài hành tỉnh Bình chương
chính sự, chỉ huy quan tướng dưới quyền đều giữ nguyên chức cũ, lệnh tất cả
quân mã bản bộ chịu sự tiết chế của Đại tướng quân. Bấy giờ giữa Tín với cha của
y là [Vương] Tuyên, hai bên ngầm giúp đỡ nhau, bên ngoài tuy xin hàng, nhưng
bên trong thực có sửa soạn. [Ngô] vương biết việc ấy, mới sai người bí mật dụ Từ
Đạt dẫn quân nhanh tới Nghi Châu, để quan sát tình hình biến chuyển.
Tháng mười một, ngày
mùng một Quý Dậu, Chu Lượng Tổ nước Ngô đánh bại Phương Minh Thiện ở Bàn Tự thuộc
Nhạc Thanh, đuổi tới cửa biển Sở Môn, sai Bách hộ Lý Đức Chiêu đến phủ dụ nơi
đó.
Ngày Ất Hợi, Minh
Thăng [nước Hạ] (26) sai bề tôi là Đặng Lương Tẩu tới thăm hỏi nước Ngô,
Ngô vương mệnh Lương Tẩu theo quân của Đại tướng quân đi công hạ các thành ấp.
Ngày Bính Tý, Từ Đạt
nước Ngô dẫn quân chiếm Hạ Bi, sai Đô đốc đồng tri là Trương Hưng Tổ từ Từ Châu
tiến chiếm Sơn Đông.
Ngày Kỷ Mão, Từ Đạt nước
Ngô dẫn quân tới trấn Du Lâm, Thiêm viện Lịch Nghị, Trấn phủ Tôn Duy Đức [nhà
Nguyên] đầu hàng. Đạt lệnh bọn Hoàng Phùng ở lại giữ nơi đấy.
Ngày Canh Thìn, Bình
chương nước Ngô là Hàn Chính dẫn quân chiếm Lương Thành, bọn Đồng tri Khu mật
viện Lư Bân, Thiêm viện Trình Phúc [nhà Nguyên] đầu hàng.
Ngày Tân Tỵ, Chinh nam
Tướng quân nước Ngô là Thang Hòa chiếm được Khánh Nguyên.
Trước đấy, quân
[Thang] Hòa từ Thiệu Hưng vượt sông Tào Nga, tiến chiếm Dư Diêu, hàng phục được
Tri châu nơi đấy là Lý Mật cùng với Huyện doãn huyện Thượng Ngu là Thẩm Ôn, rồi
tiến quân hạ thành Khánh Nguyên, phá cửa tây thành ấy, bọn quan phủ là Từ Thiện
dẫn đám thuộc quan, kỳ lão từ cửa tây ra hàng. Phương Quốc Trân chỉ huy bộ hạ
đi thuyền trốn ra biển, Hòa dẫn quân truy kích. Quốc Trân cùng bộ hạ nghênh chiến,
bị Hòa đánh bại, bắt được tướng của Quốc Trân là bọn Phương Duy Ích, Quốc Trân
lại dẫn tàn quân chạy sâu vào biển. Hòa hồi quân về Khánh Nguyên (27), rồi
quay sang hạ các huyện Định Hải, Từ Khê.
Ngô vương sai sứ tới
Diên Bình, chiêu dụ Bình chương [nhà Nguyên] là Trần Hữu Định. Hữu Định bày rượu,
mở đại hội cùng các tướng và tân khách, giết sứ giả nước Ngô, cắt máu vào rượu
đổ vào vò, rồi rót ra cho mọi người cùng uống, lập lời thề rằng: “Bọn ta đều
chịu ơn sâu của triều đình, nay nếu trái mệnh mà không dám chết, [đến lúc ấy]
thân cũng mất mà vợ con cũng bị nhục vậy!”. Bèn tới Phúc Châu tuần tra thị
sát, chỉnh đốn quân sĩ để làm kế chống cự.
Bọn Từ Đường tới Nghi
Châu, Vương Tuyên không muốn đi, mới sai con là [Vương] Tín mật tới Cử Châu để
mộ binh, để làm kế phòng ngự, lại sai Viên ngoại lang là bọn Vương Trọng Cương
giả tới úy lạo quân sĩ để trì hoãn, khiến cho Từ Đạt mắc lừa mà tiếp nhận. Bọn
Trọng Cương quay về rồi, Tuyên lập tức sai quân bức ép bọn Từ Đường, muốn đem
giết, Đường chạy thoát được về quân của Đạt, Đạt lập tức dẫn quân đến Nghi
Châu, đóng ở cửa bắc. Đạt tính muốn hàng được [Vương Tuyên], sai Trấn phủ họ
Lương (28) tới thuyết phục, Tuyên bề ngoài tỏ ra đồng thuận, một mặt ngầm
đóng cửa lại giữ thành chống cự, Đạt cả giận, bèn gấp rút công thành, Tuyên đợi
Tín mộ binh mà chưa thấy quay về, tự thấy không làm gì được nữa, mới mở cửa tây
ra hàng. Đạt lệnh Tuyên viết thư, sai Trấn phủ Tôn Duy Đức chiêu hàng Tín, Tín
liền giết Duy Đức rồi cùng anh là [Vương] Nhân chạy đi Sơn Tây. Bấy giờ từ Dịch
Châu, Cử Châu, Hải Châu cho đến các huyện Thuật Dương, Nhật Chiếu, Cống Du,
Nghi Thủy đều tới xin hàng. Đạt cho Tuyên là kẻ phản phúc, lại giận việc con của
hắn là Tín giết Duy Đức, bèn đem Tuyên đi giết, rồi mệnh Chỉ huy [sứ] là Hàn Ôn
giữ Nghi Châu.
Ngày Ất Dậu, nước Ngô
định quan chế của Đại đô đốc phủ cùng với Diêm vận ty, Khởi cư chú, Cấp sự
trung.
Phương Quốc Trân trốn
vào hải đảo. Ngày Kỷ Sửu, Ngô vương mệnh Bình chương là Liệu Vĩnh Trung làm
Chinh nam Phó tướng quân, theo đường biển hội quân với Thang Hòa đi thảo phạt,
Quốc Trân sai Kinh lịch Quách Xuân cùng với con mình là [Phương] Văn Tín đến chỗ
Chu Lượng Tổ để nộp tiền bạc.
Ngày Bính Tuất, [nhà
Nguyên] lấy Bình chương chính sự Y Lỗ Đặc Mục Nhĩ, Tri Khu mật viện sự Ngạc Lặc
Triết Đặc Mục Nhĩ, Bình chương chính sự Ba Diên Đặc Mục Nhĩ đều gia chức Tri Đại
phủ quân viện sự.
Ngày Canh Dần, Ngô
vương sai sứ dụ bọn Từ Đạt rằng: “Nghe tin tướng quân hạ được Nghi Châu,
[ta] chưa biết đại quân muốn hướng về nơi nào? Nếu hướng sang Ích Đô, phải dùng
tướng sĩ tinh nhuệ, chặn sông Hoàng Hà mà nắm chỗ xung yếu, chặt đứt viện binh,
khiến cho bên ngoài không thể tiến vào mà bên trong cũng không thể tiến ra,
quân ta thế mạnh, sức lực dồi dào, tất có thể đánh lấy được. Còn như chưa hạ được
Ích Đô, nên lập tức tiến chiếm Tế Ninh, Tế Nam, hai quận đó hạ rồi, Ích Đô ở
phía đông ắt thế cùng lực kiệt, như đồ nằm trong túi, chẳng cần đánh cũng hạ được
vậy. Song việc binh tính toán biện luận vốn sâu xa, tùy cơ ứng biến, có gì ưu dị,
đều ở tướng quân”. Bấy giờ, hai sao Kim, Hỏa đều nhập vào Tinh Kỷ (29),
về sau, sao Hỏa đuổi theo, vượt quá sao Kim, đất Lỗ (30) phân chia, quan
Thái sử xem thấy rằng: “[Ngày nay là lúc] nên đại triển binh uy, phải hiểu
rõ lấy việc ấy”.
Bộ tướng của Phương Quốc
Trân phần đông đã về hàng Ngô, Thang Hòa lại sai người viết thư chiêu dụ. Ngày
Nhâm Thìn, Quốc Trân sai Lang trung Thừa Quảng, Viên ngoại lang Trần Vĩnh đến
chỗ Hòa xin hàng, lại sai con là [Phương] Minh Thiện, [Phương] Minh Tắc, cháu
là [Phương] Minh Củng giao nộp các ấn tín dùng tại trụ sở đầu não.
Ngày Ất Mùi, [nhà
Nguyên] lấy Tri Khu mật viện sự Ma Cai làm Trung thư Bình chương chính sự, Thái
úy Trung thư Tả thừa tướng Đặc Lý Đặc Mục Nhĩ làm Đại phủ quân viện sứ.
Hôm ấy là nhằm vào tiết
Đông chí, Thái sử viện nước Ngô dâng “Đại thống lịch” dùng cho năm Mậu Thân,
[Ngô] vương nói với Viện sứ là Lưu Cơ rằng: “Thời cổ vào lúc cuối đông mới ban
bố lịch dùng sang năm, vậy đã là quá muộn rồi, [ta thấy] Đông chí hiện giờ chưa
thích hợp, từ sang năm về sau, vào ngày mùng một tháng mười hãy tiến dâng”. Khi
trước “Mậu Thân lịch” làm xong, đem ban bố, [Lưu] Cơ cùng với các thuộc quan
kính cẩn đem sổ sách dâng lên, vương xem xong, nói rằng: “Đây là các ngươi
làm ra à?” Đáp lại rằng: “Là thần cùng hai người nữa, thẩm định tường tận”.
Vương lại nói: “Thiên tượng vận hành có nhanh có chậm, lịch pháp xưa nay có
sơ sài mà cũng có tỉ mỉ, nếu biên soạn cẩu thả, không chú trọng, thì không thể
tránh khỏi sai lệch được. Thời Xuân Thu, nước Trịnh nhất nhất khước từ mệnh
vua, biên soạn chữ nghĩa, thảo luận cẩu thả, lại sửa chữa che đậy cho bề ngoài
đẹp đẽ, thế nên về sau khi dùng, ít nhiều có mất mát thiếu sót, rồi lại khước từ
mệnh vua như vậy, huống chi ở cái việc tạo lịch này? Các vị cần phải tận tâm, hết
sức chuyên chú vậy”. Bọn Cơ bèn đem sổ sách hiệu đính lại kỹ càng rồi mới
đem ban bố.
Ngày Bính Thân, Chu Lượng
Tổ nước Ngô dẫn quân tới Hoàng Nham, gặp Phương Quốc Anh cùng con trai Quốc
Trân là Minh Thiện, [Lượng Tổ] sai giải về Kiến Khang.
Ngày Đinh Dậu, [nhà
Nguyên] mệnh Quan Bảo làm [Trung thư] phân tỉnh ở Tấn Ninh.
Ngày Canh Tý, nước Ngô
chiếm Đằng Châu.
Trước kia, Từ Đạt lệnh
Bình chương Hàn Chính chia quân chặn sông Hoàng Hà, để cắt đứt đường viện binh
của Sơn Đông, [Hàn] Chính bèn sai Thiên hộ Triệu Thực đánh Đằng Châu. Tướng trấn
thủ ở đó là Sơ Nghị cố chống giữ, sau bỏ thành chạy trốn, [Triệu Thực] cuối
cùng chiếm được thành ấy.
Ngày Tân Sửu, Từ Đạt
nước Ngô công hạ Ích Đô, Bình chương [nhà Nguyên] là Lý Lão Bảo đầu hàng, Tuyên
úy sứ Ba Diên Bố Cáp, Tổng quản Hồ Tuấn, Tri viện Trương Tuấn đều chết cả. Đạt
bèn tiến chiếm Thọ Quang, Lâm Tri, Xương Lạc, Cao Uyển, lệnh cho Chỉ huy [sứ]
là bọn Diệp Quốc Trân ở lại giữ những nơi ấy.
Trước đó, quân Ngô áp
sát thành, Ba Diên Bố Cáp ra sức đánh lại. Đến khi hãm thành, Ba Diên Bố Cáp trở
về lạy mẹ mình, nói: “Con đây trung hiếu cả hai đều không vẹn, còn lại nhị đệ
có thể trọn việc phụng dưỡng”. Bèn tới sở quan, ngồi giữa gian chính, tướng Ngô
nghe nói [Ba Diên Bố Cáp] là người hiền, bèn cho gọi hơn ba lần không đi, mới
sai bắt trói lại mang đến. Ba Diên Bố Cáp nói: “Ta là Tiến sĩ nhà Nguyên,
làm quan tới cực phẩm, đã là bề tôi thì đều có chủ của mình, chẳng há lại thờ
hai chủ (31) à!” Bèn bất khuất mà chết. Vợ là A Lỗ Trân, cùng
với em dâu, đều ôm con nhỏ đâm đầu xuống giếng chết cả.
Lý Lão Bảo, người
Dương Vũ, cũng có tên khác là Bảo Bảo, theo Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ khởi binh, thường
lập công, sau làm tới Bình chương, lưu thủ Ích Đô, tới nay đầu hàng, [Đạt] cho
giải về Kiến Khang. Sau [Lão Bảo] theo Ngô vương đến Biện (32), được
vương sai chiêu dụ Khố Khố Đặc Mục Nhĩ, bị Khố Khố dùng độc giết chết.
Ngày Nhâm Dần, Hồ Đình
Thụy nước Ngô dẫn quân vượt Sam Quan, đánh Quảng Trạch, hạ được.
Thái thường Lễ nghi Viện
sứ Trần Tổ Nhân cùng với Hàn lâm [viện] Học sĩ Thừa chỉ Vương Thì, [Hàn lâm viện]
Đãi chế Hoàng Hạn, [Hàn lâm viện] Biên tu Hoàng Túc [nhà Nguyên] phủ phục trước
cửa khuyết dâng thư rằng: “Gần đây Nam quân (33) xâm hãm cả đất
Tề, không quá một tháng mà đã bức đến gần kinh kỳ, triều đình mặc dù đã mệnh Thừa
tướng Y Tô xuất đại quân, nhưng quân mã thường xuyên thiếu thốn, thế lực cô lập
nguy khốn, mà các quân ở Trung Nguyên, trái phải đều vướng, không điều động được,
bốn mặt kinh thành mênh mông không gì che chắn, an nguy của tông miếu xã tắc
chính là ở lúc này vậy. Chúng thần cho rằng, đại thế chế ngự thiên hạ, thực nằm
ở việc nặng nhẹ, mạnh yếu. Xa gần, trước sau, không nên thiên về một bên, khư
khư cố giữ theo lối cũ. Ngày trước Nam quân làm phản ở một phương, Khố Khố Đặc
Mục Nhĩ ở vào nơi khuỷu tay, được thế nắm giữ quyền bính nhà nước, lẽ ra lúc trước
phải ra sức thảo phạt chúng, mà lại thấy Nam quân ở xa mà coi khinh, Khố Khố thực
quá nông cạn vậy. Nay Khố Khố thế cùng khốn quẫn mà Nam quân lại bất ngờ tiến
đánh, thành ra đem bất lợi cho tông miếu xã tắc, lẽ ra phải lấy việc cứu nạn
làm đầu, mà Khố Khố vẫn hèn kém mà cho là nhẹ, Nam quân lại càng mạnh vậy.
Đương vào lúc này, nên xét việc nặng nhẹ mạnh yếu, tiến hành cải cách (34),
làm cho quan viên Phủ quân đều phải lo việc chung thiên hạ, tùy thời mà định việc.
Thì lúc ấy bộ thuộc của Khố Khố tan rã cả rồi, há còn có thể lại hoành hành
ngang ngược sao! Vì thế hiện tại nên lệnh điều quân mã quay đường về phía đông,
cứu nạn cần vương, cùng với Y Tô chi viện, để tăng thanh thế, rồi sai trọng thần
chia đường tuyên bố chỉ dụ, thúc giục đôn đốc, mới có thể nên việc được. Lại
như trên đã nói, nếu vì Khố Khố mà cất lời
du thuyết để bịt miệng thiên hạ, chẳng may đột nhiên có sinh biến ở ngoài, triều
đình cũng không biết được, mà việc chung thiên hạ cũng bỏ mất vậy”. Thư
dâng lên, [vua] không trả lời.
Ngô vương triệu Chiết
Giang Án sát thiêm sự là Chương Dật vào chầu, mệnh con của Dật là [Chương] Tồn
Đạo giữ Xử Châu, dụ quần thần rằng: “Dật tuy là nho thần, cha con hết lòng ra sức
một phương, giặc cướp đều dẹp yên, công lao cũng không thể xếp sau các tướng được”.
Lại hỏi [Chương Dật] rằng: “Chinh Mân tướng quân đang ở đâu?” Dật trả lời:
“Thang Hòa theo đường biển mà tiến, Hồ Đình Thụy từ Giang Tây mà vào, ắt thu được
thắng lợi. Nay Mân Trung đều phục cái uy tín của Lý Văn Trung, nên lệnh Văn
Trung từ Phổ Thành mà chiếm Kiến Ninh, đó là kế sách vẹn toàn vậy”. Vương lập tức
mệnh Văn Trung đến đóng ở Phổ Thành.
Tháng mười hai, ngày
mùng một Quý Mão, có nhật thực.
Ngày Giáp Thìn, nước Ngô
làm xong bộ “Luật lệnh”, [Ngô] vương cùng chư thần lại xem xét kiểm duyệt, lược
bỏ những chỗ rườm rà mà tinh giản lại, phần nhiều giảm bớt hình phạt khắt khe,
quy định nhẹ đi. Tổng cộng các lệnh có một trăm bốn mươi lăm điều, đều dựa theo
phép nhà Đường mà thêm bớt, các luật hai trăm tám mươi lăm điều, mệnh quan viên
có nhiệm vụ, ban bố trong ngoài (35).
Ngày Ất Tỵ, bọn Từ Đạt
nước Ngô xuất phát từ Ích Đô, sai sứ tới Lạc An chiêu dụ Du Thắng. Lúc này anh
của Thắng là [Du] Bảo bị bộ thuộc dưới trướng giết, Thắng lên thay chức Bình
chương, lãnh đạo bộ thuộc. Ngày hôm sau, quân Đạt tới Bắc Hà thuộc Trường Sơn,
Tổng quản lộ Ban Dương là bọn Lý Chí tới trước cửa quân đầu hàng. Bấy giờ các
huyện Tri Xuyên, Tân Thành đều mong ngóng quy phục.
Ngày Đinh Mùi, Đô đốc
đồng tri nước Ngô là Trương Hưng Tổ tới Đông Bình, Bình chương Phùng Đức [nhà
Nguyên] bỏ thành chạy. Hưng Tổ sai bọn Chỉ huy [sứ] là Thường Thủ Đạo, Thiên hộ
là Hứa Bỉnh đuổi tới Đông A, bọn Tham chính Trần Bích [nhà Nguyên] đem bộ thuộc
tới hàng. Bỉnh lại mang quân tới trấn An Sơn, Hữu thừa Đỗ Thiên Hựu, Tả thừa Tưởng
Hưng [nhà Nguyên] hàng.
Ngày Mậu Thân, hậu duệ
đời thứ năm mươi lăm của Khổng Tử tập phong tước Diễn Thánh công là Khổng Hi Học,
nghe tin quân Ngô đến, liền dẫn Huyện doãn huyện Khúc Phụ là Khổng Hi Chương,
Chủ bạ huyện Trâu là Mạnh Tư Lượng nghênh đón Trương Hưng Tổ, Hưng Tổ dùng lễ
tiếp đãi. Bấy giờ các châu huyện ở phía đông đất Duyện đều tới hàng cả.
Phương Quốc Trân sai
con là Minh Hoàn dâng biểu tạ tội với nước Ngô, Ngô vương ban đầu giận hắn phản
phúc, đến khi xem biểu, mới thấy thương tình. Trong tờ biểu có dẫn là do bề tôi
của Quốc Trân là Chiêm Đỉnh soạn, lời lẽ biện luận khiêm cung, vương mới nói: “Ai
bảo là họ Phương không có người!” Bèn ban thư cho Quốc Trân: “Với ta, ai
có lòng thành ắt dùng lòng thành [để đối đãi], không nhìn quá khứ trước kia mà
cho là trái lẽ”.
Ngày Mậu Thân, Tống Địch
nước Ngô đi sứ từ Sơn Đông về, nói Trương Hưng Tổ chỉ lo đãi người thành tâm,
hàng tướng có thể dùng được, lập tức cho lĩnh lấy quân cũ, tham gia tiến đánh.
Vương cho rằng: “Đó không phải là kế tốt. Ta nghe nói Hưng Tổ dùng bọn hàng
tướng có kẻ cho lĩnh tới một nghìn kỵ binh, một khi lâm trận gặp địch, thế quân
không đủ phải dùng thêm, [bọn chúng] nhân lúc đó sinh biến, thì lấy gì mà khống
chế?” Bèn mệnh [Tống] Địch tới dụ Hưng Tổ: “Từ giờ sau khi thu nạp hàng
tướng, tất cả đều phải giải đi [Kiến Khang], chớ có tự ý giữ lại vậy”.
Từ Đạt nước Ngô tới
Chương Khâu, tướng trấn thủ ở đó là Hữu thừa Vương Thành đầu hàng. Ngày Canh Tuất,
tới Tế Nam, bọn Bình chương Đạt Đa Nhĩ Tế dâng thành xin hàng. Đạt lệnh Chỉ huy
[sứ] là Trần Thắng ở lại đóng giữ.
Hồ Đình Thụy nước Ngô
tới Thiệu Vũ, tướng trấn thủ ở đó là Lý Tông Mậu dâng thành xin hàng.
Trương Hưng Tổ nước
Ngô dẫn quân tới Tế Ninh, tướng giữ Tế Ninh là Trần Bỉnh bỏ thành chạy, quân
Ngô bèn tiến vào đóng giữ.
Ngày Tân Hợi, Ngô
vương sai sứ dụ Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân rằng: “Quân đội thắng trận liên tiếp,
dễ sinh lòng kiêu mạn, còn quân đội mệt mỏi lâu ngày, dễ sinh lòng oán giận. Giải
trừ mối lo, mới có thể không bại; Thành sự cẩn thận, việc mới có thể xong. Nhược
bằng trễ lười biếng nhác, ắt bị kẻ khác thừa cơ lợi dụng. Tướng quân nên gắng sức
vậy!”
Tướng giữ Mật Châu [của
nhà Nguyên] là Thiệu Lễ tới chỗ Từ Đạt nước Ngô để xin hàng.
Phương Quốc Trân cùng
em là Quốc Mân dẫn bộ thuộc yết kiến Thang Hòa tại cửa quân, thu được rất nhiều
người ngựa, thuyền bè, lương thảo. Cho giải viên Đạt lỗ cát tề (36) ở
Xương Quốc châu là Khố Lý Cát Tư ra hàng cùng với bọn Quốc Trân về Kiến Khang. Ngô
vương triệu tất cả quần thần, lấy Khâu Nam làm Thiều Châu Đồng tri, lại nhớ đến
tờ biểu trước kia do Chiêm Đỉnh soạn thảo, liền mệnh [Đỉnh] giữ quan chức, còn
lại đều dời đi Hào Châu. Chiết Đông vậy là đã được dẹp yên.
Ngày Nhâm Tý, Du Thắng
ở Lạc An sai bọn Lang trung Lưu Khải Trung đến chỗ Từ Đạt giao nộp tiền bạc.
Ngày Quý Sửu, Trung
thư Tả thừa tướng nước Ngô Lý Thiện Trường dẫn văn võ trăm quan dâng biểu
khuyên [Ngô vương lên ngôi Hoàng đế], vương không đồng ý. Quần thần cố sức khẩn
cầu, vương nói rằng: “Trung Nguyên chưa bình, việc binh chưa nghỉ, theo như
ý ta, phải sau khi thiên hạ đã đại định mới bàn đến việc ấy, vậy mà lũ các
khanh cứ nhiều lần thỉnh cầu mãi không thôi. Việc lớn như vậy, phải châm chước,
xem xét lễ nghi cẩn thận mới làm”.
Ngày Đinh Tỵ, Hồ Đình
Thụy, Hà Văn Huy nước Ngô dẫn quân tới Kiến Dương, tướng trấn thủ ở đó là Tào
Phục Trù ra hàng, [Đình Thụy] mệnh Chỉ huy [sứ] Thẩm Hữu Nhân ở lại đóng giữ.
Ngày Mậu Ngọ, tướng giữ
Bồ Thai là Kinh Ngọc cùng với Huyện doãn huyện Trâu Bình là Đổng Cương tới chỗ
Từ Đạt nước Ngô xin hàng. Đạt sai hàng tướng là Lịch Nghị ở lại giữ Trâu Bình, Chỉ
huy [sứ] Trương Mộng giữ Chương Khâu, Đường Anh giữ Bồ Thai.
Ngày Kỷ Mùi, nước Ngô
làm xong sách “Luật lệnh trực giải”, vương xem xong, vui mừng mà nói: “Đời
trước có làm các sách “Thông chế”, “Điều cách” (37), tuy không phải
không tỉ mỉ, song vì dung túng cho quan lại lộng pháp, mà dân gian hầu như
không ai biết, thành thử người trong thiên hạ đều mù điếc cả, khiến họ phạm
pháp vậy. Nay ta làm bộ “Luật lệnh trực giải” mà ban hành khắp nơi, người người
thông hiểu, khi đó sự phạm pháp ắt tự phải giảm đi”.
Ngày Canh Thân, [nhà
Nguyên] phong Dương Thành, Trần Bỉnh Trực tước Quốc công, giữ chức Bình chương
chính sự.
Ngô vương mệnh Thang
Hòa, Liệu Vĩnh Trung, Ngô Trinh dẫn binh thuyền từ Minh Châu theo đường biển tới
chiếm Phúc Châu.
Ngày Tân Dậu, Quảng
Tín vệ Chỉ huy [sứ] nước Ngô là Mộc Anh phá ải Phân Thủy quan, tấn công huyện
Sùng An, đánh lấy được.
Nước Ngô dùng Lăng Thống
làm Chiết Đông Án sát sứ.
Ngày Nhâm Tuất, Du Thắng
từ Lạc An gặp Từ Đạt ở Tế Nam, Đạt sai Thắng về Lạc An, giữ Lang trung [của Thắng]
là Dương Tử Hoa.
Tả thừa tướng nước Ngô
Lý Thiện Trường dẫn lễ quan tiến dâng [Ngô vương] nghi lễ lên ngôi Hoàng đế.
Ngày Quý Hợi, Trung
thư tỉnh nước Ngô đề nghị để dân các phủ thuộc các địa phương Hòa, Trì Châu,
Huy, Tuyên, Thái Bình sản xuất túi vải dùng để vận lương, [Ngô] vương nói: “Phép
khoa sai (38) của nước nhà, không được hà khắc, hà khắc ắt dân
không chịu nổi. Bây giờ trong quốc khố vải không có, thì tự làm túi để vận chuyển,
sao phải dùng đến sức dân!” [Vương] không cho.
Ngày Giáp Tý, [nhà
Nguyên] mệnh bọn Trung thư Hữu thừa tướng Y Tô, Thái úy Tri viện Thác Hòa Tề,
Trung thư Bình chương chính sự Hô Lâm Đại, Ma Cai, Tri Khu mật viện sự Tiêu
Chương, Đồ Thấm Đặc Mục Nhĩ, Uông Văn Thanh, Lỗ Nhĩ hội với các quân của Dương
Thành, Trần Bỉnh Trực, Ba Diên Bố Cáp, Du Thắng cùng phòng ngự chống giữ Sơn
Đông, lại mệnh Quan Bảo Châu nắm viện quân, để thêm thanh thế. Bấy giờ [nhà
Nguyên] còn chưa biết Du Thắng đã về hàng Ngô vậy.
Ngô vương ngự trong
cung mới, quần thần thỉnh cầu ý vương về việc tế cáo Thượng đế, Hoàng kỳ (39),
khấn rằng: “Nếu thần có thể làm chủ muôn dân, thì xin vào ngày tế cáo, Thượng
đế, Hoàng kỳ ngự đến, trời sáng khí trong; Còn nếu thần không thể, xin giáng cảnh
lạ gió lớn, để thần được biết”.
Từ Đạt nước Ngô sai
Tham chính Phó Hữu Đức tới giữ Lai Dương.
Ngày Bính Dần, [nhà
Nguyên] dùng Trang Gia làm Trung thư Tham tri chính sự.
Ngô vương mệnh ban tên
cho Thế tử cùng các con. Các vương tử những ai tuổi sắp trưởng thành, phải tập
cần lao, mệnh nội thị làm giày vải gai để dùng. Phàm xuất thành cách ba trăm dặm,
đều lệnh đi ngựa phải dùng hai lần, đi bộ dùng một lần.
Nước Ngô định chế độ
trang phục cho quan Nội sứ. Phàm quan Nội sứ, mũ dùng loại ô sa, miêu kim, khúc
giác, áo [ngoài] dùng bổ tử hình hoa, cổ tròn, áo lót tay bó, thắt đai bằng sừng
đen.
Tả thừa tướng nước Ngô
Lý Thiện Trường dâng lên quy chế nghi vệ, [Ngô] vương trong nghi trượng có dùng
chữ “Thiên hạ thái bình, Hoàng đế vạn tuế”, liền ngoảnh lại nói với Thiện Trường:
“Dùng từ ngữ khoe khoang quá như vậy, thế là trái với cổ chế”. Mệnh bỏ
đi.
Từ Đạt nước Ngô từ Tế
Nam quay về Ích Đô, tiến chiếm các huyện thuộc Đăng Châu, Lai Châu.
Ngày Kỷ Tỵ, tướng giữ
Đăng Châu là Đổng Xa, tướng giữ Lai Châu là An Nhiên ra hàng quân Ngô. Dân
chúng Bồ Thai có kẻ trái lệnh đem cỏ khô cho gia súc làm đồ cúng tế, Từ Đạt muốn
chém, con của người đó xin chết thay, Đạt liền thôi, đem giải về Kiến Khang.
Ngô vương khen người con là có hiếu, bèn tha tội cho người cha.
Ngày Canh Ngọ, Chinh
nam tướng quân nước Ngô là Thang Hòa dẫn đại quân chiếm Phúc Châu.
Trước kia, Trần Hữu Định
dựng lũy đất ở ngoài thành để phòng bị, trên lũy cứ năm mươi bước lại dựng một
đài quan sát, đặt quân canh giữ nghiêm ngặt. Nghe tin quân Ngô vào Sam Quan, mới
để Đồng thiêm là Lại Chính Tôn, Phó Khu mật sứ là Tạ Anh Phụ, Viện phán Đặng
Ích cầm hai vạn quân giữ Phúc Châu, rồi tự mình dẫn quân tinh nhuệ giữ Diên
Bình, để làm thế ỷ giốc. Bấy giờ bọn [Thang] Hòa hành quân từ Minh Châu theo hướng
gió đông bắc, đi đường tắt xuống Phúc Châu, vào cửa Ngũ Hổ môn, đóng quân ở cửa
sông Nam Thai, sai người vào thành chiêu dụ, giết Bình chương là Khố Xuân.
Quân Ngô đổ bộ vào bờ
sông, bắt đầu vây thành, Khố Xuân lĩnh quân ra khỏi cửa nam nghịch chiến, bị bọn
Chỉ huy [sứ] Tạ Đức Thành đánh bại, Khố Xuân hội họp tàn quân vào thành cự thủ.
Đêm hôm ấy, Tham chính Viên Nhân ngầm sai người đến [chỗ quân Ngô] giao nộp tiền
bạc, quân Ngô từ tháp (40) nhảy lên mặt thành rất đông, cuối cùng mở được
cửa nam. [Thang] Hòa dẫn quân tiến vào, Đặng Ích cự chiến ở thủy môn (41),
bị Hòa giết chết. Lại Chính Tôn, [Tạ] Anh Phụ từ cửa tây chạy đi Diên Bình, bọn
Khố Xuân cũng ôm ấn tín, dắt vợ con chạy trốn, Tham chính Doãn Khắc Nhân chết
đuối, Hành Tuyên chính viện sứ Đa Nhĩ Mã không chịu khuất, chết trong ngục. Bấy
giờ Thiêm viện là Bái Đặc Mục Nhĩ ở Hầu Quan nghe tin quân Ngô gấp rút công
thành, liền than: “Đánh giặc giữ đất, ta không làm được, không lấy gì để báo
quốc!”. Bèn chất củi dưới lầu, dùng lửa thiêu chết thê thiếp cùng hai đứa
con gái, rồi tự đâm cổ mà chết.
[Thang] Hòa vào sở
quan tỉnh ấy, tập trung quân dân lại an phủ, sai Viên Nhân cùng với Viên ngoại
lang Dư Thiện chiêu dụ các lộ Hưng Hóa, Chương, Tuyền; Ở Phúc Ninh các châu huyện
còn chưa quy phục, chia quân đến bình định.
Ngày Tân Mùi, Ngô
vương thấy các quận huyện Sơn Đông đã hạ xong, liền mệnh quan đến tập trung
[dân chúng] an phủ.
Nước Ngô quy định các
huyện phân làm ba cấp thượng, trung, hạ, trong đó thuế ngạch từ mười vạn thạch
lương thực trở xuống thì được xếp vào thượng huyện, từ sáu vạn trở xuống xếp
vào trung huyện, từ ba vạn trở xuống xếp vào hạ huyện.
Nước Ngô giảm thuế ruộng
cho phủ Kim Hoa.
Trước kia, khi mới định
Kim Hoa, quân đội không được cung ứng, Tri phủ [Kim Hoa] là Vương Sùng Hiển xin
tăng thuế ruộng của dân để dùng cho đủ, bị dân chỉ trích. Đến đây, Chiết Giang
Bình chương Lý Văn Trung nghe việc ấy bèn hạ lệnh miễn tăng thuế.
Tháng ấy, [vua] xuống
chiếu: “Thiểm Tây hành tỉnh Tả thừa tướng Đồ Lỗ làm Tổng thống các cánh quân
mã của Trương Lương Bật, Đồ Lỗ Bốc, Khổng Hưng, lấy Lý Tư Tề làm Phó tổng thống,
phòng ngự chống giữ Quan Trung, an phủ quân dân. Bọn Đồ Lỗ Bốc, Khổng Hưng ra
khỏi Đồng Quan, chọn lấy đường núi thuận tiện, vượt sông Hoàng Hà, tạo thành thế
hướng đông, cùng nhau lo việc cần vương”. [Chiếu ban xuống], bọn Tư Tề đều
không phụng mệnh.
Thái thường Lễ nghi Viện
sứ Trần Tổ Nhân lại dâng thư lên Hoàng thái tử nói: “Binh mã của Khố Khố Đặc
Mục Nhĩ, Nam quân vẫn thường lấy làm sợ, ta tạm thời biểu dương mà dùng, há lại
không giúp? Bây giờ người người đều biết nhưng không ai dám nói, là vì sợ việc
có tài du thuyết cũng thành một cái tội vậy. Huống chi [thần] nghe nói Khố Khố
thường cùng với các Thượng thư dâng sớ tỏ rõ tấm lòng, điều đó chứng tỏ [ông
ta] vẫn chưa đoạn tuyệt với triều đình. Nay nếu vội gán cho [ông ta] cái tiếng
bội nghịch, khiến [ông ta] phải cam tâm mà gánh chịu, sẽ gây hại không thể nói
hết được. Kế sách của nước nhà bây giờ, không vượt quá ba việc là chiến đấu, chống
giữ và chuyển dời. Về chiến đấu mà nói, cần dựa vào thế ỷ giốc; Về chống giữ mà
nói, cần trông về phía các quân cần vương; Về chuyển dời mà nói, cần mượn sức của
các phiên vệ bên ngoài. Lúc nay đương buổi nguy cấp, tồn vong của tông miếu xã
tắc, gần như tính bằng ngày đêm, chẳng may một ngày Đường Huyền Tông thảng thốt
mà đi (42), thì tông miếu xã tắc cả trăm năm biết ủy thác vào
đâu, lúc ấy đầu rơi thân mất, việc cứu làm sao được! Dám xin [điện hạ] đừng để
ý mà hiềm kỵ, dâng thư để biết”. Thái tử không trả lời.
Năm ấy, Tập Hiền Học
sĩ đã về hưu [của nhà Nguyên] là Quy Dương chết.
***************
Thuận đế Chí Chính năm thứ hai mươi tám (tức là năm Mậu Thân, dương lịch từ ngày 20 tháng 1 năm 1368)
Mùa xuân, tháng giêng, ngày mùng một Nhâm Thân, Hoàng thái tử mệnh Quan Bảo cố thủ Tấn Ninh, tổng thống lĩnh các quân, phòng nếu Khố Khố Đặc Mục Nhĩ cự mệnh, cho phép lập tức bắt giết.
[Nhà Nguyên] lấy Trung
thư Bình chương chính sự Bố Diên Đặc Mục Nhĩ làm Ngự sử đại phu.
Ngày Ất Hợi, Ngô vương
tế cáo trời đất ở đàn Nam giao, lên ngôi Hoàng đế, định quốc hiệu là [Đại]
Minh, đặt niên hiệu là Hồng Vũ. Truy tôn các bậc khảo, tỉ bốn đời làm Hoàng đế,
Hoàng hậu, lập [vương] phi là Mã thị làm Hoàng hậu, Thế tử [Chu] Tiêu làm Hoàng
thái tử. Lấy Lý Thiện Trường, Từ Đạt làm Tả, Hữu thừa tướng, các công thần đều
tiến tước theo thứ bậc.
![]() |
| Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương |
Ngày Tân Tỵ, [vua] ra
chiếu dụ Khố Khố Đặc Mục Nhĩ: “Gần đây Y Tô thượng tấu, khanh viết thư trần
tình, lòng tự hối ngộ, có ý hiểu ra, lòng trung thực cảm động vậy! Trẫm xem
khanh như con, mà khanh nghe lời kẻ gian tà, nghi ngờ, không chịu đặt mình vào
trẫm, để bây giờ hại đến nghiệp trước là làm sao? Khanh bây giờ có thể tự hối,
xưa nay trẫm vẫn trông đợi. Ngày trước khanh được ủy nhiệm dẹp yên các cõi,
nhưng lại không có ý tiến xuống Giang Hoài, lại đem các quân Kí Ninh, Chân Định,
tự hạ lệnh bắt vượt sông [Hoàng Hà], thẳng đánh Từ, Nghi, [Từ, Nghi] yên rồi, quay
sang đi bình Tề, Lỗ, tội ấy càng nặng, đáng ra khanh phải nghe mệnh mà quay về đất
Nhữ. Vệ Huy, Chương Đức, Thuận Đức đều là thành trì của ta, khanh không chịu ở
dưới Ma Cai, mà lại dung túng cho quân lính xâm bạo. Nay các quân Tấn Ninh, ta
mệnh Quan Bảo tổng thống lĩnh, bày kế sách đối phó, bình định Sơn Đông, để các
tướng soái đều yên lòng nghe theo”.
Đới đao xá nhân nhà
Minh là Chu Tông dâng thư lên hỏi ý kiến Thái tử [Minh], vua Minh khen ngợi, nhận
lấy. Trong thư có trình bày việc xin Trung thư tỉnh, Đô đốc phủ phỏng theo chế
độ nhà Nguyên, dùng Thái tử làm Trung thư lệnh, vua Minh thấy phép ấy không
đáng làm khuôn mẫu, lệnh cho Chiêm Đồng khảo sát quan chế của Đông cung các đời,
tuyển chọn các bậc công huân lão thành có đức độ, cùng với tiến cử thêm mới người
hiền, để kiêm lĩnh các chức quan của Đông cung. Lấy Lý Thiện Trường kiêm chức
Thái tử Thiếu sư, Từ Đạt kiêm chức Thái tử Thiếu phó, Thường Ngộ Xuân kiêm chức
Thái tử Thiếu bảo. Các chức vụ như Chiêm sự, Tả Hữu soái phủ, Dụ đức, Tán thiện,
Tân khách, đều dùng triều thần kiêm lĩnh. [Vua Minh] xuống dụ nói: “Trẫm đối
với Đông cung, không thiết lập phủ liêu mới mà dùng các khanh kiêm lĩnh [việc
phò tá Thái tử], là bởi vì việc binh chưa ngưng, trẫm nếu có việc gì ở ngoài, ắt
Thái tử phải giám quốc, nếu lập phủ liêu, các khanh ở trong, việc đều phải tâu lên
để Thái tử biết, hoặc quyết định ban ra không rõ ràng, khi ấy các khanh ý kiến
bất đồng, ắt không chịu để phủ liêu chỉ đạo, dễ sinh sự hiềm khích. Sở dĩ lập
riêng tân khách, báo cho các quan người nào có đức, muốn phụ giúp để Thái tử phẩm
hạnh nên người, lại chọn lấy danh nho, trao cho chức vụ, đều là vì lẽ ấy. Tích
xưa Chu công dạy Thành vương gạn hỏi việc binh, Thiệu công dạy Khang vương phô
bày sáu quân, là đương lúc yên ổn mà vẫn nghĩ đến lúc nguy cấp, không quên chuyện
võ bị vậy. Vua chúa nối đời, sống trong cảnh giàu sang, gần thói an nhàn, không
hiểu việc quân sự, một khi khẩn cấp, không biết lo liệu như nào, lời của hai
công (tức là Chu công và Thiệu công), đều có thể thấy mà nhận biết được”.
Ngày Giáp Thân, nhà
Minh sai sứ đi hạch sát tình hình ruộng đất ở Chiết Tây, định chế độ vệ sở
trong thiên hạ.
Ngày Nhâm Thìn, Hồ
Đình Thụy nhà Minh chiếm Kiến Ninh.
Thang Hòa tiến công
Diên Bình, Trần Hữu Định mưu tính với bọn thuộc hạ: “Quân địch cường nhuệ,
khó mà đọ khí thế được, không bằng trì hoãn lâu dài mà vây khốn chúng”. Các
tướng [của Hữu Định] xin ra đánh, [Hữu Định] không cho. Ngày càng có nhiều người
xin. Hữu Định nghi bộ thuộc có kẻ phản bội, bèn giết quan Viện phán họ Tiêu,
quân sĩ nhiều người ra hàng. Chỗ chứa binh khí bị nạn, trong thành có tiếng
pháo nổ rung chuyển mặt đất, quân Minh biết là có biến, bèn gấp rút công thành,
Hữu Định hò hét bộ thuộc, quyết tâm nói rằng: “Việc lớn đã hỏng, ta nhất định
chết để báo quốc, các quân hãy nỗ lực [cùng ta]!” Liền quay về sảnh đường,
mặc áo đội mũ hướng về phía bắc lạy rồi ngẩng đầu uống thuốc độc chết. Bộ thuộc
của Hữu Định tranh nhau mở cửa thành dẫn quân Minh vào, đi tìm thì thấy Hữu Định
còn chưa chết, bèn mang ra khỏi cửa thủy môn ở phía đông, tình cờ trời nổi mưa
gió sấm sét, Hữu Định tỉnh lại, [Thang Hòa] bèn giải về Kiến Khang. Vua Minh gặp,
hỏi vặn, Hữu Định dữ dội mà đáp: “Chết rồi, còn nói làm gì nữa!” Cuối
cùng đem hắn và con là Hải giết. Hữu Định chết rồi, Hưng Hóa, Tuyền Châu đều
hàng, Đạt lỗ cát tề ở lộ Chương Châu là Địch Lý Mật Thực dùng bội đao tự đâm cổ
chết.
Tháng ấy, [nhà Nguyên]
mệnh Tả thừa Tôn Cảnh Ích làm [Trung thư] phân tỉnh Thái Nguyên, Quan Bảo bấy
giờ cầm quân phòng thủ, thấy Khố Khố Đặc Mục Nhĩ thế yếu, ý muốn diệt trừ, Khố
Khố lập tức sai quân chiếm lấy Thái Nguyên, giết quan lại của triều đình.
Tháng hai, ngày mùng một
Nhâm Dần, [vua] xuống chiếu đoạt bỏ chức tước và thực ấp của Khố Khố Đặc Mục
Nhĩ, mệnh bọn Đồ Lỗ, Lý Tư Tề thảo phạt, tướng sĩ quan lại dưới quyền ai thuận
theo đều miễn tội, duy chỉ có Tôn Trứ, Triệu Hằng tội không thể xá. Thái tử lại
mệnh Quan Bảo tụ hội các quân để đi thảo phạt [Khố Khố].
Nhà Minh định điển lễ
tế giao, tế xã tắc và tông miếu, đối với lễ tế trời đất: tế Hạo thiên Thượng đế
vào tiết đông chí thì làm ở viên khâu, tế Hoàng địa kì vào tiết hạ chí thì làm ở
phương khâu; với tông miếu, tế vào ngày đầu mỗi tháng cùng với thêm một lần vào
cuối năm là năm lần; với xã tắc, tế hai lần vào ngày mùng năm tháng thứ hai mùa
xuân, mùa thu. Hằng năm [Hoàng đế] phải tự mình thực hiện các lễ ấy, lấy làm
thường lệ.
Ngày Quý Mão, Võ khố
[của nhà Nguyên] gặp nạn.
Nhà Minh lấy Bình
chương Liệu Vĩnh Trung làm Chinh nam Tướng quân, Tham chính Chu Lượng Tổ làm
phó, thuận theo đường biển tới thu lấy Quảng Đông.
Ngày Đinh Mùi, nhà Minh
cúng tế Tiên sư Khổng Tử ở Quốc học [viện], lại sai sứ tới Khúc Phụ (43) cúng
tế.
Ngày Mậu Thân, vua
Minh thân tế các thần Đại xã, Đại tắc.
Ngày Nhâm Tý, nhà Minh
định áo mũ theo thể chế nhà Đường.
Ngày Quý Sửu, Thường
Ngộ Xuân nhà Minh chiếm Đông Xương, tướng trấn thủ ở đó là Thân Vinh, Vương Phụ
Nguyên chết. Ngộ Xuân bèn hội quân với Từ Đạt ở Tế Nam, chém bọn phản quân ở Lạc
An, rồi dẫn đại quân quay về Tế Ninh, đem binh thuyền ngược sông, vào chiếm đất
Hà Nam.
Ngày Giáp Dần, Bình
chương nhà Minh là Dương Cảnh dẫn quân chiếm Bảo Khánh.
Ngày Bính Thìn, Khố Khố
Đặc Mục Nhĩ từ Trạch Châu rút quân về giữ Tấn Ninh, Quan Bảo phải dựa vào hai
châu Trạch, Lộ, hợp với quân của Ma Cai.
Ngày Bính Dần, quân
Minh đánh Lệ Châu.
Tháng ba, ngày Nhâm
Thân, Tả thừa nhà Minh là Chu Đức Hưng chiếm Toàn Châu.
Ngày Canh Dần, có sao
chổi mọc ở phía tây bắc.
Ngày Bính Thân, Chinh
tây Tướng quân nhà Minh là Đặng Dũ chiếm Nam Dương, ngày Kỷ Hợi, bọn Từ Đạt chiếm
được Biện Lương, tướng trấn thủ là Lý Khắc Di bỏ chạy, bọn Tả Quân Bật, Trúc
Xương đều ra hàng.
Lý Tư Tề, Trương Lương
Bật nghe tin quân Minh càng ngày càng vây bức, liền đem quân lui chạy. Quân
doanh của Lương Bật bị cháy, Tư Tề dời quân đến Hồ Lô Than, điều bộ thuộc là bọn
Trương Đức Liễm giữ Đồng Quan. Tư Tề, Lương Bật đều sai sứ đến chỗ Khố Khố Đặc
Mục Nhĩ, báo việc xuất quân lúc trước vốn không phải bản ý của họ (44).
Liệu Vĩnh Trung nhà Minh dẫn binh thuyền xuất phát từ Phúc Châu, trước viết thư chiêu dụ Quảng Đông hành tỉnh Tả thừa [nhà Nguyên] là Hà Chân nhanh chóng ra hàng, rồi theo đường biển tới Triều Châu. Mùa hạ tháng tư, ngày mùng một Tân Sửu, [Hà] Chân sai Đô sự Lưu Khắc Tá đến trước cửa quân, đem sổ sách hộ khẩu các quận huyện và dâng biểu lên xin hàng. Vĩnh Trung báo về, vua Minh hạ chiếu khen Chân, nói rằng: “Trẫm thấy hào kiệt đời xưa, giữ gìn cương thổ, để yên dân chúng, đối đãi có đức, giống như Đậu Dung, Lý Tích (45) cầm quân chiếm cứ nơi hiểm yếu, trở thành quần hùng một góc, nhưng gặp bậc chân chúa, lại hướng về mà quy thuận, danh thần Hán, Đường như vậy, ngày nay chưa được trông thấy, lòng trẫm đang rất mong mỏi! [Hà] Chân ngươi cai trị dân chúng mấy quận, mà không dùng đến một binh tốt, không phí đến một mũi tên, giữ gìn cương thổ về hàng, so với Đậu, Lý cũng có kém gì!” Vĩnh Trung đến Đông Hoản, Chân dẫn thuộc quan ra ngoài thành trăm dặm để nghênh đón úy lạo, rồi phụng chiếu vào chầu, [Vĩnh Trung] tiến cử Chân làm Giang Tây hành tỉnh Tham tri chính sự. Chân đã hàng rồi, Chỉ huy [sứ] nhà Minh là Lục Trọng Hanh đem quân hạ các lộ Liên Châu, Triệu Khánh. Quảng Đông đều bình định.
Ngày Bính Ngọ, sương rơi
dày tới mức làm hư hại đậu đỗ ngoài đồng.
Ngày Đinh Mùi, nhà
Minh bắt đầu tế hợp (46) ở Thái miếu, miễn thuế ruộng ba năm cho Sơn
Đông.
Ngày Mậu Thân, bọn Từ
Đạt, Thường Ngộ Xuân nhà Minh từ ải Hổ Lao quan vào Lạc Dương, Thác Âm Đặc Mục
Nhĩ đem năm vạn quân bày trận ở phía bắc sông Lạc Thủy, Ngộ Xuân một mình cưỡi
ngựa đột kích, bị hơn hai mươi kỵ binh tinh nhuệ cầm giáo đâm, Ngộ Xuân dùng
cung tên bắn chết tiên phong địch, hô lớn truyền khắp cả quân, chỉ huy dũng sĩ cùng nhau nhập trận, Thác Âm Đặc Mục Nhĩ đại bại. Lương vương [nhà Nguyên] là A Lý
Duyện dâng Hà Nam đầu hàng.
Ngày Kỷ Dậu, sao chổi
trên trời biến mất.
Ngày Đinh Tỵ, Dương Cảnh
nhà Minh thu được Vĩnh Châu.
Ngày Giáp Tý, vua Minh
đến Biện Lương.
Từ Đạt nhà Minh định
xong các châu Tung, Thiểm, Trần, Nhữ, sĩ tốt không bị tổn thất, sai Đô đốc đồng tri
Phùng Thắng đột kích vào Đồng Quan. Lý Tư Tề bỏ lại lương thực, khí giới vội bỏ
chạy về Phượng Tường, Trương Lương Bật chạy về Phụ Thành. Tháng năm, đại quân
nhà Minh vào Đồng Quan, phía tây tiến đến Hoa Châu.
Liệu Vĩnh Trung nhà
Minh tiến chiếm Quảng Tây, tới Ngô Châu, Đạt lỗ cát tề ở đó là Bái Châu xin
hàng. Kế đến đánh hạ Tầm Châu, Liễu Châu, sai Chu Lượng Tổ hội quân với Dương Cảnh
thu lấy các châu quận còn chưa hạ.
Ngày Tân Mão, nhà Minh
đổi lộ Biện Lương thành phủ Khai Phong.
[Vua Minh] triệu Từ Đạt
đến [yết kiến ở] hành tại. Tháng sáu, ngày mùng một Canh Tý, Đạt vào yết kiến,
vua Minh bày rượu thăm hỏi, lại cùng trù tính việc bắc phạt. Đạt nói rằng: “Đại
quân bình định đất Tề, Lỗ, quét sạch đất Hà, Lạc, Khố Khố Đặc Mục Nhĩ phải lùi
lại quan sát, Đồng Quan đã lấy, Lý Tư Tề phải chật vật chạy về phía tây, thanh
thế viện binh nhà Nguyên đã bị cắt đứt. Nay ta thừa thắng đánh thẳng vào kinh
đô nhà Nguyên, có thể không chiến mà thắng vậy”. Vua Minh nói: “Tốt!” Đạt lại
dâng lời hỏi rằng: “Kinh đô nhà Nguyên đã lấy được, ắt vua Nguyên sẽ chạy về phương
bắc, có cần truy đuổi đến cùng chăng?” Vua Minh nói: “Khí vận có thịnh có
suy, nay vận nhà Nguyên đã suy rồi, không cần thiết phải tận lực dùng binh làm
gì. Sau khi họ ra khỏi biên tái, cần phải cố thủ để phòng khả năng họ quay lại
xâm lấn”.
Huyện Từ Câu có địa chấn.
Ngày Giáp Dần, có sét
đánh trúng vào chùa Đại Thánh Thọ Vạn An, khiến lửa tự phát ra thiêu hủy cả
chùa.
Ngày Nhâm Tuất, ở Lâm
Châu, Bảo Đức Châu có địa chấn, năm ngày liền vẫn không hết.
Đại quân nhà Minh đánh
Tĩnh Giang, lâu ngày chưa hạ được, Dương Cảnh bảo các tướng rằng: “Cứ dựa
vào ý ta, phá vỡ đê mà tháo nước ở con hào phía tây thành, ắt sẽ phá được”.
Liền sai Chỉ huy [sứ] Khâu Quảng đánh vào chỗ cửa đê, giết quân canh giữ ở đó,
tháo hết nước trong hào, rồi lấy đất ở đê đổ năm lần dưới chân thành. Trong
thành do cố thủ lâu ngày, đến nay đánh gấp, rốt cục hạ được. Trước đấy đã sai
Tham chính Trương Bân đánh ải phía nam. Bởi vì tướng giữ thành giận dữ, mắng
nhiếc dân chúng, có ý muốn tàn sát, nên khi [Dương] Cảnh vào thành, lập lệnh cấm
chỉ việc ấy. Cảnh lại dời quân đi đánh Bân Châu, hàng phục được thổ quan Lưỡng
Giang là bọn Hoàng Anh, Sầm Bá Nhan; Liệu Vĩnh Trung lại thu lấy Nam Ninh, Tượng
Châu. Quảng Tây đều được bình định.
Mùa thu, tháng bảy,
ngày Quý Dậu, trong kinh thành xuất hiện khí đỏ đầy khắp không trung, như lửa rọi
người. Ngày Ất Hợi, trong kinh thành lại nổi khí màu đen, trong vòng trăm bước
không thể nhìn thấy người.
Ngày Tân Mão, vua Minh
từ Biện Lương xuất phát [về Kiến Khang], dụ bọn Từ Đạt rằng: “Xưa tổ tông của
nhà Nguyên có đức độ cảm động tới trời, bao trùm khắp thiên hạ (47).
Đến đời con cháu, chẳng quan tâm đến dân chúng, nên bị trời ép phải bỏ cơ nghiệp.
Vua dẫu có tội, nhưng dân thì cớ gì lại mang vạ? Xem những đời trước vào lúc
thay triều đổi đại, giết chóc gây oán, ngược đãi sinh dân mà trái với lẽ trời,
trẫm thật không nỡ như thế. Các tướng một khi chiếm được thành trì, chớ cớ cướp
bóc, chớ có hủy hoại đốt phá, để chợ búa hàng quán mua bán không ảnh hưởng, dân
chúng yên ổn sinh sống. Tông thích nhà Nguyên, đều phải thiện đãi. Như vậy mới
có thể trên ứng mệnh trời mà cho trọn cái chí phạt tội cứu dân của trẫm vậy”.
Ngày Mậu Thân, [vua
Minh] mệnh Phùng Thắng làm Hữu phó tướng quân, lưu thủ Khai Phong.
Lý Tư Tề mở đại hội
các tướng [nhà Nguyên] ở Phượng Tường.
Bấy giờ Tư Tề thống
lĩnh quân đội các địa phương Quan, Thiểm, Tần, Lũng, phía tây tới Thổ Phồn,
phía đông tới Thương, Lạc, nam tới Trường Giang, bắc tới Hoàn, Khánh nắm hơn mười
vạn binh giáp tinh nhuệ, duy chỉ có việc cùng với Khố Khố Đặc Mục Nhĩ [hiềm thù
mà] đánh lẫn nhau, nên lúc đại quân nhà Minh càng ngày vây bức, Đại Đô thế đã
nguy, vẫn ngồi nhìn mà không cứu.
Ma Cai, Quan Bảo đánh
Khố Khố Đặc Mục Nhĩ ở Bình Dương.
Bấy giờ Khố Khố Đặc Mục
Nhĩ dần dần chán nản, khí thế sa sút, nên bọn Ma Cai, Quan Bảo càng khuếch
trương, nhiều lần khiêu chiến, Khố Khố không đáp, hoặc lập tức cho quân rút
lui. Tháng nhuận ngày mùng một Kỷ Hợi, Khố Khố được tin gián điệp báo về nói Ma
Cai đang chia quân chiếm các quận huyện, đêm đó lập tức xuất quân xâm nhập
doanh trại [của Ma Cai] mà đánh úp, Ma Cai, Quan Bảo đại bại, đều bị bắt giữ.
Khố Khố Đặc Mục Nhĩ dâng sớ tự biện bạch, [vua] hạ chiếu nói rằng: “Ma Cai,
Quan Bảo dùng gián điệp để li gián sĩ tốt, phải trị theo quân pháp”. Ma
Cai, Quan Bảo rốt cục đều bị giết.
Đại tướng quân nhà
Minh là Từ Đạt, Phó tướng quân là Thường Ngộ Xuân hội quân ở Hà Âm, sai các tì
tướng chia đường vượt sông Hoàng Hà, bình định đất Hà Bắc. Ngày Tân Sửu, chiếm
Vệ Huy; Ngày Quý Mão, chiếm Chương Đức; Ngày Đinh Mùi, chiếm Quảng Bình. Đại
quân tới Lâm Thanh, [Từ Đạt] sai Tham chính Phó Hữu Đức mở đường cho bộ binh, kỵ
binh lưu thông, Chỉ huy [sứ] Cố Thì nạo vét sông ngòi, rồi tiến lên phía bắc.
Ngày Đinh Tỵ, [vua] xuống
chiếu bãi bỏ Phủ quân viện, giết bọn Tri viện sự là Ba Diên Đặc Mục Nhĩ, rồi mệnh
Khố Khố Đặc Mục Nhĩ vẫn giữ tước Hà Nam vương, chức Thái phó Trung thư Tả thừa
tướng như cũ, phục chức cho bọn Tôn Trứ, Triệu Hằng, đem quân thảo phạt Hà Nam,
Hà Bắc, Y Tô dẫn quân về Sơn Đông, Đồ Lỗ dẫn quân về Đồng Quan, Lý Tư Tề dẫn
quân về ải Thất Bàn, đất Kim, đất Thương, ý đồ khôi phục Biện [Lương], Lạc
[Dương]. Hoàng thái tử tổng lĩnh tất cả binh mã trong thiên hạ, nắm quyền phán
quyết mọi sự vụ.
Ngày Nhâm Tuất, có cầu
vồng trắng chiếu vào mặt trời.
Ngày Quý Hợi, [nhà
Nguyên] bãi bỏ các chức quan thuộc Nội phủ.
Thường Ngộ Xuân nhà
Minh chiếm được Đức Châu, cùng với Từ Đạt hợp quân chiếm Trường Lư, ép thẳng
vào cửa biển Đại Cô, dùng cầu phao để vượt, thủy bộ đều tiến, Y Tô phải nhìn hướng
gió mà chạy.
Ngày Giáp Tý, Khố Khố
Đặc Mục Nhĩ từ Tấn Ninh rút về giữ Kí Ninh.
Tri Khu mật viện sự Bố
Diên Đặc Mục Nhĩ giao chiến với đại quân nhà Minh ở Hà Tây, bị thua chết, quân
Minh bèn bức đến Thông Châu.
[Vua] xuống chiếu cho
Thái thường Lễ nghi Viện sứ là bọn A Lỗ Hồn, cúng tế bảy thần chủ ở Thái miếu,
xin cùng Hoàng thái tử rút chạy lên phía bắc. A Lỗ Hồn cùng với đồng sự là bọn
Trần Tổ Nhân, Vương Tốn Chí nói: “Thiên tử gặp việc lớn, xuất hành nên mang
theo thần chủ của liệt thánh, nay chỉ cúng tế xin đi cùng Hoàng thái tử, thế là
trái lễ”. Bèn lệnh quay về túc trực ở Thái miếu để đợi.
Ngày Ất Sửu, lại có cầu
vồng trắng chiếu vào mặt trời, mới bỏ việc khôi phục Nội phủ.
[Vua] xuống chiếu
phong Hoài vương Đặc Mục Nhĩ Bố Cáp làm Giám quốc, Khánh Thông làm Trung thư Tả
thừa tướng, cùng giữ kinh thành.
Ngày Bính Dần, vua ngự
điện Thanh Thủ, gọi tam cung hậu phi, Hoàng thái tử, Thái tử phi, cùng bàn việc
chạy lên phía bắc tránh giặc. Tả thừa tướng Thực Lặc Môn cùng với bọn Tri Khu mật
viện sự Hách Sắc, hoạn quan là Triệu Ba Diên Bố Cáp dâng lời can, nói không thể
bỏ đi, [vua] không nghe. Ba Diên Bố Cáp khóc lớn rằng: “Thiên hạ này là
thiên hạ của Thế Tổ để lại, bệ hạ lẽ ra phải chết mà giữ lấy, sao lại bỏ đi như
thế? Bọn thần nguyện dẫn quân dân cùng các tập trại xuất thành cự chiến, mong bệ
hạ cố thủ kinh thành”. Rốt cục [vua] vẫn không nghe. Đến nửa đêm, [vua] mở
cửa Kiện Đức chạy về phía bắc.
---------------------------
Chú thích:
(1) Nguyên sử chép là Mạch Cao.(2) Nguyên văn: 獸吻 (thú vẫn), là một dạng đồ án trang trí nằm trên hai đầu phần mái của các công trình kiến trúc như cung điện, đền miếu, vọng lâu ở các thành trì, thường làm theo hình các con vật trong thần thoại.
(3) Nhà Nguyên ở các sở bộ đặt các chức phụ giúp cho trưởng quan như Kinh lịch, Tri sự, Chủ sự, gọi chung là Thủ lĩnh quan.
(4) Ý nói Thái tử cầm quân xuất chinh.
(5) Viên khâu: đàn hình tròn dùng để tế trời; Phương khâu: đàn hình vuông dùng để tế đất, theo quan niệm “trời tròn đất vuông”. Cùng với đàn xã tắc là những công trình kiến trúc mang tính biểu trưng cho tính chính danh của một quốc gia theo luân lý Nho giáo. Ở đây Ngô vương sai lập đàn thờ trời đất và thần xã tắc, tức là đã có ý muốn xưng đế, làm chủ thiên hạ.
(6) Vương Tín là con trai Vương Tuyên.
(7) Hạng Vũ dẫn quân chư hầu vào Hàm Dương giết vua Tần là Doanh Tử Anh và diệt tông tộc nhà Tần, đốt cung thất rồi tôn Sở Hoài vương lên làm Nghĩa đế, phân phong cho các chư hầu.
(8) Trận Mục Dã, Chu Vũ vương phá quân nhà Thương, đế Tân (tức Trụ vương) tự sát, nhà Thương mất, Vũ vương mở đầu nhà Chu, phân phong cho các chư hầu.
(9) Bốn đời trở lên trên tính từ mình, bao gồm: khảo (cha – cha đã mất gọi là khảo, mẹ đã mất gọi là tỉ), tổ (ông nội), tằng tổ (cụ nội), cao tổ (kỵ nội).
(10) Em của Trương Sĩ Thành.
(11) Em của Phương Quốc Trân.
(12) Chỗ này nguyên văn khuyết mất một chữ.
(13) Nguyên văn: 尚左 (thượng tả). Sách Lão tử, chương thứ ba mươi mốt có nói: “Kẻ tầm thường quý việc binh, khí độ chẳng lành, chọn lựa hay bài bác, vốn không phải là đạo. Quân tử khi trị nước quý ở bên trái, dùng binh thì quý ở bên phải. Việc binh khí độ chẳng lành, đó không phải là khí độ của người quân tử, chỉ bất đắc dĩ mới dùng đến, mà cần lấy sự điềm đạm lên trên hết. Có thắng lợi cũng chẳng tốt, vì cái tốt của nó chẳng qua là thích thú việc giết người mà thôi. Kẻ tầm thường thích việc giết người, đều không bao giờ có được thiên hạ cả. Việc lành thượng tôn bên trái, việc hung thượng tôn bên phải”.
(14) Nguyên văn: 剛亦不吐,柔亦不茹 (cương diệc bất thổ, nhu diệc bất nhự), ý nói gặp kẻ mạnh thì không được khiếp sợ, gặp người yếu thì không được bức hiếp.
(15) Nguyên văn: 條格 (điều cách), là một hạng mục điều luật trong bộ pháp điển do nhà Nguyên ban hành lúc bấy giờ. Năm thứ tư niên hiệu Chí Nguyên (1338), Nguyên Thuận đế tiến hành biên soạn bộ luật mới dựa trên bộ “Đại Nguyên thông chế” có từ thời Nguyên Nhân Tông trước đó, tới năm Chí Chính thứ năm (1345) thì hoàn thành, đặt tên là “Chí Chính điều cách”, bỏ không dùng “Đại Nguyên thông chế” nữa. Cả hai bộ pháp điển này đều có ba bộ phận chính: chế chiếu, điều cách và đoạn lệ.
(16) Đài: Ngự sử đài; Gián: gián quan, các chức vụ có quyền can gián nhà vua, giám sát hạch tội quan viên. Chỉ chung những cơ quan làm nhiệm vụ thanh tra, kiểm sát, công tố của nhà nước.
(17) Trương Lương Bật có tên tự là Tư Đạo.
(18) Ý câu này lấy từ thành ngữ phá trúc kiến linh (破竹建瓴), phá trúc tức là chẻ tre, kiến linh tức là bình nước từ trên cao đổ ụp xuống, ví tình thế thuận lợi, không gì ngăn trở được.
(19) Vân Trung: tên đất nay thuộc khu vực xung quanh Đại Đồng tỉnh Sơn Tây và một phần Nội Mông.
(20) Cửu nguyên: còn gọi là Cửu châu, phiếm chỉ khu vực đất đai sinh sống của người Hán nói chung.
(21) Lũng: tương ứng với tỉnh Cam Túc ngày nay.
(22) Ngự quân: quân đội của nhà vua, đồng nghĩa với từ vương sư (王師).
(23) Ngô vương nhận ra Từ Đạt và Thường Ngộ Xuân không hòa thuận với nhau, nêu lên trước mặt tướng sĩ để khuyên răn hai người.
(24) Ngày xưa tế trời đất dùng tam sinh (trâu bò, dê, lợn) gọi là cỗ thái lao, chỉ dùng nhị sinh là dê và lợn thì gọi là cỗ thiếu lao.
(25) Tề Lỗ: Sơn Đông; Hà Lạc: khu vực xung quanh Lạc Dương, Hà Nam; Yên Kế: khu vực xung quanh Bắc Kinh ngày nay, đất cũ nước Yên; Tần: Thiểm Tây; Tấn: Sơn Tây.
(26) Năm Chí Chính thứ mười một nhà Nguyên (1351), Từ Thọ Huy, Trâu Phổ Thắng, Bành Oánh Ngọc khởi binh chống triều đình Nguyên ở Kỳ Châu (nay thuộc phía nam Kỳ Xuân tỉnh Hồ Bắc), hưởng ứng phong trào Hồng Cân quân lúc bấy giờ, sau khi công chiếm Kỳ Thủy (nay thuộc Hy Thủy tỉnh Hồ Bắc), Từ Thọ Huy thiết lập chính quyền, quốc hiệu là Tống, sử gọi là Từ Tống, đặt niên hiệu Trị Bình. Tới năm 1360 (Nguyên Chí Chính năm thứ hai mươi), Từ Thọ Huy bị tướng cũ của mình là Trần Hữu Lượng sát hại, Từ Tống mất. Bộ hạ cũ của Từ Tống là Minh Ngọc Trân dẫn quân đi về phía tây, chiếm lĩnh đất Thục, tới năm năm 1363 (Nguyên Chí Chính năm thứ hai mươi ba) thì xưng đế, đặt quốc hiệu là Đại Hạ, sử gọi là chính quyền Minh Hạ, đặt niên hiệu là Thiên Thống. Năm 1366 (Nguyên Chí Chính năm thứ hai mươi sáu), Ngọc Trân chết, con là Minh Thăng lên nối.
(27) Nguyên văn: 慶無(Khánh vô / mô?), trong văn cảnh ở đây là Khánh Nguyên thì đúng hơn vì quân Thang Hòa vừa hạ xong thành Khánh Nguyên.
(28) Nguyên văn: 梁鎮撫, không rõ là tên người Lương Trấn Phủ hay chỉ người giữ chức Trấn phủ họ Lương, nay thiên về cách giải thích thứ hai có lẽ hợp lý hơn.
(29) Tinh Kỷ là một bộ phận của “Thập nhị thứ”. Theo quan niệm của Trung Quốc cổ đại, trên hoàng đạo phân từ đông sang tây thành “Thập nhị chi” hay mười hai con giáp, thì trên bầu trời sao cũng phản ánh như vậy, chia thành “Thập nhị thứ” mà Tinh Kỷ là một trong số đó. Trong Nhị thập bát tú, sao Ngưu và sao Đẩu là những sao được xem là chủ về việc quân sự, thuộc về Tinh Kỷ. Tấn thư – Thiên văn chí có nói Thập nhị thứ trên trời ứng với mười hai châu, mà Tinh Kỷ ứng với Dương Châu hay nước Ngô thời cổ. Vì vậy mà khi xem bói, quan Thái sử có nhận xét nước Ngô đang thế hưng mạnh, là lúc hợp cho việc dùng binh.
(30) Lỗ tức là Sơn Đông.
(31) Nguyên văn: 二姓 (nhị tính), tức là hai họ. Đời xưa mỗi triều đại lên nắm quyền, họ của nhà vua gọi là quốc tính, cũng dùng để đại diện cho chính quyền của triều đại đó, vì vậy ta hiểu theo nghĩa “hai vua”, “hai chủ”.
(32) Biện: Biện Lương, kinh đô cũ nhà Tống, nay là thành phố Khai Phong, tỉnh Hà Nam.
(33) Nam quân: quân phương Nam, chỉ quân nước Ngô.
(34) Nguyên văn: 改弦更張 (cải huyền canh trương), ví việc cải cách chính sự giống như đàn phải căng dây mới gảy được. Xuất phát từ Hán thư – Đổng Trọng Thư truyện: 琴瑟不調, 甚者必解而更張之, 乃可鼓也 (Đàn không hợp điệu, đến nỗi phải tháo ra thay dây vào, mới gảy được).
(35) Nay dựa theo Minh sử - quyển 93: Hình pháp 1: 十二月,書成,凡為令一百四十五條,律二百八十五條 (Tháng mười hai, sách làm xong, tổng cộng phần lệnh có 145 điều, phần luật có 285 điều).
(36) Cũng gọi là Đạt lỗ hoa xích (達鲁花赤), tiếng Mông Cổ có nghĩa là “người nắm giữ ấn tín”. Dưới thời Nguyên, ở tất cả đơn vị hành chính các cấp, từ Hành tỉnh cho đến lộ, phủ, châu, huyện, bên cạnh các chức trưởng quan vốn có còn lập thêm một viên Đạt lỗ hoa xích, phẩm trật tương đồng song quyền hạn vẫn ở trên các chức trưởng quan địa phương.
(37) Thông chế: tức là bộ “Đại Nguyên thông chế”; Điều cách: tức là bộ “Chí Chính điều cách”. Xem thêm Chú thích 13.
(38) Khoa sai: Chỉ việc chính quyền ra lệnh trưng thu tài sản, sai phái lao dịch đối với dân chúng.
(39) Thượng đế: Trời; Hoàng kỳ: Thần đất. Cũng gọi là Hoàng thiên, Hậu thổ.
(40) Nguyên văn: 臺(đài). Dựa theo văn cảnh thì có lẽ đây là cái tháp lớn có bánh xe đi di chuyển áp sát tường thành để quân lính trong tháp đổ bộ lên mặt thành mà tấn công.
(41) Các thành trì phía nam Trung Quốc thường được xây dựng ngang dòng chảy của sông, nên phải đặt cửa ở chỗ sông đi qua, gọi là thủy môn.
(42) An Lộc Sơn làm phản nhà Đường, đánh vào kinh đô Trường An, Đường Huyền Tông phải bỏ Trường An mà chạy vào Tứ Xuyên.
(43) Nguyên văn: 闕裡 (khuyết lí), chỉ chỗ ở và nơi dạy học khi còn sống của Khổng Tử tại Khúc Phụ, Sơn Đông. Về sau được vay mượn, dùng phiếm chỉ địa phương Khúc Phụ, hoặc Khổng miếu ở Khúc Phụ.
(44) Lý Tư Tề, Trương Lương Bật khi trước đều là thuộc hạ dưới trướng cha nuôi của Khố Khố Đặc Mục Nhĩ là Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ, được triều đình Nguyên dùng để đàn áp quân khởi nghĩa nông dân và các thế lực phản Nguyên khác lúc bấy giờ. Sau khi Sát Hãn chết, Khố Khố lên thay nắm quyền chỉ huy chung, nhưng bọn Tư Tề, Lương Bật không phục mới li khai, trở thành các quân phiệt độc lập.
(45) Đậu Dung chiếm cứ năm quận ở đất Hà Tây, sau về hàng Hán Quang Vũ đế, được giữ chức Tư đồ, liệt vào bậc công thần trung hưng nhà Hán; Lý Tích trước theo Lý Mật đã hàng nhà Đường một lần, bỏ sang hàng Đậu Kiến Đức, rồi lại về hàng nhà Đường, theo phò Đường Thái Tông dẹp loạn, sau được phong làm Anh quốc công, liệt vào 24 công thần được vẽ hình trong gác Lăng Yên.
(46) Lễ tế tổ tiên các đời, ba năm làm một lần ở Thái miếu gọi là hợp (祫).


Nhận xét
Đăng nhận xét