Văn bia ngự chế trùng tu miếu Đức Khổng tử ở Khúc Phụ năm 1693

Tấm bia "Đại Thanh hoàng đế ngự chế trùng tu Chí thánh Tiên sư Khổng tử miếu bi" ở Khổng miếu Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, có đề thời gian lập là năm Khang Hi thứ 32 (1693). Nguồn ảnh: https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Thirteen_Stele_Pavilions_-_north_row,_4th_from_the_east_-_P1050669.JPG


Trẫm xét thấy, đạo lớn trong trời đất mở đầu từ Nghiêu Thuấn, sáng rõ truyền tới các bậc thánh vương là [Hạ] Vũ, [Thương] Thang, Văn [vương], Vũ [vương nhà Chu], đều nối tiếp nhau truyền cái nghĩa "nguy vi tinh nhất" (1). Việc trị nước dùng lòng thành, mới nêu lên được pháp độ. Tới thời Đức Khổng tử tuy [đạo lớn] chưa được tôn sùng, nhưng nghĩa cao minh đã được xiển dương tán tụng, san định nơi lục kinh. (2) [Từ đó trở về sau], hậu thế đều noi theo phép tắc tiền nhân mà hợp thành lý luận nhất quán. Chính vì hướng về các bậc thánh hiền mà kế thừa học vấn, vì muôn đời mà sửa sang nhân tâm (3), nên đạo của các vua Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn vương, Vũ vương thực lớn lao xán lạn trong vũ trụ, sánh với trời đất vô cùng tận vậy. Quả đúng lắm thay. Tiên hiền nói từ khi con người sinh ra đến nay, chưa có ai sánh được bằng Đức Khổng tử (4). Trước vào năm Giáp Tí (5), trẫm tuần thú về tỉnh Đông (6), tự mình tới chốn Khuyết lí (7), vào nhà của thánh nhân, cung kính làm lễ cúng tế. Trông thấy xe, y phục, các đồ lễ nhạc cùng văn tự lưu lại, thực cảm thấy bồi hồi lưu luyến, không muốn rời đi vậy. Thánh miếu xưa kia trải qua nhiều năm, sơn đỏ phai màu, rường cột ngấm nước đã lâu. Thực khiến lòng trẫm không khỏi lo nghĩ. Nay đặc biệt xuất tiền từ quốc khố, truyền quan lại tới đôn đốc việc trùng tu, triệu thợ chuẩn bị vật liệu, sửa sang lại phần mái cho dày dặn. Việc bắt đầu từ mùa hạ năm Tân Mùi (8) qua đến mùa thu năm Nhâm Thân (9) thì xong. Hình thức đã đổi mới, sự chiêm bái cũng được trang nghiêm. Cái cao minh trong đạo của Đức Khổng tử, qua các đời cổ kim đã thành mô phạm. Trẫm luôn phát nguyện chí học tập, lúc nào cũng khắc ghi ôm ấp trong lòng. [Trẫm] thường nghiền ngẫm về nguồn gốc bản tính, đức độ của trời, người, sự trọng yếu của đạo tu tề trị bình, luôn lấy việc noi theo nối tiếp tiền nhân, để dẫn dắt dân chúng trăm họ. Bởi vì phàm việc tôn sùng xưng tụng, nếu không có lễ thịnh, không hết lòng thành, sao tỏ được ý kính ngưỡng đạo lớn. Huống chi đất đai xung quanh miếu đình là nơi cư ngụ của các bậc thánh nhân thần minh, nên hơn hẳn những nơi khác vậy. Nay cứ qua nhà tiền đường bày biện đồ tế xong, rồi vào gian phía sau để cử hành nghi lễ, làm thành lệ lâu dài thì lễ nhạc văn vật mới đầy đủ rực rỡ, ngõ hầu yên được thâm tâm trẫm vậy. Truyền lệnh đặc sai hoàng tử Dận Chỉ, phải cung kính thành ý mà cúng tế, rồi mới được bố cáo đã trùng tu xong. Để tất cả thần dân ta, chiêm ngưỡng công trình, bội phần tôn nghiêm. Như thế thì việc sùng đức nghĩa mới thịnh, luân thường mới được mài dũa, không phụ ý tôn sư trọng đạo của trẫm, há lại không tốt lành hay sao? Nhân đó mà khắc lên đá đẹp bài từ này:


Sách lân (10) tiên báo (11), Tố vương (12) ra đời.

Trên dựng phép tắc, dưới kế tục nhau, chuông ngọc kêu vang, khánh vàng đáp tiếng.

Mô phạm trải trăm đời, hun đúc thành muôn vẻ.

Đạo lớn đủ trung hòa, đức độ trùm trời đất.

Lập khuôn mẫu, truyền điển lệ, để sáng rõ đạo của tôn sư.

Tinh tú (13) xoay vần, trăm sông đổ biển.

[Trẫm] trước tuần Đông Lỗ (14), ra sông lên núi. (15)

Ni sơn (16) cao cao, bồi hồi tưởng nhớ. (17)

Kính cẩn bái yết, hết lòng phục khâm.

Thuần phong nối đời, phổ biến rộng khắp, ơn trạch giáo hóa, cao lớn thâm sâu.

Ánh sáng thánh đạo (18), hiện nơi điện tẩm.

Trên rường dưới hiên, thần linh yên định.

Đặc sai Đông quan (19), tiến hành đổi mới.

Mở rộng quy mô, cúng tế thành tâm.

Nơi thánh nhân ngự, đức soi vĩnh viễn.

Nghìn năm gìn giữ, bốn phương đều theo.


Chú thích:


1. Kinh Thư - thiên Đại Vũ mô: 人心惟危,道心惟微,惟精惟一,允執厥中 - Lòng người không yên thì đạo thế ắt suy, chỉ có dốc lòng chuyên chú, dốc sức thấu suốt mới thực là biết giữ đạo cân bằng.


2. Sáu bộ kinh điển của Nho gia, bao gồm Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu và Nhạc. Tới thời nhà Tần, Nhạc kinh bị thất truyền, vì vậy Lục kinh chỉ còn Ngũ kinh.


3. Xuất phát từ một bộ bốn câu danh ngôn là Hoành từ tứ cú của Trương Tải, một nhà nho theo trường phái Lý học vào đời Tống: 為天地立心,為生民立命,為往聖繼絕學,為萬世開太平 - Vì trời đất mà lập tâm, sinh dân mà lập mệnh, hướng về thánh hiền mà kế thừa học vấn, vì muôn đời mà mở nền thái bình.


4. Xuất phát từ thiên Công Tôn Sửu thượng trong sách Mạnh tử: Công Tôn Sửu là người nước Tề, học trò của Mạnh tử, hỏi rằng: Bá Di và Y Doãn liệu có ngang với Khổng tử được chăng? - Mạnh tử đáp: Không, từ khi con người sinh ra tới đến nay, chưa có ai sánh được với Khổng tử cả. Ông cũng dẫn lời của Tử Cống, cũng là học trò Khổng tử khi bàn về thầy mình: [Phu tử] xem lễ mà biết được chính sự, nghe nhạc mà thấy được đức độ. Dù có lui về trăm năm sau, nhìn lại vua chúa trăm năm trước cũng chẳng ai được thế. Từ khi con người sinh ra tới đến nay, chưa có ai sánh được với phu tử. Bá Di là con vua nước Cô Trúc, cùng với em là Thúc Tề chạy sang nước Chu, gặp lúc Vũ vương đánh vua Trụ nhà Thương, mới đến trước ngựa mà can nhưng không được, về sau hai người tuyệt thực trên núi. Y Doãn là ẩn sĩ, thủ lĩnh tộc Thương là Thang mến tài đón về tiến cử với vua nhà Hạ là Kiệt, Kiệt không dùng, Y Doãn quay về phò Thang sau diệt nhà Hạ mà lập nên nhà Thương.


5. Tức là năm 1684, năm thứ 23 niên hiệu Khang Hi.


6. Ý nói tỉnh Sơn Đông, nơi có Khổng miếu ở Khúc Phụ.


7. Khuyết lí 闕里, là nơi ở và dạy học của Khổng tử, về sau từ này dùng để phiểm chỉ Khổng miếu ở Khúc Phụ, hoặc Nho học nói chung.


8. Tức là năm 1691, năm thứ 30 niên hiệu Khang Hi.


9. Tức là năm 1692, năm thứ 31 niên hiệu Khang Hi.


10. Kỳ lân xuất hiện là dấu hiệu thánh nhân ra đời, vì vậy dùng chữ Lân thư để chỉ những kinh điển ghi chép lại lời Đức Khổng tử.


11. Nguyên văn: 啟瑞 khải thụy, nghĩa là mở điềm lành.


12. Chỉ Khổng tử. Đỗ Dự đời Tấn gọi Đức Khổng tử là Tố vương 素王 nghĩa là không có danh hiệu gì mà vượt hơn các bậc đế vương vậy.


13. Nguyên văn: 七曜 thất diệu, đời xưa gọi các thiên thể gọi là diệu. Mặt trời, mặt trăng và năm hành tinh Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là thất diệu, sau dùng để gọi bảy ngày trong một tuần.


14. Khúc Phụ nơi có Khổng miếu trước thuộc đất Lỗ vào thời Xuân Thu, nên gọi nguyên văn dùng chữ Đông Lỗ.


15. Ra sông: sông Hoàng Hà. Lên núi: núi Thái Sơn, đều nằm trong địa phận tỉnh Sơn Đông.


16. Nguyên văn: 尼山. Tức là núi Ni Khâu, xưa thân mẫu của Đức Khổng tử là bà Nhan thị cầu ở núi này mà sinh ra ngài.


17. Nguyên văn: 羹墙 canh tường. Sách Hậu Hán thư nói vua Nghiêu chết, vua Thuấn ngày đêm tưởng nhớ, đến nhìn bát canh, nhìn lên tường cũng thấy bóng dáng vua Nghiêu, nên sau từ này chỉ sự tưởng nhớ, truy niệm tới các bậc tiền nhân.


18. Nguyên văn: 洙泗 Chu Tứ. Xưa Đức Khổng tử dạy học gần sông Chu, sông Tứ, nên sau dùng chữ này phiếm chỉ Nho học.


19. Nguyên văn: 冬官. Sách Chu lễ nói đời Chu lập lục quan, dùng chữ Thiên, chữ Địa và bốn mùa để đặt tên. Mùa đông là mùa vạn vật nghỉ ngơi nên chức Đông quan là lo việc xây dựng chế tác. Sau này hậu thế dùng chữ Đông quan để chỉ bộ Công, một trong sáu bộ của triều đình quản lí việc xây dựng chế tác.


Nội dung được chuyển ngữ từ nguyên văn trong Khâm định tứ khố toàn thư - Hạnh Lỗ thịnh điển quyển nhất (欽定四庫全書 - 幸魯盛典卷一): https://zh.wikisource.org/zh-hans/%E5%B9%B8%E9%AD%AF%E7%9B%9B%E5%85%B8_(%E5%9B%9B%E5%BA%AB%E5%85%A8%E6%9B%B8%E6%9C%AC)/%E5%8D%B701. Vui lòng không tự sử dụng văn bản khi chưa có sự đồng ý của người dịch.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến