Chế độ Bát kỳ và chuyện hộ khẩu
Dạo gần đây bộ phim truyền hình Diên Hy công lược có vẻ đang nổi, tự nhiên lại có hứng đọc và dịch trở lại. Rõ ràng không phải ngẫu nhiên mà các bộ phim truyền hình có khai thác bối cảnh lịch sử về thời nhà Thanh lại thu hút khán giả và các nhà làm phim như vậy, chắc phải có lí do nào đó. Và xin mạo muội đoán rằng đó là vì nhà Thanh tồn tại trong giai đoạn lịch sử cận hiện đại (từ 1644 - 1912), việc nghiên cứu diễn ra thuận lợi hơn các triều đại trước nhờ nguồn tư liệu dồi dào: sách vở, thư tịch, hiện vật đời Thanh được bảo quản tương đối nguyên vẹn, do vậy việc tái hiện khung cảnh đó vào trong các tác phẩm điện ảnh cũng “dễ” hơn. Thêm nữa, nhà Thanh ra đời và tồn tại trong lúc xã hội phong kiến có những biểu hiện suy thoái, các giá trị đạo đức Khổng Mạnh lỗi thời mâu thuẫn, xung đột với khát vọng tự do trong cuộc sống con người mà cụ thể hơn là tình yêu, hôn nhân,...Mong muốn được vượt ra khỏi những khuôn khổ chật hẹp đã khiến cho chủ nghĩa cá nhân ngự trị và kéo theo đó là những cuộc tranh giành đấu đá. Đây là đề tài “không bao giờ cũ” đối với các nhà làm phim.
1.Vài nét về lịch sử của người Mãn Châu
Chúng ta đều biết nhà Thanh được thành lập bởi một dân tộc cư trú ở phía đông bắc Trung Quốc ngày nay, có tên là Mãn Châu. Sử liệu Trung Quốc có nhắc tới tộc người Túc Thận ( 肅愼 ) từng đem cung tên tới triều cống cho Đế Thuấn. Túc Thận và Tắc Chân ( 稷真 ) cũng được các sách Sơn Hải kinh, Ngụy chí dùng để chỉ người Mạt Hạt ( 靺鞨 ). Bắt đầu từ thế kỉ 10 ( cuối thời nhà Đường ), mới xuất hiện cái tên Nữ Chân ( 女真 ), nhà Đường dùng chữ này để gọi nước Bột Hải (1) . Sau khi Bột Hải sụp đổ, người Nữ Chân làm chư hầu cho nhà Liêu rồi lại triều cống cả cho nước Cao Ly ở phía nam. Tình trạng áp bức của nhà Liêu với các bộ lạc Nữ Chân gia tăng, đến năm 1114, thủ lĩnh Hoàn Nhan A Cốt Đả lập ra nhà Kim, diệt Liêu, sau đó Kim đánh nhà Tống ở phía nam, buộc Tống phải dời đô từ Biện Kinh ( Khai Phong ) về Lâm An ( Hàng Châu ). Nhà Kim tồn tại đến năm 1234 thì bị Mông Cổ diệt. Người Nữ Chân lúc này phân hóa thành hai nhóm: nhóm thứ nhất sinh sống ở Hoa Bắc sau khi chiến tranh Tống-Kim dần dần bị Hán hóa và nhóm thứ hai sinh sống ở khu vực đông bắc ít bị Hán hóa hơn. Họ chuyển sang tiếp nhận lối sống cũng như tên và ngôn ngữ Mông Cổ.
Năm 1368, nhà Minh diệt nhà Nguyên, vua Huệ Tông bỏ Đại Đô ( Bắc Kinh ngày nay ) đem theo triều đình chạy về thảo nguyên Mông Cổ. Quân Minh trong lúc truy quét các lực lượng tàn dư của nhà Nguyên, tiến hành chiêu an các bộ lạc Nữ Chân, bấy giờ là Oát Đóa Lý ( 斡朵里 ) và Hồ Lý Cải ( 胡里改 ), vốn đang là chư hầu của nhà Lý Triều Tiên ( Joseon ). Trước sức ép của nhà Minh, các thủ lĩnh Nữ Chân dần quay sang triều cống cho nhà Minh thay vì nhà Triều Tiên. Năm 1403, thủ lĩnh Hồ Lý Cải bộ A Cáp Xuất ( 阿哈出 ) được Minh Thành Tổ phong làm Kiến Châu vệ Chỉ huy sứ, ban tên Hán là Lý Thành Thiện ( 李誠善 ) và tiếp đến là Mạnh Đặc Mục ( 孟特穆 ) của Oát Đóa Lý bộ được phong làm Kiến Châu tả vệ Chỉ huy sứ. Nhà Minh chia Nữ Chân cả thảy 384 vệ, thuộc quyền quản lý của Nô Nhi Can Đô Chỉ huy sứ ty ( 奴兒干都指揮使司 ). Cơ quan hành chính này tồn tại đến năm 1435 thì phải bỏ phế vì triều đình Minh không đủ sức kiểm soát. Các bộ lạc Nữ Chân được chuyển sang Liêu Đông Đô Chỉ huy sứ ty ( 遼東都指揮使司 ), quản lý theo hình thức ki mi ( ràng buộc lỏng lẻo ) giống như vùng núi nước ta ở thời thuộc Đường vậy ( xem thêm Hành chính Việt Nam thời Bắc thuộc lần 3 ).
Người Nữ Chân (và Mãn Châu sau này) thường bị nhầm lẫn với các dân tộc du mục như Mông Cổ, Đột Quyết, Hồi Hột. Thực ra họ sống bằng nông nghiệp, trồng trọt cây hoa màu và chăn thả gia súc. Trong số Nữ Chân tam đại bộ cuối thời Minh, thì người Hải Tây Nữ Chân sống theo kiểu bán nông nghiệp, người Kiến Châu Nữ Chân và Mao Lân ( 毛憐 ) Nữ Chân sống định cư như người Hán, còn người Dã Nhân Nữ Chân sống bằng săn bắn và đánh cá. Nhìn chung, người Mãn vừa thạo việc cưỡi ngựa xạ tiễn và săn bắn, lại vừa biết định canh định cư, sống trong các làng mạc hoặc các thị trấn có tường thành bao quanh.
Tới cuối thế kỉ 16, khi mà cơ cấu vệ sở của nhà Minh không còn hiệu quả, cộng thêm việc triều chính suy yếu khiến nhà Minh mất dần ảnh hưởng lên các bộ lạc Nữ Chân. Các thủ lĩnh thường xuyên tiến hành các cuộc đột kích và cướp bóc vùng biên giới với Minh, lại đánh lẫn nhau để khuếch trương thế lực. Giữa lúc hỗn loạn này, xuất hiện một nhân vật quan trọng, đó là Nỗ Nhĩ Cáp Xích ( 努爾哈赤 ), thuộc họ Ái Tân Giác La ( 愛新覺羅 ), một thị tộc đã nhiều đời làm Đô đốc Kiến Châu tả vệ. Căm phẫn trước việc quân Minh giết hại cha và ông của mình, Nỗ Nhĩ Cáp Xích khởi binh và trải qua thời gian đã thống nhất các bộ lạc Nữ Chân, xây dựng chế độ Bát kỳ, khôi phục lại văn tự Nữ Chân sau nhiều thế kỷ bị lãng quên. Năm 1616, Nỗ Nhĩ Cáp Xích xưng hãn tại thành Hách Đồ A Lạp ( 赫圖阿拉 , nay thuộc Tân Tân, Phủ Thuận, tỉnh Liêu Ninh ), đặt quốc hiệu Kim, sử gọi là Hậu Kim ( 後金 ). Đến năm 1636, con trai ông Hoàng Thái Cực ( 皇太極 ) lên kế vị lại đổi quốc hiệu thành Đại Thanh ( 大清 ), tên tộc Nữ Chân đổi thành Mãn Châu, lấy cái ý Kim, Thanh đồng âm, chữ Thanh (清) thuộc về mệnh thủy, thủy khắc hỏa nghĩa là Thanh diệt Minh. Chữ Mãn (滿) vừa thuộc bộ thủy như chữ Thanh, lại mang nghĩa “đầy đủ”, “trù phú”. Cũng có thuyết cho rằng hai chữ Mãn Châu lấy từ tên của Văn Thù Bồ tát trong tiếng Phạn ( Mañjuśrī ), hay từ hai chữ mangga (mạnh) và ju (mũi tên) trong tiếng Mãn. Năm 1644, nhà Thanh hoàn tất việc nhập chủ Trung Nguyên, trở thành triều đại quân chủ cuối cùng cai trị Trung Quốc, đến năm 1912 thì sụp đổ bởi cuộc Cách mạng Tân Hợi.
2. Chế độ Bát kỳ
Chế độ Bát kỳ là một cơ cấu tổ chức quân sự - xã hội của người Mãn Châu, theo đó mọi người Mãn cũng như mọi thị tộc Mãn Châu đều thuộc về một trong tám đơn vị của tổ chức này, được gọi là kỳ (phiên âm Hán từ tiếng Mãn gūsa, có nghĩa là cờ), mỗi kỳ dùng một màu sắc để làm cờ hiệu. Tiền thân của nó là chế độ Mãnh an mưu khắc ( 猛安謀剋 ) có từ thời nhà Kim (1114 - 1234) trước đó. Đại để Mãnh an mưu khắc và Bát kỳ cũng giống phép “ngụ binh ư nông” của nước ta, mỗi người dân thời bình sản xuất nông nghiệp, đến khi có việc binh đều phải tham gia chiến đấu ( xuất tắc vi binh, nhập tắc vi dân - 出則為兵,入則為民 ) . Chi tiết về danh xưng, tổ chức của các kỳ xin phép không nêu lại ở đây, vì đã có tài liệu đề cập (2).
Hoàng Thái Cực kế thừa ngôi vị Đại hãn, Bát kỳ bắt đầu có sự mở rộng, ban đầu thành lập hai kỳ Mông Cổ, tiếp theo đó phát triển thành tám kỳ sau sự kiện Hậu Kim chinh phạt Sát Cáp Nhĩ bộ, gọi là Mông Cổ Bát kỳ ( 蒙古八旗 ). Chiến tranh liên tục với nhà Minh khiến cho nhiều người Hán ở các thành trì bị đánh chiếm quy hàng Hậu Kim, trước kia trong thời Nỗ Nhĩ Cáp Xích tù binh Hán bị sung làm nô bộc (tiếng Mãn aha) cho các quý tộc Mãn Châu (3), Hoàng Thái Cực sau khi tiếp thu Hán chế, ra lệnh thực hiện chính sách vỗ về đãi ngộ đối với người Hán quy hàng, xóa thân phận nô bộc cho những người này rồi phân họ vào một ngưu lục ( phiên âm Hán từ tiếng Mãn niru : 300 người trong Bát kỳ gọi là 1 niru ). Từ năm 1631 bắt đầu phân Hán quân thành 1 kỳ , tới năm 1637 phân thành hai kỳ, lấy hai màu xanh và đen làm hiệu. Năm 1639, lại phân lại thành 4 kỳ , cờ hiệu gồm vàng viền xanh , trắng viền xanh, đỏ viền xanh và xanh. Năm 1642 bỏ các kỳ nêu trên, tổ chức lại thành Hán quân Bát kỳ ( 漢軍八旗 ), dùng màu cờ như Mãn Châu Bát kỳ và Mông Cổ Bát kỳ, gọi chung là “nhị thập tứ kỳ”.
Triều đình quy định, kỳ nhân có chiến công hoặc được Hoàng đế ân tứ có thể “nâng hộ khẩu” từ Hạ ngũ kỳ (Chính Hồng kỳ, Tương Hồng kỳ, Chính Lam kỳ, Tương Lam kỳ, Tương Bạch kỳ) lên Thượng tam kỳ (Chính Hoàng kỳ, Tương Hoàng kỳ, Chính Bạch kỳ) , gọi là đài kỳ ( 抬旗 ). Việc chuyển đổi hộ khẩu giữa các kỳ khác nhau được gọi là cải kỳ ( 改旗 ).
3. Vị trí của người Hán trong Bát kỳ
Nỗ Nhĩ Cáp Xích khi thành lập chế độ Bát kỳ đã cố gắng phân loại cư dân vào hai thành phần cụ thể là Nữ Chân và Hán (tiếng Mãn nikan) , theo đó người Nữ Chân bao gồm cả những người Hán chuyển đến khu vực Nô Nhi Can Đô ti của nhà Minh cũ (nay thuộc tỉnh Cát Lâm) từ trước năm 1618, họ tiếp nhận văn hóa và ngôn ngữ Nữ Chân, còn những người nói tiếng Hán, kể cả có nguồn gốc Nữ Chân cũng vẫn bị quy vào thành phần dân tộc Hán. Bắt đầu từ sau năm 1618, những người Hán đã gia nhập Bát kỳ trước đó được gọi là tai nikan, để phân biệt với người Hán ở Phủ Thuận (tỉnh Liêu Ninh ngày nay) đầu hàng Hậu Kim gọi là fushun nikan . Trong quá trình chinh phục đất Liêu Đông, Hậu Kim đã tiếp nhận nhiều người Hán quy hàng, những người này phân làm hai nhóm: những người Nữ Chân di cư từ phương Bắc xuống bị Hán hóa và trở thành dân nhà Minh và “dân Minh vùng biên” có hộ khẩu ở đó hoặc từ nội địa di cư đến. Để giành lấy sự ủng hộ của người Hán “dân nhà Minh”, Nỗ Nhĩ Cáp Xích thi hành chính sách bình đẳng giữa người Hán và người Nữ Chân: ông tái phân phối các tài sản do người Nữ Chân sở hữu cho người Hán, mở rộng tầng lớp quý tộc Nữ Chân bao gồm cả các gia đình thuộc giới tinh hoa Hán. Tuy vậy vẫn xảy ra việc người Nữ Chân bóc lột lao động đối với người Hán, dẫn tới những vụ nổi loạn mà cao điểm diễn ra vào năm 1623 khi một nhóm những người Hán bất bình sát hại các quý tộc Nữ Chân. Nỗ Nhĩ Cáp Xích phải trở lại với chính sách phân biệt dân tộc cũ, người Hán phạm trọng tội sẽ bị xử tử trong khi người Nữ Chân nếu phạm cùng một tội đó có thể xem xét được ân xá. Tuy nhiên những người Hán thuộc nhóm tai nikan, vẫn được miễn thuếvà được đối xử tốt hơn những người thuộc nhóm còn lại.
Sang giai đoạn 1629-1643 ( thời Hoàng Thái Cực ), thành phần người Hán gia nhập Bát kỳ có sự mở rộng. Trong giai đoạn này, qua những lần Hoàng Thái Cực dẫn quân xâm nhập quan nội đã tiếp nhận thêm số người Hán đến từ các tỉnh như Trực Lệ ( Hà Bắc ngày nay ), Sơn Đông, Sơn Tây, gọi là fu xi baitangga . Ông cũng sử dụng thuật ngữ “Hán quân” vốn có từ hệ thống quân sự Mãnh an mưu khắc của nhà Kim trước đó để chỉ các kỳ người Hán. Bên cạnh đó Hoàng Thái Cực cũng trọng dụng các tướng lĩnh nhà Minh cũ như Hồng Thừa Trù, ( sau phân vào Hán quân Tương Hoàng kỳ ), Tổ Đại Thọ ( sau phân vào Hán quân Chính Hoàng kỳ ),... cùng các văn thần như Phạm Văn Trình, Ninh Hoàn Ngã, Trương Tồn Nhân,.. đẩy mạnh việc xây dựng chính quyền kiểu Hán. Sau thất bại trước Minh tướng Viên Sùng Hoán trong trận Ninh Viễn lần thứ hai, nhận ra tầm quan trọng của hỏa pháo, ông cho dùng ngay tù binh Minh vào việc chế tạo hỏa pháo và huấn luyện pháo binh (4). Ngoài kĩ năng về hỏa pháo, Hán quân còn tận dụng được ưu thế thông thạo địa hình quan nội để tiến hành các hoạt động tình báo như thu thập tin tức, chiêu hàng quân dân Hán tộc. Như trên đã trình bày, năm 1642 là năm đánh dấu việc Hán quân Bát kỳ đạt được địa vị ngang hàng với các kỳ Mãn Mông, những gia tộc thuộc Hán quân kỳ bắt đầu có “hộ khẩu” ( hay kỳ tịch - 旗籍 ) độc lập.
Các Hán quân kỳ có vai trò vô cùng quan trọng trong lịch sử nhà Thanh bởi đây là lực lượng nòng cốt giúp cho Thanh triều tiến vào Trung Nguyên thuận lợi. Các chiến dịch diễn ra sau khi nhà Thanh định đô Bắc Kinh năm 1644 đa phần căn bản đều do Hán quân gánh vác hoặc làm tiên phong như chiến dịch truy quét quân khởi nghĩa nông dân Lý Tự Thành, Trương Hiến Trung; bình định Nam Minh; thu phục Đài Loan; bình loạn Tam phiên (5),... Rõ ràng địa hình phía nam Trung Quốc không thích hợp cho kỵ binh Mãn Châu tác chiến thì ưu thế bộ binh, pháo binh và công thành của Hán quân tỏ ra vượt trội hơn hẳn. Thành phần Bát kỳ đóng giữ ở các tỉnh gọi là Trú phòng Bát kỳ ( 駐防八旗 ), Hán quân trở thành một bộ phận trọng yếu. Sau này, khi triều đình cần đến một lực lượng quân sự thường trực hơn ở các tỉnh, vai trò của Hán quân mới được thay thế bởi Lục doanh binh. Trọng phương diện nội trị, do nhu cầu sử dụng tiếng Hán của quan viên các tỉnh cao hơn tiếng Mãn rất nhiều, vì vậy các chức tổng đốc, tuần phủ một số tỉnh đa phần có xuất thân từ Hán quân. Thời kì Thanh sơ, mâu thuẫn dân tộc Mãn-Hán còn nặng nề, Hán quân chính là tầng lớp trung gian đóng vai trò xoa dịu mâu thuẫn đó, giúp ổn định nền thống trị Thanh triều. Tuy nhiên trên thực tế Hán quân vẫn có địa vị xếp sau Mãn Châu và Mông Cổ Bát kỳ, đặc biệt vào trung kỳ thời Thanh, sau khi triều đình tiến hành “thanh lọc” bớt người Hán ra khỏi Bát kỳ thì những người thuộc Hán quân kỳ cũ khi xuất sĩ làm quan chỉ được bổ vào các chức quan dành riêng cho người Hán, riêng con em nhà thế gia thuộc Hán quân vẫn được đãi ngộ khá cao, nếu xuất thân từ gia tộc công thần vẫn có thể được phá lệ nhận vào các chức quan giành cho người Mãn.
4. “Hán quân xuất kỳ”
Cuối những năm Khang Hy, nhân khẩu của Bát kỳ tăng mạnh, vấn đề sinh kếbắt đầu xuất hiện. Để giải quyết vấn đề đó, triều đình nhà Thanh bắt đầu buộc các gia tộc Hán quân kỳ có tài sản ít phải từ bỏ hộ khẩu trong Bát kỳ, bên cạnh đó còn xuất phát từ một số lí do khác: lai lịch tổ tiên phức tạp, sự bảo tồn phong tục Hán tộc mạnh mẽ,... Năm 1742, vua Càn Long chính thức phê chuẩn việc “Hán quân xuất kỳ” ( 漢軍出旗 ), trừ các gia tộc thuộc Liêu Đông Hán quân đã “theo vua nhập quan” ( 從龍入關 ) ( hay còn gọi là “Trần Hán quân” - 陳漢軍 hay “Cựu Hán quân” - 舊漢軍 ), còn lại đều phải “xuất kỳ”, trở lại địa vị thường dân, bao gồm người Hán quy hàng sau khi nhập quan, những người có quan hệ với Tam phiên trước đây ( gọi chung là Tân Hán quân ),... Trước đó vào năm 1723 ( năm đầu niên hiệu Ung Chính ), số người Hán cộng cả gia nô tráng đinh hơn 44 vạn người, ước tính chiếm tới 72% nhân khẩu Bát kỳ. Tới năm 1796 ( năm đầu niên hiệu Gia Khánh ), sau khi áp dụng giải pháp “xuất kỳ”, con số trên giảm xuống còn 43%, có thể thấy lượng người Hán phải “xuất kỳ” tương đối lớn.
Những người Hán không bị “xuất kỳ” hay “Trần Hán quân”, “Cựu Hán quân” , sớm bị “Mãn hóa” ngay trong thời sơ kì nhà Thanh, tiếp nhận phong tục và ngôn ngữ Mãn. Giáo sĩ người Pháp Joachim Bouvet (1656-1730) truyền đạo vào thời Khang Hy, trong cuốn Portrait historique de l'empereur de la Chine (Paris, 1697) có nhắc tới việc người Hán bị “Tác-ta hóa”.
4. Hán quân kỳ trong các giai đoạn sau này
Trải qua khoảng thời gian hòa bình trong thế kỉ 18, người Mãn dần bị Hán hóa vì vậy bước vào giai đoạn hậu kì nhà Thanh, Bát kỳ về cơ bản không còn sự phân biệt giữa các thành phần Mãn, Mông và Hán. Sau khi nhà Thanh sụp đổ vào năm 1912 và sự thành lập Trung Hoa Dân quốc, đại đa số hậu duệ của Hán quân Bát kỳ đều tự nhận mình thuộc về dân tộc Mãn, không còn được những người Hán khác coi là đồng bào nữa. Trong số này có nhánh hậu duệ của Bình Nam vương Thượng Khả Hỷ là được biết đến nhiều hơn cả, thời Thanh có họ Mãn là Sa Cách Đạt ( 沙格達氏 ) . Một trường hợp cũng khá đặc biệt là cháu 9 đời của khai quốc công thần nhà Minh là Thường Ngộ Xuân, tên Thường Lãng ( 常朗 ) có hộ khẩu trong Chính Bạch kỳ Mãn Châu, hậu duệ của ông này cũng tự nhận thuộc Mãn tộc.
5. Tầng lớp bao y trong Bát kỳ
Xã hội Mãn Châu là một xã hội dựa trên cơ cấu bộ lạc, chịu ảnh hưởng nhiều từ xã hội Mông Cổ, theo đó một người Mãn không bao giờ tự do hoàn toàn mà luôn lệ thuộc vào chủ nhân của họ và phục tùng tuyệt đối mệnh lệnh của chủ nhân. Những người này tạo nên một tầng lớp, tiếng Mãn gọi là booi aha ( 包衣阿哈 - bao y a cáp ). Ban đầu phạm vi của danh xưng này rất rộng, thậm chí ngay cả các gia thần, thân binh có công lao cũng được Đại hãn gọi là “bao y” như để khen thưởng lòng trung thành của họ. Về sau tầng lớp này dần dần phân hóa, trong đó bao y chuyên đảm trách các công việc phục dịch cho Hoàng đế và tông thất vương công, khi xảy ra chiến sự vẫn có thể tham gia ứng chiến, nên tục gọi là “Nội Bát kỳ”. Các bao y trực thuộc Thượng tam kỳ của Hoàng đế được gọi là “Nội vụ phủ thuộc”, còn thuộc Hạ Ngũ kỳ, do các kì chủ vương công quản lí gọi là “Vương công phủ thuộc”.Thấp hơn bao y là Kỳ hạ gia nô ( 旗下家奴 ) , không có hộ khẩu, thuộc vào hộ khẩu của chủ nhân, tình trạng này gọi là “phụ hộ” (附戶) Nhà Thanh quy định kỳ hạ gia nô có quân công, cho phép có hộ khẩu riêng, gọi là “khai hộ nhân” ( 開戶人 ) hoặc “lánh hộ” ( 另戶 ), tuy nhiên địa vị vẫn không thể bằng bao y và “Ngoại Bát kỳ” được gọi là “chính hộ” ( 正戶 ) hoặc “Chính thân kỳ nhân” ( 正身旗人 ).
Sau khi quân đội Hậu Kim mở rộng chiến tranh đã thu về một số lượng lớn tù binh, với nhiều thành phần dân tộc, cả Nữ Chân, Hán, Mông Cổ và Triều Tiên, ... Những tù binh này trở thành nguồn bổ sung lớn cho tầng lớp bao y và không ngừng gia tăng. Do đó nhà Thanh đã dùng đơn vị cơ sở của Bát kỳ là niru ( 300 người ) cùng các chức danh như tá lĩnh, quản lĩnh, tham lĩnh,...trong đó số lượng niru Mãn Châu lớn nhất, kế đến là người Hán rồi đến các sắc dân khác như Cao Ly ( Triều Tiên ), Hồi Tử ( Duy Ngô Nhĩ ), Phiên Tử ( Tây Tạng ). Về mặt hộ khẩu, những bao y thuộc vềThượng tam kỳ ( Nội vụ phủ thuộc ) và một số bao y thuộc Hạ ngũ kỳ có hộ khẩu riêng hay “chính hộ”, số còn lại vẫn lệ thuộc hộ khẩu của chủ.
Có thể phân loại tầng lớp bao y trong Nội vụ phủ làm 3 bộ phận chính:
- Bao y ngưu lục ( booi niru ), đứng đầu bởi một Bao y tá lĩnh (包衣佐領), phiên chế theo kiểu niru 300 người như Bát kỳ. Bộ phận này thường là làm nhiệm vụ hộ vệ cho Hoàng đế( phân biệt với lực lượng Thị vệ trực tiếp lấy từ con em trong Bát kỳ ).
- Bao y quản lĩnh ( booi guanlin), có nguồn gốc từ các gia thần đã từng theo Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích buổi quốc sơ.
- Trang đầu kỳ nhân (莊頭旗人): những người đầu hàng nhà Thanh từ trước hoặc binh lính, thường dân, được quy tập đi khai khẩn ruộng đất.
Số lượng thái giám giảm xuống 10% so với thời Minh, bởi một số công việc của thái giám đã được bao y đảm nhiệm. Sự xuất hiện của tầng lớp bao y đã làm xóa bỏ cục diện chuyên quyền của các thái giám thời Minh trước kia.
Sau khi nhà Thanh vào quan nội, tầng lớp bao y có thể tham gia khoa cử, tiến nhập hoạn lộ, cũng có thể tuyển vào quân đội, biên chế vào các doanh ( 1 doanh = 500 người ). Bao y thuộc Thượng tam kỳ, do trực thuộc Hoàng đế nên có địa vị khá cao, cơ hội làm quan và binh nghiệp cũng cao hơn so với Hạ ngũ kỳ bao y. Người của Hạ ngũ kỳ bao y do thuộc vương công phủ nên khi ra làm quan cũng về cơ bản cũng chỉ giới hạn trong chức vụ trong vương công phủ. Tuy nhiên khi triều đình có lệnh tuyển dụng người của Hạ ngũ kỳ bao y, họ sẽ không phải xin sự đồng ý của chủ nhân mình ( tức là các Kỳ chủ, thường là các Thân vương, Quận vương được chỉ định ). Những bao y nối đời giữ yên chức tước, có thể được nâng lên hàng “Ngoại Bát kỳ nhân”. Một trường hợp rất đặc biệt là dòng họ của Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu ( phi tần của vua Càn Long, mẹ đẻ của vua Gia Khánh ), thuộc tầng lớp bao y, sau khi Gia Khánh lên ngôi đã được nâng hẳn lên thuộc Tương Hoàng kỳ Mãn Châu.
Mặc dù bao y lệ thuộc vào người chủ, nhưng ngườ i chủ vẫn không được phép tùy ý ngược đãi, xâm phạm đến họ. Triều Thanh quy định các vương công nhà chủ, nếu có hành vi ngược đãi bao y trong thời gian dài, thì chiếu theo luật lệ mà xử phạt. Điển hình như năm 1838, Đôn Thân vương Miên Khải (綿愷) (6) chỉ vì một việc nhỏ mà giam cầm thuộc hạ bao y hơn 80 người, sau bị phát giác, vua Đạo Quang nổi giận giáng ông xuống hàng Quận vương, cách chức Tông lệnh ( đứng đầu Tông nhân phủ ) và Đô thống, kèm thêm phạt bổng lộc 3 năm. Miên Khải vì uất ức mà chết tháng 1 năm đó. Tuy nhiên cũng nhiều nơi quan hệ đối xử giữa bao y và nhà chủ khá hòa hợp, thậm chí lấn át, chẳng hạn như trường hợp gia đình nhạc phụ của Khang Thân vương Kiệt Thư (傑書) (7) bị chính bao y của nhà con rể mình đến quấy phá. Vào thời trung - hậu kì nhà Thanh, nhiều Trang đầu kỳ nhân còn chiếm đoạt ruộng đất nhà chủ, thuê nông dân canh tác, trở thành một lớp địa chủ mới.


Nhận xét
Đăng nhận xét