Chất liệu đa thần trong mỹ thuật Kitô giáo

 Khi các phế tích thời kì La Mã lần đầu có mặt trong vốn từ của các họa sĩ vào thế kỉ XV, chúng đem đến một ý nghĩa tôn giáo đặc biệt. Đó là việc những kí ức hiện hữu về sự suy vong của nền văn minh đa thần giáo (1) đã từng đứng vững hầu khắp thế giới cũng như những phế tích cổ đại xuất hiện là minh chứng cho sự vận động bất di bất dịch theo ý Chúa. Trong những bức tranh ở Ý thời Phục hưng về đề tài Chúa Hài đồng, hình ảnh những chi tiết dang dở của các công trình kiến trúc mang phong cách cổ điển tượng trưng cho một trật tự cũ kĩ bị lu mờ trước sự ra đời của Đấng cứu thế.

Ví dụ, cổng vòm của một công trình kiến trúc cổ điển đóng vai trò như một cánh cửa mà những người có đức tin phải bước qua và bỏ lại đằng sau, để tới thể hiện sự sùng kính đối với Chúa Giêsu Hài đồng, như trong phần cận cảnh của bức Ba vua chiêm bái Chúa Hài đồng (The Adoration of the Magi), vẽ vào khoảng năm 1400-1455 bởi Fra Angelico và Fra Filippo Lippi. Có thể thấy rõ hình ảnh cổng vòm lạc lõng ám chỉ tới tôn giáo thờ đa thần của người La Mã đã bị Kitô giáo thay thế. Nó cũng biểu thị cho niềm tin về ngôi đền cũ của người Do Thái (được xây dựng trên giao ước ban đầu giữa Thiên Chúa và Moses) nay đã được thay thế bằng ngôi đền mới là hiện thân của Chúa Kitô. Với vai trò Đấng cứu thế, Chúa Giêsu Hài đồng báo trước một giao ước mới giữa Thiên Chúa và loài người, trong đó sự thương xót và sự sống đời đời sẽ chiến thắng tội lỗi và sự chết. Bức tranh thể hiện thông điệp ấy bằng cách đặt ngôi đền đổ nát với hình ảnh những người khỏa thân và có dáng vẻ tiều tụy lại với nhau, còn ở nơi mà Chúa Giêsu được sinh ra, có thể thấy sự nguyên vẹn, sự vững chắc mới mẻ mà trên đó là hình ảnh con công được vẽ có phần quá khổ, vốn là biểu tượng Kitô giáo thời sơ kì về sự phục sinh và bất tử.

Fra Angelico và Fra Filippo Lippi, Ba vua chiêm bái Chúa Hài đồng, khoảng 1440-1460, tempera trên ván, đường kính 137cm, Phòng tranh Nghệ thuật Quốc gia, Washington D.C, từ bộ sưu tập của Samuel H. Kress.


Khi sự thán phục cũng như kiến thức về kiến trúc cổ đại nảy nở và có ảnh hưởng lớn đến việc thiết kế các công trình kiến trúc thời Phục hưng, thì những mô tả về các tượng đài cổ đại ngày càng phát triển cả về độ chi tiết lẫn phức tạp. Bức Ba vua chiêm bái Chúa Hài đồng vẽ khoảng năm 1484 được cho là của Domenico Morone, diễn tả cảnh Thánh gia (2) đang nghỉ ngơi trong một chuồng gia súc tạm bợ được dựng lên từ một đền thờ cổ đại bị bỏ phế. Việc đưa hình ảnh nơi ở của Chúa Kitô vào một phế tích được tái sử dụng mang lại sự hòa hợp về mặt công nhận giữa những khán giả sống trong thế kỉ XV vốn quen với việc xem những di sản thời cổ đại thường được tiếp nhận để làm mới và sử dụng cho bối cảnh Kitô giáo.  Để làm nổi bật tính trung thực của bức tranh, Morone đã khắc họa tỉ mỉ đến từng chi tiết hình ảnh ngôi đền, chắp nối từng khối đá lại với nhau và xác định rõ cấu trúc của các vòm cuốn, cũng như việc trang trí bằng các dãy cột và mái đua. Ông đã dành nhiều sự chú ý vào việc cân chỉnh ba vị vua cùng với đoàn tùy tùng ngoại lai của họ, với khăn xếp lộng lẫy và áo choàng tung bay, một số người còn mang mã tấu. Qua việc theo dõi kĩ những chi tiết ấy, người họa sĩ đã làm khung cảnh trở nên sinh động với một cảm giác hấp dẫn về độ chính xác cũng như trực quan, khiến cho quá khứ trở nên tràn đầy sức sống trong mắt người xem.

Ba vua chiêm bái Chúa Hài đồng, được cho là của Domenico Morone, khoảng năm 1484, sơn dầu trên canvas, 83.5 x 99.3 cm, Bảo tàng Nghệ thuật Columbia, từ bộ sưu tập của Samuel H. Kress.


Ở góc bên trái trên cùng bức tranh của Morone, hình ảnh bức tượng của môt vị thần được đặt trên phần mái đua bị rạn vỡ của tòa nhà, lại cho chúng ta thêm một biểu tượng nữa về sự lỗi thời trong tôn giáo. Bên trong cổng vòm, phía dưới bức tượng là hình ảnh con công càng nhấn mạnh rõ sự tương phản giữa cái phù du với cái vĩnh cửu. Tượng thần sai trái và Đấng cứu thế mới ra đời đều giống nhau ở sự trần trụi, nhưng trong khi bức tượng bằng đá kia bất động và bị bỏ phế, thì hình ảnh đứa trẻ sơ sinh đang loay hoay trong vòng tay người mẹ là hiện thân của sự toàn hảo thánh thiêng và lời hứa về sự sống đời đời, khiến cho các vua chúa phải quỳ gối mà kính sợ.

Chi tiết bức tượng trong bức Ba vua chiêm bái Chúa Hài đồng được cho là của Domenico Morene.


Những phế tích La Mã như được thấy ở đây cũng như trong nhiều bức tranh thời Phục hưng khác gợi lại những huyền thoại Kitô giáo, trong đó sự can thiệp thần thánh bắt nguồn từ việc phá đổ tự phát những tượng đài đa thần giáo – một phương thức nổi bật bên trong những ghi chép lịch sử thế tục về chiến tranh, bài trừ tín ngưỡng truyền thống hay phá hoại về mặt văn hóa. Theo một câu chuyện được lưu truyền vào thời Trung cổ, thì có một đền thờ xây dựng bởi hoàng đế La Mã Augustus bị nổ bên trong đúng vào đêm Chúa Kitô được sinh ra – một sự kiện được lời tiên tri của thần Apollo loan báo rộng rãi, rằng ngôi đền sẽ đứng vững cho đến ngày một trinh nữ hạ sinh một đứa trẻ, điều này ứng với sự giáng sinh của Chúa Kitô bởi bà Maria.  Tương tự là những ghi chép về sự đổ vỡ như có phép lạ của các tượng thần, một tình tiết được lặp đi lặp lại trong những câu chuyện về cuộc đời của các vị thánh. Một ví dụ như vậy là câu chuyện về thánh Apollonia (chết năm 249), một tín đồ Kitô sùng đạo ở thành phố Alexandria, Ai Cập đã khước từ sắc lệnh của hoàng đế La Mã về việc bắt buộc thực hiện việc tế lễ cho các vị thần theo tín ngưỡng của đa thần giáo ở những nơi công cộng. Tương truyền khi Apollonia làm dấu thánh giá trước bức tượng thần bằng đá, nó liền vỡ vụn thành nghìn mảnh.

Họa sĩ Venise Giovanni d’Alemagna đã sử dụng tình tiết trên vào một trong loạt bốn bức tranh vào khoảng năm 1440-1450 diễn tả các sự kiện về cuộc đời thánh Apollonia. Trong bức Thánh Apollonia phá đổ tượng thần (Saint Apollonia destroys a pagan idol) vẽ vào khoảng năm 1442 (hoặc 1445), ông đã bỏ qua câu chuyện về sự đổ vỡ thần bí kia mà dành sự chú ý đến một cách thể hiện hợp lí và thực tế hơn về việc bài trừ tượng thần để tỏ lòng sùng đạo. Apollonia được vẽ như đang bước lên nửa đường trên một cái thang, tay cầm cây búa để chuẩn bị đập vỡ bức tượng thần Bacchus, vị thần La Mã bảo trợ cho rượu vang và những cuộc truy hoan trác táng.  Hình ảnh đối lập giữa một bên có trang phục và một bên thiếu vắng sự có mặt của trang phục giúp kịch tính hóa sự xung đột giữa thế giới đa thần giáo và thế giới Kitô giáo. Tương phản với thói ưa chuộng sự khoái lạc bóng bẩy cùng hình dáng mềm mại của những bức tượng trần trụi là thân thể “kín cổng cao tường”, có phần  bị vướng víu bởi trang phục nặng nề của vị thánh. Sự trần trụi của Bacchus gợi cho cho chúng ta về mối liên hệ tới tự do và khoái lạc, trong khi bộ áo dài che kín thân thể của Apollonia, biểu thị cho sự trong sạch và tiết độ.

Giovanni d’Alemagna, Thánh Apollonia phá đổ tượng thần, khoảng năm 1442 hoặc 1445, tempera trên ván, 59.4 x 34.7 cm, Phòng tranh Nghệ thuật Quốc gia, Washington D.C, từ bộ sưu tập của Samuel H. Kress.


Bức tranh đặt ra một thực tế là sự hấp dẫn đến từ thời cổ đại bắt đầu định hình việc lựa chọn và thể hiện các đề tài Kitô giáo vào giữa thế kỉ XV. Mặc dù Apollonia bề ngoài có vẻ như là trọng tâm đối với họa sĩ, nhưng phần tượng đài có phần thừa thãi ở trung tâm của bố cục bức tranh thực sự khiến chúng ta phải chú ý. Nó được vẽ sáng hơn mọi vật thể khác và được đặt trong một vị trí theo kiểu không gian ba chiều, gây ra sự đánh lừa thị giác, đồng thời tạo một cảm giác chân thực hiện hữu, tới mức có thể chạm vào được, giống như vẻ ngây ngô trên các hình nhân. Trang trí cho phần trụ đỡ bằng đá cẩm thạch là hình ảnh một con đại bàng với dáng vẻ hùng mạnh – biểu tượng của La Mã – khẳng định quyền lực của đế quốc trên vùng đất Ai Cập xa xôi. Ở phần hậu cảnh là một tòa nhà cẩm thạch nhiều màu sắc với cổng vòm, chữ khắc và những chi tiết trang trí được chạm khắc công phu, gợi lên sự xa xỉ và phô trương của đời sống La Mã

Mối liên hệ với sự chính xác về mặt khảo cổ học đã góp phần xây dựng hình ảnh cho bức tranh. Tác giả đã dựa trên phần trụ đỡ của một bàn thờ La Mã xuất hiện trong các bức tranh ở Venise khác đương thời và trong tuyển tập các bức vẽ đồ họa của Jacopo Bellini. Bức tượng khỏa thân của Bacchus có lẽ cũng được mô phỏng từ các khuôn mẫu thời cổ đại được biết đến ở Venise. Các họa sĩ luôn để mắt tới việc sử dụng các mô hình cổ điển có khả năng nhằm mục đích thích nghi và cạnh tranh. Điều ấy được coi như một phương pháp chuẩn mực để họ giữ gìn các bức đồ họa về các vật thể được vẽ bằng tay trong xưởng của mình như một chất liệu đáng tin cậy khi cần tham khảo. Các họa sĩ cũng tích lũy một lượng lớn các di vật khác nhau từ thời cổ đại, chẳng hạn như các tác phẩm điêu khắc bằng đá cẩm thạch và những mảnh còn sót lại, những bức tiểu tượng bằng đồng, ngọc chạm, tiền xu và huy chương, cũng như bản sao chép dưới dạng khuôn đúc bằng thạch cao. Những bộ sưu tập hữu ích như vậy cung cấp cho các họa sĩ một kho tàng các bố cục cổ điển, các kiểu cách và mô-típ trang trí có thể được dùng để đưa vào nhiều dự án khác nhau. Chúng cũng được các họa sĩ trao đổi với nhau và thường được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Năm 1471, bà quả phụ của Bellini đã để lại cuốn sách nổi tiếng của ông về đồ họa cho con trai Gentile cùng nhiều tượng, chi tiết điêu khắc và khuôn đúc thạch cao.

Chú thích:

 (1) Nguyên văn: pagan, là thuật ngữ được dùng bởi những người theo Kitô giáo thời kì sơ khởi để chỉ những người thực hành tín ngưỡng thờ đa thần bên trong đế quốc La Mã, bắt đầu từ thế kỉ IV sau Công nguyên. Trong ngữ cảnh Kitô giáo, nó tương đương với các từ ngoại giáo, ngoại đạo, dân ngoại. Như vậy một cách đơn giản, có thể đồng nhất từ tiếng Anh paganism với đa thần giáo, hoặc tôn giáo Hi Lạp-La Mã.

(2) Thánh gia (tiếng Anh: Holy Family) là một chủ đề rất phổ biến trong nghệ thuật Kitô giáo, trong đó bao gồm ba người là Chúa Hài đồng Giêsu, Đức Mẹ Maria và Thánh Giuse.

Dịch từ nguyên văn tiếng Anh của bài viết Pagan Artifacts in Christian Art thuộc trang web Italian Renaissance Learning Resources: http://www.italianrenaissanceresources.com/units/unit-7/essays/pagan-artifacts-in-christian-art/

Mọi bản quyền thuộc về Nhà xuất bản Đại học Oxford Mỹ, Phòng tranh Nghệ thuật Quốc gia, Washington D.C cùng các cá nhân, tập thể giữ quyền sở hữu trang web Italian Renaissance Learning Resources.

Vui lòng không tự up lại khi chưa có sự đồng ý từ người dịch!

Nhận xét

Bài đăng phổ biến