Minh sử 明史, quyển 305: Ngụy Trung Hiền truyện

 Ngụy Trung Hiền, người ở Túc Ninh. Thuở nhỏ là kẻ vô lại, thường hay tụ tập làm điều xấu, lại ít học, ít khi hơn người, vì thế mà nghèo túng, phẫn uất nên tự cung, đổi họ tên thành Lí Tiến Trung. Về sau mới đổi lại họ cũ, [được vua] ban cho tên là Trung Hiền. Trung Hiền từ thời Vạn Lịch trúng tuyển nhập cung, đi theo thái giám là Tôn Xiêm, nhờ đó mà được vào kho Giáp Tự (1), lại xin phụ trách trông coi bữa ăn cho mẹ của Hoàng trưởng tôn (2) là Vương tài nhân, nịnh bợ với Ngụy Triều. Triều cho gọi Trung Hiền đến vấn an vài lần, dần dà thiện đãi với y. Vú nuôi của trưởng tôn là Khách thị, vốn thường được hầu riêng, có thể nói như người đối thực vậy (3). Đến khi Trung Hiền nhập cung, bèn tư thông. Khách thị nhân đó mới dần bỏ việc vào hầu mà yêu mến Trung Hiền, hai người gắn bó với nhau sâu đậm.

Quang Tông băng, trưởng tôn lên nối ngôi, tức là Hi Tông. Trung Hiền, Khách thị đều đắc sủng. Chưa đầy một tháng, [vua] đã phong Khách thị là Phụng Thánh phu nhân, lại cho con là Hầu Quốc Hưng, em là Khách Quang Tiên, tới anh của Trung Hiền đều được làm Cẩm y vệ Thiên hộ. Trung Hiền từ ở Tích Tân ti (4) lên dần tới chức Tư lễ Bỉnh bút thái giám kiêm Đề đốc Bảo Hòa Tam Điếm. Trung Hiền không biết chữ, theo lệ không được vào Tư lễ giám, nhờ Khách thị cố ý xin mới được vào.

Thiên Khải năm thứ nhất, [vua] xuống chiếu ban cho Khách thị ruộng để lo việc hương hỏa, lại nói Trung Hiền coi sóc lăng Hoàng tổ có công. Ngự sử Vương Tâm Nhất can, [vua] không nghe. Tới lễ đại hôn của vua, bọn Ngự sử là Tất Tá Chu, Lưu Lan xin đuổi Khách thị ra ngoài cung, Đại học sĩ Lưu Nhất Chử cũng nói vậy. Vua lưu luyến không nỡ, nói rằng: Hoàng hậu còn nhỏ (5), may nhờ nhũ mẫu bảo hộ, đợi xong đại tang của Hoàng tổ thì hãy bàn. Trung Hiền độc chiếm Khách thị, đuổi Ngụy Triều, lại ghét Vương An nắm giữ triều chính, bèn mưu giết [An], bài xích bọn hoạn quan thuộc hạ của An. Còn Khách thị rất dâm dật. Trung Hiền không biết viết, cũng không thể ghi nhớ tốt, nhưng nhẫn nhịn và thâm độc đến ghê sợ, lại giỏi nịnh hót. Vua rất tín nhiệm hai người ấy, vì thế mà chúng càng khuếch trương quyền thế, dùng thái giám của Tư lễ giám, từ Vương Thể Càn cho tới bọn Lí Vĩnh Trinh, Thạch Nguyên Nhã, Đồ Văn Phụ làm vây cánh, trong cung ai nấy đều không dám đối nghịch. Khách thị xuất cung không được bao lâu thì lại được triệu vào. Ngự sử Chu Tông Kiến, Thị lang Trần Bang Chiêm, Ngự sử Mã Minh Khởi, Cấp sự trung Hầu Chấn Dương trước sau can ngăn, đều bị trách cứ. Cấp sự trung là bọn Nghê Tư Huy, Chu Khâm Tương, Vương Tâm Nhất nói lại việc ấy, đều bị biếm ra ngoài, còn Trung Hiền vẫn chẳng bị quở trách gì. Trung Hiền mới khuyên vua tuyển võ thái giám, huấn luyện hỏa khí bên trong, bí mật liên kết với Đại học sĩ Thẩm Hoành để tiến dẫn. Lại hằng ngày dẫn vua đi xem hát xướng làm trò, săn bắn chó ngựa. Chủ sự bộ Hình là Lưu Tông Chu hạch tội [Trung Hiền], vua nổi giận, may nhờ Đại học sĩ Diệp Hướng Cao ngăn lại mới thoát được.

Ban đầu, Thần Tông ở ngôi lâu năm, lười việc chính sự, tấu chương phần nhiều không xem xét. Đình thần dần dần lập các môn hộ, dùng lời lẽ nặng nề mà tranh nghị quyết liệt để hơn thua với nhau, rồi xảy ra việc tranh ngôi thái tử (6), [đình thần] trong cung cấm lại bài xích lẫn nhau. Các đại thần tể phụ (7) bị công kích đàn hặc, mỗi lần như vậy phải viện cớ bệnh tật mà tránh đi. Thị lang bộ Lại là Cố Hiến Thành giảng học ở thư viện Đông Lâm, sĩ đại phu trong nước nhiều người đi theo, cái tên Đông Lâm bắt đầu có từ đấy vậy. Không lâu sau đó xảy ra ba vụ án Đĩnh kích, Hồng hoàn, Di cung (8) khắp triều đình đều tụ lại kiện cáo. Những người Đông Lâm có ý chống đối, đều bị coi là gian đảng. Những năm đầu Thiên Khải, [quan lại bị] phế truất bài xích hầu như hết cả, kẻ thức giả vì lo lắng đến kích động quá mức mà sinh biến. Đến khi quyền thế của Trung Hiền đã lớn mạnh, bè đảng của y mới dựa vào việc đó mà quyết mưu tính tranh giành với Đông Lâm. Bọn Từ Đại Hóa, Hoắc Duy Hoa, Tôn Kiệt xu phụ Trung Hiền, Lưu Nhất Chử cùng Thượng thư là Chu Gia Mô vì Kiệt mà bị đàn hặc. Nhưng vào lúc đó bọn Diệp Hướng Cao, Hàn Hoảng làm phụ chính, bọn Trâu Nguyên Tiêu, Triệu Nam Tinh, Vương Kỉ, Cao Phàn Long đều giữ chức to, bọn Tả Quang Đẩu, Ngụy Đại Trung, Hoàng Tôn Tố là ngôn quan đều hết sức giữ ý trong sạch, Trung Hiền chưa thể mặc sức làm càn được.

Năm thứ hai, nhân việc xây xong Khánh lăng (9), [vua] cho cháu của em Trung Hiền làm Cẩm y vệ Chỉ huy thiêm sự. Cấp sự trung Huệ Thế Dương, Thượng thư Vương Kỉ nói Thẩm Hoành đi lại với bọn Khách, Ngụy, [Dương, Kỉ] đều bị chịu phạt. Gặp lúc đầu mùa hạ có mưa đá, Chu Tông Kiến nói rằng mưa đá lẽ ra không xảy ra vào lúc này, Trung Hiền mới sửa đổi lời ấy mà gièm pha với vua. Tu soạn là Văn Chấn Mạnh, Thái bộc thiếu khanh là Mãn Triều Tiến mới nói lại [Trung Hiền], rốt cục cũng đều bị cách chức.

Năm thứ ba, mùa xuân, [Trung Hiền] đưa thân tín là Ngụy Quảng Vi lên làm Đại học sĩ. Lệnh Ngự sử Quách Củng công kích bọn Tông Kiến, Nhất Chử cho tới Dương Liên, Chu Triều Thụy tội tiến cử Hùng Đình Bật, kết thành gian đảng làm hại nước. Tông Kiến mới phản bác, cho là Củng do Trung Hiền ra lệnh, Ngự sử Phương Đại Nhậm giúp Tông Kiến chống lại Trung Hiền, nhưng đều không được. Mùa thu năm ấy, [vua] xuống chiếu cho con cái Trung Hiền cùng với con của Khách thị là Quốc Hưng đều được thế tập chức quan ở Cẩm y vệ. Thượng thư bộ Binh là Đổng Hán Nho, Cấp sự trung Trình Chú, Ngự sử Uông Tứ Luận cùng nhau can ngăn, [vua] không nghe. Trung Hiền càng không kiêng sợ gì nữa, tăng cường huấn luyện trong cung tới vạn người, mặc giáp ra vào, tha hồ ngang ngược. Lại làm giả chiếu thư, ban chết cho tuyển thị của Quang Tông là Triệu thị. Dụ phi Trương thị có thai, Khách thị dùng kế phá thai, khiến vua vì thế mà không có con nối dõi (10) , lại hại cả cung tần là Phùng quí nhân, thái giám Vương Quốc Thần, Lưu Khắc Kính, Mã Giám cùng rất đông người khác. Vì việc trong cung cấm là bí mật nên chẳng ai biết được cả. Mùa đông, [Trung Hiền] được kiêm quản việc của Đông xưởng.

Năm thứ tư, Cấp sự trung Phó Khôi cùng với cháu gọi bằng cậu của Trung Hiền là Phó Ứng Tinh kết làm anh em, dâng tấu vu cáo Trung thư (11) Uông Văn Ngôn, cùng với Tả Quang Đẩu, Ngụy Đại Trung liên đới. Đem Văn Ngôn giam vào ngục của Trấn phủ ti (12), vu cho tội mưu phản. Chưởng quản Trấn phủ ti là Lưu Kiều vâng lệnh của Diệp Hướng Cao, chỉ buộc tội mình Văn Ngôn. Trung Hiền giận lắm, tước bỏ quan tịch của Kiều, lấy thân tín là Hứa Hiển Thuần thay thế. Lúc ấy Ngự sử Lí Ứng Thăng lấy việc huấn luyện trong cung [của Trung Hiền], Cấp sự trung Hoắc Thủ Khúc lấy việc Trung Hiền dựng sinh từ, lập biển ngạch, Ngự sử Lưu Đình Tá lấy việc Trung Hiền cho con cháu tập ấm bừa bãi, Cấp sự trung Thẩm Duy Bỉnh lấy việc [Trung Hiền] lập ra các thứ gông cùm để can gián, Trung Hiền đều giả truyền thánh chỉ khiển trách. Phó đô Ngự sử là Dương Liên vô cùng phẫn uất, bèn hặc Trung Hiền tất cả hai mươi tư tội lớn. Việc trình lên vua, Trung Hiền sợ hãi, mới nhờ Hàn Hoảng xin cho nhưng không được đáp ứng, cuối cùng phải khóc lóc kêu oan trước mặt vua, xin thôi việc ở Đông xưởng, Khách thị ở bên cạnh cũng biện giải, [Vương] Thể Càn cũng nói giúp cho y. Vậy mà vua vẫn hồ đồ không nhận ra. Rốt cục lại ôn tồn mà xuống dụ giữ Trung Hiền, sang ngày hôm sau bác bỏ tờ sớ của [Dương] Liên, xuống chỉ trách cứ rất nghiêm khắc. Liên bị cách chức rồi, Ngụy Đại Trung cùng bọn Cấp sự trung Trần Lương Huấn, Hứa Dự Khanh, Phủ Ninh hầu Chu Quốc Bật, Thượng thư bộ Binh ở Nam Kinh là Trần Đạo Hanh, Thị lang là Nhạc Nguyên Thanh cùng hơn bảy mươi người làm thành tấu sớ luận về việc Trung Hiền làm trái luật pháp. [Diệp] Hướng Cao cùng Thượng thư bộ Lễ là Ông Chính Xuân xin đuổi Trung Hiền về nhà, nhân đó phỉ báng qua loa, [vua] không cho.

Ngay lúc ấy, Trung Hiền vô cùng căm phẫn, muốn giết hết những người khác ý mình. Cố Bỉnh Khiêm nhân đó bèn lén thu thập họ tên những người mà hắn ghét đưa cho Trung Hiền, dùng làm thứ tự để gạt bỏ và đuổi đi. Vương Thể Càn lại đề xướng việc dùng hình trượng để uy hiếp đình thần. Không bao lâu sau, Lang trung bộ Công là Vạn Chử dâng sớ đả kích Trung Hiền, bị phạt trượng đến chết. Lại lấy việc của Ngự sử Lâm Nhữ Chứ (13) để làm nhục [Diệp] Hướng Cao, cuối cùng Hướng Cao phải xin trí sĩ, Nhữ Chứ bị phạt trượng. Đình thần ai nấy trong lòng cũng đều rất bất mãn. Bãi chức đồng thời một loạt quan viên, gồm Thượng thư bộ Lại Triệu Nam Tinh, Tả đô Ngự sử Cao Phàn Long, Thị lang bộ Lại Trần Ư Đình cùng bọn Dương Liên, Tả Quang Đẩu, Ngụy Đại Trung tất cả mười người, lại trục xuất Hàn Hoảng cùng Thị lang bộ Binh là Lí Bang Hoa. Người ngay thẳng rời bỏ triều đình, nhiều như lá rụng. [Trung Hiền] bèn giả thánh chỉ cho tập hợp và dùng lệ luân chuyển các khoa và các đạo (14). Lấy Chu Đồng Mông, Quách Doãn Hậu làm Thái bộc thiếu khanh, Lã Bằng Vân, Tôn Kiệt làm Đại lí thừa, lại lấy bọn Hoắc Duy Hoa, Quách Hưng Trị làm Cấp sự trung, Từ Cảnh Liêm, Giả Kế Xuân, Dương Duy Viên làm Ngự sử, lại đưa bọn Từ Triệu Khôi, Vương Thiệu Huy, Kiều Ứng Giáp, Từ Thiệu Cát, Nguyễn Đại Thành (15), Trần Nhĩ Dực, Trương Dưỡng Tố, Lí Ứng Tiến, Lí Tung, Dương Xuân Mậu, làm thành nanh vuốt (16) cho mình. Không lâu sau, lại tính dùng Thôi Trình Tú làm Ngự sử để phòng bị. Trình Tú mới làm các sổ sách như Thiên giám, Đồng chí, Vương Thiệu Huy cũng làm làm thành cuốn Điểm tương lục, trong đó nói bọn Trâu Nguyên Tiêu, Cố Hiến Thành, Diệp Hướng Cao, Lưu Nhất Chử đều là đầu sỏ, gom hết những người không theo Trung Hiền lại, gọi là Đông Lâm đảng nhân, dâng lên Trung Hiền. Trung Hiền vui mừng, vì thế mà bọn tiểu nhân càng thêm xin xỏ nịnh nọt Trung Hiền, hăng hái công kích Đông Lâm vậy.

Ban đầu, triều thần tranh luận về việc ba vụ án, cùng với việc hai kinh (17) thẩm tra Hùng Đình Bật, bản thân Trung Hiền không tham dự. Bọn bè đảng dựa vào thế lực của Trung Hiền, áp đảo những người ngay thẳng, bèn dẫn nhau quy phụ Trung Hiền, tự gọi là con nuôi, lại bảo [với Trung Hiền] rằng: Bọn Đông Lâm sẽ gây họa cho cha đó! , thấy thế, Trung Hiến sao có thể muốn cam tâm. Ngự sử Trương Nột, Nghê Văn Hoán, Cấp sự trung Lí Lỗ Sinh, Chủ sự bộ Công Tào Khâm Trình tranh nhau kích bác người tốt để báo đáp [Trung Hiền]. Ngự sử Lương Mộng Hoàn lật lại vụ Uông Văn Ngôn, lệnh cho Trấn phủ ti tra tấn [Văn Ngôn] đến chết. Hứa Hiển Thuần có đủ tội trạng, liền đem bọn Triệu Nam Tinh, Dương Liên cùng hơn hai mươi người tước quan tịch, theo thứ bậc sai đi thú ngoài biên giới . Bắt [Dương] Liên cùng bọn Tả Quang Đẩu, Ngụy Đại Trung, Chu Triều Thụy, Viên Hóa Trung, Cố Đại Chương cùng sáu người, giam trong ngục đến chết. Lại giết [Hùng] Đình Bật, đánh thông gia của ông ta là Ngự sử Ngô Dụ Trung đến chết. Lại cách chức và đuổi Thượng thư Lí Tông Diên, Trương Vấn Đạt, Thị lang Công Nãi cùng hơn năm mươi người, chốn triều đình trở nên trống vắng. Đặc triệu bọn Nguyên Thi Giáo, Lưu Thuật Tổ, cho làm Ngự sử. Bọn thuộc hạ thân tín [của Trung Hiền] không phân thứ bậc, hết thảy đều được cất nhắc. Vì thế mà bè đảng của Trung Hiền ở khắp nơi, nắm mọi vị trí trọng yếu trong triều vậy.

Vào lúc đó, bọn phiên dịch (18) ở Đông xưởng hoành hành, lùng bắt người bất kể thực hư, lần nào cũng hủ bại. Ngoại thích Lí Thừa Ân là con của đại trưởng công chúa Ninh An, nhà chứa đồ đạc của công chúa ban cho, bị Trung Hiền vu cho tội ăn cắp đồ dùng, trang phục, xe kiệu dành riêng cho vua, luận tội chết. Trung thư Ngô Hoài Hiền độc tờ sớ của Dương Liên, phát ra khí tiết mà thở dài. Bọn đầy tớ báo cho [Trung Hiền], bèn giết Hoài Hiền, tịch thu gia sản của ông ta. Quan võ là Tưởng Ứng Dương vì việc của [Hùng] Đình Bật mà kêu oan, lập tức bị giết chết. Trong dân gian có kẻ bất chợt nói lời xúc phạm Trung Hiền, cũng bị bắt giết ngay lập tức, thậm chí còn bị lột da, cắt lưỡi, giết người không thể đếm nổi, người đi đường đều nhìn thấy. Năm ấy, [vua] xét công lao của họ tộc Trung Hiền, gia ân ba bậc, cho con cháu được tập ấm chức Đô đốc đồng tri. Lại cho người chú trong họ là Ngụy Chí Đức làm chức Đô đốc thiêm sự. Bố nhiệm Phó Ứng Tinh làm Tả đô đốc, lại còn biểu dương mẹ của y. Lại lấy Ngụy Lương Khanh làm Cẩm y vệ thiêm thư (19), chưởng quản việc của Nam trấn phủ ti.

Năm thứ sáu, tháng hai, nghi vệ cho việc đại giá (20) làm xong, [vua] cho con cháu [Trung Hiền] được tập ấm chức Đô đốc thiêm sự. [Trung Hiền] lại sai bè đảng là Lí Vĩnh Trinh giả mạo tấu sớ của thái giám Chiết Giang Lí Thực, bắt giữ Tuần phủ Ứng Thiên là Chu Khởi Nguyên cùng các quan viên miền Giang, Chiết như Cao Phàn Long, Chu Tông Kiến, Mậu Xương Kì, Chu Thuận Xương, Hoàng Tôn Tố, Lí Ứng Thăng. Phàn Long nhảy xuống nước chết, còn Thuận Xương cùng sáu người chết trong ngục. Dân Tô Châu thấy cảnh bắt giữ Thuận Xương thì bất bình, đánh chết hai viên Hiệu úy, Tuần phủ Mao Nhất Lộ phải bắt Nhan Bội Vi cùng năm người tất cả đem giết chết. Thượng thư bộ Hình là Từ Triệu Khôi quản việc tù ngục, nổi giận với Trung Hiền, liền bị xử đại tích (21). Lại theo lời của Hoắc Duy Hoa, mệnh Cố Bỉnh Khiêm biên soạn sách Tam triều yếu điển, bên trong cực lực phỉ báng người của các đảng khác là độc ác. Ngự sử Từ Phục Dương xin phá bỏ các thư viện giảng học để tuyệt căn cứ của các đảng. Ngự sử Lư Thừa Khâm lại xin lập bia về [việc thanh trừng] đảng Đông Lâm. Không khí tang tóc, người trong thiên hạ ai nấy đều nín thở. Hoắc Duy Hoa bèn bảo Trung Hiền mạo nhận việc lập công ở biên giới.

Có người đàn ông ở Liêu Dương là Vũ Trường Xuân đi chơi kĩ viện, nói lời xằng bậy, bị Đông xưởng bắt. Hứa Hiền Thuần thẩm vấn, cố ý khoe khoang [với vua] rằng: Trường Xuân chống đối, không bắt ắt sẽ thành loạn, may nhờ xưởng thần dốc lòng trung trí lập được kì công này. [Vua] xuống chiếu phong cháu của Trung Hiền là Lương Khanh là Túc Ninh bá, ban cho phủ đệ, ruộng vườn, lại cấp cho thiết khoán (22). Thượng thư bộ Lại Vương Thiệu Huy xin bày tỏ lòng tôn kính tới tổ tiên của Trung Hiền, [vua] xuống chiếu dựa theo chức tước mà tặng [tổ tiên] bốn đời nhà Trung Hiền. Trung Hiền lại giả chiếu sai bè đảng là thái giám Lưu Ứng Khôn, Đào Văn, Kỉ Dụng trấn thủ Sơn Hải quan, thâu tóm binh quyền. [Trung Hiền] lại kể công [với vua], [vua] lại cho con cháu tập ấm các chức Đô đốc đồng tri, Cẩm y vệ Chỉ huy sứ, mỗi chức một người. Tuần phủ Chiết Giang Phan Nhữ Trinh tấu lên xin lập miếu thờ Trung Hiền. Tổng đốc Tiết Trinh nói kho chứa cỏ bị cháy, nhờ Trung Hiền cứu mà không bị tổn hại. Lúc ấy những kẻ ca tụng công đức [Trung Hiến] nối tiếp nhau, các miếu thờ vì thế mà đều mọc lên vậy.

Biên tu Ngô Khổng Gia với người trong họ là Ngô Dưỡng Xuân có hiềm thù, mới dụ người hầu của Dưỡng Xuân báo cho chủ đi ẩn ở núi Chiêm Hoàng, cha con Dưỡng Xuân vì đói rét mà chết. Trung Hiền lại sai Chủ sự Lữ Hạ Vấn, Bình sự Hứa Chí Cát trước sau đến Huy Châu tịch thu gia sản [của Dưỡng Xuân] trên diện rộng một cách tàn khốc. Tri phủ là Thạch Vạn Trình không nhịn được bèn cắt bỏ tóc của mình, khắp Huy Châu hầu như có loạn. Bè đảng của Trung Hiền là Đô đốc Trương Thể Càn vu cáo Tri phủ Dương Châu là Lưu Đạc thay Lí Thừa Ân âm mưu trốn khỏi ngục, kết giao với đạo sĩ Phương Cảnh Dương nguyền rủa Trung Hiền, Đạc cuối cùng bị chém. Lại vì thù riêng mà vu oan cho con của Tân Thành hầu là Cẩm y vệ Vương Quốc Hưng, luận tội chém, đồng thời cách chức Chủ sự Từ Thạch Kì. Ngự sử Môn Khắc Tân vu cho người Ngô (23) là bọn Cố Đồng Dần, Tôn Văn Trãi cầu cúng Hùng Đình Bật, xử tội yêu ngôn, theo luật phải chém. Lại bắt Thị lang Vương Chi Thái, giết trong ngục. Phàm những người thù ghét Trung Hiền từ trước, như Hàn Hoảng, Trương Vấn Đạt, Hà Sĩ Tấn, Trình Chú, tuy đã bị bãi chức, nhưng vẫn bị tước quan tịch, nặng thì bị sung quân, nếu chết rồi ắt bị truy tìm tang chứng, phá phách nhà cửa. Còn nếu chẳng may bị Trung Hiền bỏ sót thì cũng bị bọn bè đảng truy luận việc cũ, để kích nộ Trung Hiền.

Bấy giờ, đại quyền trong ngoài nhất loạt đều thuộc về Trung Hiền. Nội giám (24) từ Vương Thể Càn cho đến bên ngoài là bọn Lí Triều Khâm, Vương Triều Phụ, Tôn Tiến, Vương Quốc Thái, Lương Đống cùng hơn ba mươi người đều làm vây cánh tả hữu. Ngoài triều đình thì có quan văn là bọn Thôi Trình Tú, Điền Cát, Ngô Thuần Phu, Lí Quỳ Long, Nghê Văn Hoán chủ trì việc bàn bạc tính toán, gọi là ngũ hổ. Quan võ là bọn Điền Nhĩ Canh, Hứa Hiển Thuần, Tôn Vân Hạc, Dương Hoàn, Thôi Ứng Nguyên chủ trì việc giết chóc, gọi là ngũ bưu (25). Lại tính cả bọn Thượng thư bộ Lại là Chu Ứng Thu, Thái bộc thiếu khanh là Tào Khâm Trình, tất cả gọi chung là thập cẩu, cũng gọi là thập hài nhi, tứ thập tôn. Bọn môn hạ của Trình Tú nhiều không thể đếm hết. Từ Nội các, sáu bộ cho tới Tổng đốc, Tuần phủ, khắp nơi đều có bè đảng nắm giữ. [Trung Hiền] trong lòng thù ghét đối với Trương hoàng hậu. Mùa thu năm ấy, [Trung Hiền] vu cho cha của hoàng hậu là Trương Quốc Kỉ dung túng cho đầy tớ vi phạm luật pháp, bèn giả truyền chỉ của trung cung (26) để hòng quấy nhiễu. Vua truyền giữ đúng luật pháp mà xử trí, lại khiển trách Trương Quốc Kỉ. Trung Hiền chưa hết oán giận, lại sai Phủ thừa Thuận Thiên Lưu Chí Tuyển, Ngự sử Lương Mộng Hoàn ban bố tội trạng của Quốc Kỉ, nói hoàng hậu không phải con gái Quốc Kỉ. Gặp lúc Vương Thể Càn dùng lời nặng nề đe dọa, mới thôi.

Mùa đông, xây xong ba điện (27). Lí Vĩnh Trinh, Chu Ứng Thu tấu lên [vua] công trạng của Trung Hiền, [vua] cuối cùng thăng [Trung Hiền] lên tước công, gia ân ba bậc. Ngụy Lương Khanh trước đã được tấn tước Túc Ninh hầu, nay tấn tước Ninh quốc công, ăn lộc như Ngụy quốc công, lại gia ân cho con cháu tập ấm chức Cẩm y vệ Chỉ huy sứ một người, Đồng tri một người. Thượng thư bộ Công là Tiết Phượng Tường tâu lên vua xin cấp phủ đệ cho [Lương Khanh]. Lại dùng thái giám Đào Văn tâu xin xây thành ở cửa ải Hỉ Phong, đốc sư Vương Chi Thần tâu xin xây thành ở Sơn Hải quan, Thượng thư bộ Hình Tiết Trinh tâu trình đã giam thủ lĩnh của bọn đạo tặc vào ngục Cẩm y vệ, Hiếu lăng (28) ở Nam Kinh tu sửa xong, Cam trấn báo tiệp, Thự thừa Trương Vĩnh Tộ bắt bọn trộm cướp đang hoành hành, nhân đó nói Trung Hiền là người phân chia, trù tính sách lược. Trung Hiền lại tự tấu ba năm vây bắt có công, [vua] xuống chiếu biểu dương. Trong vòng nửa năm, con cháu Trung Hiền lại được tập ấm Cẩm y vệ Chỉ huy sứ bốn người, Đồng tri ba người, Thiêm sự một người. Cho cháu là [Ngụy] Hi Mạnh thế tập chức Cẩm y vệ Đồng tri, cháu gọi bằng cậu là bọn Phó Chi Tông, Phùng Kế Tiên đều được làm Đô đốc thiêm sự, lại cất nhắc em của Thôi Trình Tú là Ngưng Tú lên làm Phó tổng binh Kế Trấn. Mạo xưng và lạm dụng chỗ người hiền giúp nước (29) đến cùng cực như vậy. Bè đảng của Trung Hiền tới tận những nơi hiểm yếu như các trấn Kế, Liêu hay Tuyên, Đại ở Sơn Tây (30). Bọn tổng binh Lương Trụ Triều, Dương Quốc Đống hằng năm đều hối lộ [Trung Hiền] ngựa tốt, đồ quý không dứt.

Năm thứ bảy, mùa xuân, lại lấy Thôi Văn Thăng làm Tào vận tổng đốc (31), Lí Minh Đạo làm Hà đạo tổng đốc (32), Hồ Lương Phụ trấn thủ Thiên Tân. Văn Thăng trước hầu hạ thuốc thang cho Quang Tông, từng bị Đông Lâm đảng công kích. Trong nước bắt đầu nổi thói đua nhau siểm nịnh [Trung Hiền], bọn đốc phủ (33) và quan lớn như Diêm Minh Thái, Lưu Chiếu, Lí Tinh Bạch, Diêu Tông Văn đều đua nhau ca tụng công đức, lập miếu [cho Trung Hiền], huyên náo đến mức không kịp. Hạ lệnh cho những kẻ vũ phu, thương nhân, cũng như bọn vô lại lập miếu thờ [Trung Hiền], tinh xảo đến cùng cực. Cưỡng đoạt, xâm chiếm nhà cửa, ruộng vườn của dân, san mồ mả, chặt cây cối, không thể chịu đựng được. Giám sinh Lục Vạn Linh lại khẩn xin phối thờ Trung Hiền cùng Khổng tử, phụ thờ Trung Hiền với Khải Thánh công (34).

Ban đầu, Phan Nhữ Trinh dâng sớ lên vua, nói Ngự sử Lưu Chi Đãi lên chầu muộn một ngày, [Đãi] liền bị tước bỏ quan tịch. Tham nghị Kế Châu Hồ Sĩ Dung (35) vì không chịu sửa soạn văn từ lập miếu, Binh bị phó sứ Tuân Hóa Cảnh Như Kỉ (36) lúc vào miếu không chịu bái lạy, đều bị hạ ngục, luận tội chết. Cho nên phong tục thiên hạ bại hoại, tấu chương bất kể lớn nhỏ, đều toàn là ca tụng Trung Hiền. Tông thất như Sở vương Hoa Khuể, Trung thư Chu Thận Giám, huân thích như Phong Thành hầu Lí Vĩnh Tộ, đình thần như Thượng thư Thiệu Phụ Trung, Lí Dưỡng Đức, Tào Tư Thành, Tổng đốc Trương Ngã Tục, cho tới bọn Tôn Quốc Trinh, Trương Dục Minh, Quách Doãn Hậu, Dương Duy Hòa, Lí Thời Hinh, Uông Nhược Cực, Hà Đình Xu, Dương Duy Tân, Trần Duy Tân, Trần Nhĩ Dực, Quách Như Ám, Quách Hi Vũ, Từ Dung Bối đều dùng lời lẽ nịnh nọt rườm rà, bất chấp liêm sỉ. Trung Hiền khi ấy cũng dùng ân huệ để báo đáp lại những người đó. Bất kì tấu sớ nào dâng lên, đều phải gọi là Xưởng thần chứ không được gọi tên. Đại học sĩ Hoàng Lập Cực, Thi Phượng Lai, Trương Thụy Đồ lập phiếu chỉ (37), cũng đều viết Trẫm và xưởng thần, mà không dám gọi tên Trung Hiền ra. Ở Sơn Đông có kì lân, Tuần phủ Lí Tinh Bạch vẽ hình lại để làm tin. [Hoàng] Lập Cực lập phiếu chỉ rằng: Xưởng thần sửa sang đức hạnh, vì thế mà có nhân thú tới. Dối trá xằng bậy đến như vậy. [Vua] trước sau lại ban sắc xuống khen ngợi, không chút tính toán, lại khởi thảo chiếu thư ban cho cửu tích, bố cáo trong ngoài (38).

Năm ấy, từ mùa xuân cho đến màu thu, Trung Hiền mạo nhận công lao bắt giữ Uông Thiệu Bính, A Ban Đãi La Thiết, [vua] cho con cháu được tập ấm chức Cẩm y vệ Chỉ huy sứ, lâu ngày lên tới mười bảy người. Cháu trong họ [của Trung Hiền] là bọn Hi Khổng, Hi Mạnh, Hi Nghiêu, Hi Thuấn, Bằng Trình, người bên thông gia là bọn Đổng Phương Danh, Vương Tuyển, Dương Lục Kì, Dương Tộ Xương đều làm tới các chức Tả, Hữu đô đốc với Đô đốc đồng tri, Đô đốc thiêm sự. Lại cho em của Khách thị là Quang Tiên làm Đô đốc. Ngụy Phủ Dân từ Cẩm y vệ lại được đổi sang chức khanh ở Thượng bảo ti (39). Trung Hiền vẫn chưa vừa lòng, gặp lúc Viên Sùng Hoán tấu báo tiệp từ Ninh Viễn, Trung Hiền bèn lệnh cho Chu Ứng Thu tâu xin phong cho chắt họ là Bằng Dực làm An Bình bá. Lại kể ba công lớn về việc xây cất, [vua] phong cho cháu họ [của Trung Hiền] là Lương Đống làm Đông An hầu, thăng Lương Khanh lên làm Thái sư, Bằng Dực làm Thiếu sư, Lương Đống làm Thái tử thái bảo. Nhân việc đó mà ban thưởng cho các đình thần. Dùng [Thôi] Trình Tú làm Thượng thư bộ Binh kiêm Tả đô ngự sử, riêng [Viên] Sùng Hoán bị cách chức, công trạng không được ghi chép. Lúc ấy, Bằng Dực, Lương Đống đều còn đang quấn tã, chưa biết đi vậy. Lương Khanh thậm chí còn được thay mặt thiên tử làm các lễ Nam giao, Bắc giao, cúng tế ở Thái miếu. Vì thế mà thiên hạ ai nấy đều nghi Trung Hiền sắp làm cái việc soán đoạt vậy.

Vua tính khéo léo, giỏi việc cưa chặt, sơn vẽ, đều tự tay làm lấy, đã lâu năm mà không biết mỏi mệt. Mỗi lần [vua] căng dây vạch kẻ, Trung Hiền lại dâng lên hàng loạt tấu sớ. Vua chán nản việc ấy, mới bảo [Trung Hiền] rằng: Trẫm đã biết cả rồi, ngươi tự làm lấy cho tốt. Trung Hiền vì thế mà mặc sức chuyên quyền độc đoán theo ý mình. Trong vòng một năm, [Trung Hiền] xuất hành, mỗi lần đều ngồi xe tốt, dùng màn bằng lông chim để che, cỏ xanh để lợp, bốn ngựa đi như phi, mỗi lần xe đi qua chiêng trống ầm ĩ, cát bụi nổi mù mịt. Bọn Cẩm y vệ lưng đeo đai ngọc, chân đi giày ủng, tay cầm đao, cưỡi ngựa chạy theo hai bên tả hữu, lại thêm bọn người phục vụ ăn nghỉ, nhạc công phường chèo, biểu diễn tạp kĩ cùng với đầy tớ tùy tùng tính đến vạn người. Tấu chương của trăm quan, đều đặt dịch trạm, cho ngựa tốt đuổi theo dâng lên. Khi đi qua, sĩ đại phu chặn đường mà phủ phục bái lạy, thậm chí hô là Cửu thiên tuế, Trung Hiền ngoảnh lại nhìn, thái độ như chưa từng đến chỗ đấy vậy. Khách thị ở trong cung, ức hiếp hoàng hậu, tàn bạo ngược đãi các cung tần. Gặp lúc bất chợt xuất cung để về phủ đệ, bọn tùy tùng đi trước nghênh ngang chiếu sáng các ngả đường, gần như nghi vệ [của hoàng đế]. Trung Hiền vốn dĩ ngu độn không có tài cán gì, bè đảng của y phải ngày đêm chỉ bảo, Khách thị làm chủ bên trong, xúi giục chúng hoành hành ngang ngược, trong nước mệt mỏi vì họa loạn.

Năm thứ bảy, mùa thu, tháng tám, Hi Tông băng, Tín vương lên ngôi. Vương vốn biết rõ tội ác của Trung Hiền, nên rất mực cảnh giác phòng bị, bè đảng của y bắt đầu sợ hãi. Dương Sở Tu, Dương Duy Viên trước hết công kích [Thôi] Trình Tú việc thử dò xét tâm ý của vua (40), Chủ sự Lục Trừng Nguyên, Tiền Nguyên Khác, Viên ngoại lang Sử Cung Thịnh cùng lúc dâng tấu luận tội Trung Hiền. Vua giữ kín, chưa phát giác. Lúc ấy cống sinh Gia Hưng là Tiền Gia Trưng đàn hặc Trung Hiền mười tội lớn: Thứ nhất, dám sánh ngang hoàng đế; Thứ hai, coi thường miệt thị hoàng hậu; Thứ ba, xúi giục phát động binh quyền; Thứ tư, bất kính với các vị tiên đế; Thứ năm, giới hạn, bãi bỏ tước phong của các phiên vương; Thứ sáu, không coi bậc thánh nhân ra gì; Thứ bảy, gia phong chức tước bừa bãi; Thứ tám, giấu giếm việc ở ngoài biên giới; Thứ chín, bóc lột nhân dân trăm họ; Thứ mười, qua lại tham ô hối lộ. Sớ dâng lên, vua gọi Trung Hiền, sai nội thị đọc. Trung Hiền cả sợ, vội lấy bảo vật đút cho thái giám ở phủ đệ Tín vương là Từ Ứng Nguyên để xin biện giải. Ứng Nguyên khi trước từng chơi cờ bạc với Trung Hiền. Vua biết được, bèn đuổi Ứng Nguyên. Tháng mười một, cuối cùng an trí Trung Hiền ở Phượng Dương, sau đó lại mệnh truy bắt. Trung Hiền đi tới Phụ Thành, nghe tin, mới cùng Lí Triều Khâm thắt cổ mà chết. [Vua] xuống chiếu, đem tử thi của y đi xé xác phanh thây, treo đầu ở phủ Hà Gian. Đánh roi Khách thị đến chết ở Hoán y cục (41). Ngụy Lương Khanh, Hầu Quốc Hưng, Khách Quang Tiên đều bị xử tử, đem xác thị chúng và tịch thu gia sản. Lại tịch thu gia sản nhà Khách thị, [tìm thấy] bên trong có tám người cung nữ, có lẽ là định bắt chước việc làm của Lã Bất Vi (42), họ đều oán giận Khách thị.

Sùng Trinh năm thứ hai, [vua] mệnh Đại học sĩ Hàn Hoảng cùng định vụ nghịch án, bước đầu đại để trục xuất bè đảng của Trung Hiền, tiến cử và sử dụng lại những người thuộc Đông Lâm đảng. Bọn người liên quan đến vụ nghịch án ngày đêm mưu đồ báo thù. Sau đó, bọn Ôn Thể Nhân, Tiết Quốc Quán nối nhau nắm giữ triều chính, ngầm hãm hại những người ngay thẳng, hòng lật lại vụ nghịch án. Vua rốt cục chán ghét việc bè đảng liên tục của các đình thần, lại quay sang trọng dụng hoạn quan. Trong vụ nghịch án còn sót lại Nguyễn Đại Thành cùng thuộc hạ mặc sức làm hại ở đất Giang Tả, cuối cùng đi tới chỗ diệt vong (43).

Chú thích:

(1) Một trong mười kho của cung nhà Minh, tích trữ các loại vải vóc, phẩm nhuộm, thuộc quyền quản lí của bộ Hộ.

(2) Chỉ Minh Hi Tông Chu Do Hiệu. Lúc này, Minh Thần Tông vẫn còn đang tại vị, Chu Do Hiệu là con trưởng của thái tử Chu Thường Lạc (sau là Quang Tông), do đó được gọi là Hoàng trưởng tôn.

(3) Nguyên văn: 對食 (đối thực), có nghĩa là ăn cùng nhau mặt đối mặt. Ám chỉ việc dan díu tư thông với nhau.

(4) Một trong bốn ti hoạn quan đời Minh, phụ trách việc củi lửa trong cung.

(5) Lúc này hoàng hậu của Hi Tông, tức là Trương hoàng hậu mới 11 tuổi.

(6) Nguyên văn: 國本之爭 (Quốc bản chi tranh). Ngôi thái tử là căn bản của quốc gia, nên gọi là quốc bản.

(7) Đời Minh từ sau vụ án Hồ Duy Dung năm 1380, Minh Thái Tổ phế bỏ chế độ thừa tướng, lập ra chức Đại học sĩ, tuy nhiên không có thực quyền. Sang thời Minh Thành Tổ kiến lập Nội các, đứng đầu là một Đại học sĩ, gọi là Thủ phụ. Qua thời gian quyền lực Nội các tăng lên, vì thế chức Thủ phụ gần như có thể coi là Tể tướng một cách không chính thức.

(8) Ba vụ đại án thời Minh mạt. Đĩnh kích án: vụ án Trịnh quí phi sai người xông vào cung hãm hại thái tử Chu Thường Lạc, con trưởng của Minh Thần Tông, để lập con trai mình là Phúc vương Chu Thường Tuân; Hồng hoàn án: vụ án Minh Quang Tông Chu Thường Lạc dùng thuốc hồng hoàn mà băng hà khi mới lên ngôi được 30 ngày; Di cung án: Sau khi Quang Tông băng, Hi Tông lên ngôi, Lí Khang phi của Quang Tông lấy địa vị mẹ nuôi của Hi Tông định mưu làm Hoàng thái hậu, vào ở trong cung Càn Thanh. Các đại thần thuộc Đông Lâm đảng là Dương Liên, Tả Quang Đẩu ép Lí Khang phi dời khỏi cung Càn Thanh đến cung khác sống, sau này Yêm đảng do Ngụy Trung Hiền đứng đầu thắng thế, đã lật lại vụ việc này và quy tội cho Đông Lâm đảng.

(9) Lăng của Minh Quang Tông.

(10) Có lẽ ở đây nhầm lẫn với Trương hoàng hậu. Minh sử, quyển 114: Ý An Trương hoàng hậu truyện chép: Năm thứ ba, hậu có thai, Khách, Ngụy đuổi hết cung nhân khác ý chúng, lấy bọn người thân tín vào hầu hạ, cuối cùng làm mất nguyên tử. Nguyên tử tức là con đầu lòng do hoàng hậu sinh ra. Trong khi đó, Trương Dụ phi truyện chỉ chép: Khách, Ngụy căm ghét vì [phi] khác ý chúng, mới giam vào biệt cung, không cho ăn uống.

(11) Gọi tắt của chức Trung thư xá nhân, là chức quan trong Nội các phụ trách việc khởi thảo chiếu thư cho hoàng đế và tham nghị các tấu sớ, quyền dưới Đại học sĩ.

(12) Tổ chức quản lí việc hình luật trong quân đội ở các vệ sở đời Minh, tuy nhiên ở đây dùng để chỉ Trấn phủ ti thuộc Cẩm y vệ, được chia thành 2 ti bắc nam. Nam trấn phủ ti phụ trách quân pháp và tình báo của Cẩm y vệ, còn Bắc trấn phủ ti phụ trách việc truyền lệnh và xử lí các vụ án do hoàng đế khâm điểm, được phép tự bắt người hạ ngục, tra tấn và xử tử khi có lệnh.

(13) Ngự sử Lâm Nhữ Chứ vốn là cháu gọi Diệp Hướng Cao bằng cậu, dùng roi đánh thủ hạ của Ngụy Trung Hiền là nội thị Tào Tiến, đến khi Trung Hiền biết được, chuẩn bị bắt giữ thì Nhữ Chứ đã liệu trước việc ấy, chạy đi Tuân Hóa. Trung Hiền bèn phái người tới nhà Hướng Cao để tróc nã, lại sai bọn hoạn quan đứng ngoài đánh trống huyên náo.

(14) Đời Minh-Thanh, lập ra sáu khoa ứng với sáu bộ, do các Cấp sự trung điều hành, cộng với mười ba đạo ở Đô sát viện do các Giám sát Ngự sử đứng đầu, thường gọi là lưỡng nha môn.

(15) Nguyên văn: 阮大鋮. Chữ 鋮 không có trong Khang Hi tự điển, tuy nhiên có âm ‘chéng’ đồng âm với chữ 成 (thành) ở bên trong, nên tạm gọi là thành.

(16) Nguyên văn: 爪牙(trảo nha). Trảo là móng, nha là răng, trảo nha chỉ những kẻ thuộc hạ thân tín.

(17) Nhà Minh ban đầu định đô ở Ứng Thiên phủ, đến thời Minh Thành Tổ, dời đô lên Bắc Bình, đổi gọi là Kinh sư Thuận Thiên phủ, còn Ứng Thiên phủ gọi là Nam Kinh, giữ vị trí bồi đô.

(18) Sai dịch thi hành việc truy bắt ở các cơ quan mật vụ như Đông xưởng, Tây xưởng, Cẩm y vệ dưới thời Minh, cũng gọi là 番子 (phiên tử).

(19) Chức quan lo việc huấn luyện quân sĩ kiêm quản việc đồn điền canh tác của quân đội.

(20) Ngày xưa, vua chúa xuất hành, nếu đi thành đoàn lớn có nhiều xe theo hầu thì gọi là 大駕 (đại giá), nếu đi thành đoàn chỉ có ít xe thì gọi là 法駕 (pháp giá).

(21) Tức là tử hình, hình phạt cao nhất trong ngũ hình có từ trước thời Tần. Các hình thức đại tích bao gồm: chém đầu, đâm chết, thắt cổ, cho vào vạc dầu, chôn sống, chém ngang lưng, tứ mã phanh thây, lăng trì. Ngoài ra thi thể tội nhân sau khi chết phải chịu một trong bốn hình thức sau: đánh roi, xé xác, phơi khô, băm nát.

(22) Vật hoàng đế ban cho công thần hoặc trọng thần, biểu thị giao ước giữa hoàng đế và người được ban, thường là miễn tội chết.

(23) Ngô là tên gọi khác của vùng Tô Châu.

(24) Nguyên văn: 豎 (thụ), có nghĩa là chức quan nhỏ hầu bên trong cung. Như vậy ắt hẳn đều là thái giám, cho nên dịch là nội giám.

(25) Bưu (彪) cũng có nghĩa là hổ.

(26) Trung cung tức là hoàng hậu.

(27) Chỉ ba điện Hoàng Cực, Trung Cực, Kiến Cực (sang đời Thanh đổi gọi là Thái Hòa, Trung Hòa, Bảo Hòa) trong Tử Cấm thành, vốn đã bị hư hỏng trước đó.

(28) Lăng Minh Thái Tổ.

(29) Nguyên văn: 名器 (danh khí), chỉ bề tôi hiền tài giúp đỡ quốc gia, xuất phát từ sách Tả truyện – Thành công nhị niên: 唯器與名,不可以假人,君之所司也. Đỗ Dự đời Tấn chú giải: “Danh là tước hiệu, khí là ngựa xe”, ngựa xe ám chỉ chế định của quốc gia.

(30) Kế: Kế Châu, nay là khu Kế Châu thuộc thành phố Thiên Tân; Liêu: Liêu Đông, Tuyên: Tuyên Hóa, Đại: Đại Đồng. Đều là các trọng trấn quân sự đời Minh.

(31) Tổng đốc phụ trách việc vận chuyển bằng đường thủy.

(32) Tổng đốc phụ trách các vấn đề liên quan đến sông ngòi cả nước.

(33) Đốc: Tổng đốc; phủ: Tuần phủ.

(34) Tước phong cho phụ thân Khổng tử vào năm Gia Tĩnh thứ 9 (1530) thời Minh Thế Tông.

(35) Nguyên văn: 薊州道(Kế Châu đạo). Minh sử, quyển 248: Cảnh Như Kỉ truyện chép là Hồ Sĩ Dung làm Tham nghị Kế Châu.

(36) Nguyên văn: 遵化道(Tuân Hóa đạo). Nay theo Cảnh Như Kỉ truyện chép là Binh bị phó sứ.

(37) Cũng gọi là phiếu nghĩ (票擬) hay điều chỉ (條旨), theo đó các tấu chương sẽ được các Đại học sĩ trong Nội các phê duyệt bằng cách viết kiến nghị lên giấy (票, phiếu) dán lên tấu chương, trước khi trình hoàng đế ngự lãm. Hoàng đế khi xem xong cũng phê ý kiến vào giấy này.

(38) Cửu tích là chín loại vật phẩm theo nghi thức cao nhất mà hoàng đế ban thưởng, thường là cho quyền thần, theo thứ tự gồm: ngựa xe, y phục, dũng sĩ, nhạc khí, nạp bệ (được phép lên và vào điện mà không lộ thân), chu hộ (cửa lớn màu đỏ), cung tên, phủ việt (búa rìu), rượu nếp đen.

(39) Cơ quan chưởng quản về các loại ngọc tỉ, phù, lệnh bài, ấn chương. Gồm các chức quan: Thiết khanh 1 người, hàm Chính ngũ phẩm; Thiếu khanh 1 người, hàm Tòng ngũ phẩm; Ti thừa 3 người, hàm Chính lục phẩm.

(40) Chỉ Sùng Trinh đế, lúc chưa lên ngôi được Hi Tông phong là Tín vương.

(41) Một trong tám cục do hoạn quan nắm giữ thời Minh, phụ trách việc giặt giũ quần áo, phục vụ hoàng đế và hoàng thất.

(42) Ý nói đem con của những cung nhân này sinh ra, mạo nhận là dòng giống hoàng đế để mưu đồ thao túng đại quyền.

(43) Sau khi nhà Minh sụp đổ, Phúc vương Chu Do Tung lên ngôi ở Nam Kinh lập ra chính quyền Nam Minh, Nguyễn Đại Thành cùng Mã Sĩ Anh khuynh đảo quyền chính, kết bè kết đảng, hãm hại trung lương. Cuối cùng năm 1645, quân Thanh hạ được Nam Kinh, bắt Phúc vương, Đại Thành về sau cũng hàng Thanh, chết không lâu sau đó.

Tài liệu tham khảo:

[1] Wikisource tiếng Trung, Minh sử, quyển 305: https://zh.wikisource.org/wiki/%E6%98%8E%E5%8F%B2/%E5%8D%B7305

[2] Bách khoa toàn thư Baidu, mục từ Ngụy Trung Hiền: https://baike.baidu.com/item/%E9%AD%8F%E5%BF%A0%E8%B4%A4

Vui lòng không tự up lại khi chưa có sự đồng ý của người dịch!

Nhận xét

Bài đăng phổ biến