Plinius Trẻ - Những thư tín

 1, Tác giả và tác phẩm:

Gaius Plinius Caecilius Secundus (61 – khoảng 113 sau Công nguyên) hay Plinius Minor, thường được biết đến trong tiếng Anh là Pliny the Younger (Plinius Trẻ) là một luật gia, tác gia và quan chức thời La Mã cổ đại. Sở dĩ ông mang tên Minor (Trẻ) để phân biệt với Plinius Già (Plinius Maior, hay Pliny the Elder trong tiếng Anh), nhà tự nhiên học với tác phẩm nổi tiếng Lịch sử tự nhiên (Naturalis historia), người cậu có công nuôi dưỡng và giáo dục ông.

Plinius Trẻ sinh ra ở thành phố Novum Comum (nay là Como ở miền bắc Ý) năm 61 sau Công nguyên, với tên khai sinh là Gaius Caecilius Cilo. Ông là con trai của Lucius Caecilius Cilo và vợ là Plinia Marcella, chị gái của Plinius Già. Ông Lucius chết khi Gaius còn nhỏ, vì thế cậu bé được giám hộ bởi Lucius Verginius Rufus, một viên tướng trong quân đội. Sau đó ông được gửi đến Roma, theo học các nhà tu từ học Quintilianus và Nicetes Sacerdos, và bắt đầu gắn bó với người cậu Plinius. Năm 79, Plinius chết trong lúc cố gắng cứu các nạn nhân trong vụ việc núi lửa Vesuvius phun trào. Ông Plinius không có con, do đó trong di chúc đã nhận Gaius làm con nuôi và người thừa kế tài sản. Theo luật lệ lúc bấy giờ, Gaius thêm họ Plinius vào tên của mình, và vì thế tên chính thức của ông là Gaius Plinius Caecilius Secundus.

Xuất thân trong gia đình thuộc tầng lớp kị sĩ (1), Plinius Trẻ bắt đầu tham gia chính trị vào năm 18 tuổi. Ban đầu, ông làm thẩm phán trong phiên tòa centumvir (2), và nhận chức sĩ quan tham mưu (3) cho quân đoàn số 3 Gallica trong vòng 6 tháng. Năm 88 (hoặc 89), ông được hoàng đế Domitianus bổ nhiệm làm quan tài vụ (4), rồi trải qua các chức quan bảo dân, pháp quan, trưởng kho bạc quân đội và đỉnh cao là chức quan chấp chính dự khuyết (5) (năm 100). Hoàng đế Traianus rất tin tưởng ông, ba lần mời vào hội đồng tư pháp, lại bổ nhiệm ông làm khâm sai (6) tỉnh Bithynia và Pontus năm 110. Năm 113, Plinius được cho là qua đời khi đang tại chức.

Về sự nghiệp viết lách, Plinius Trẻ đã viết một vở bi kịch bằng tiếng Hi Lạp khi mới 14 tuổi, và sáng tác rất nhiều thơ trong suốt cuộc đời mình, tuy nhiên hầu hết chúng đều bị thất lạc. Ông cũng là một nhà hùng biện nổi tiếng, tự cho mình là học trò của Cicero, thế nhưng văn chương của ông lại khoa trương và ít thẳng thắn hơn Cicero.

Tác phẩm lớn nhất đến nay còn sót lại của Plinius Trẻ là những bức thư gửi cho bạn bè và những người có quan hệ, gọi chung là Những thư tín (Epistulae), chia thành 10 quyển trong đó gồm 247 bức có giá trị cao về mặt lịch sử. Một số bức thư được gửi đến các hoàng đế cũng như những người có tiếng tăm lúc bấy giờ, chẳng hạn như nhà sử học Tacitus. Thư tín cung cấp một nguồn tư liệu đáng tin cậy về cách tổ chức, quản lí hành chính của La Mã cũng như đời sống thường nhật trong thế kỉ thứ 1 và đầu thế kỉ thứ 2. Đáng chú ý là ông mô tả sự kiện núi lửa Vesuvius phun trào vào tháng 8 năm 79 trong các bức thư số 16 và 20 thuộc quyển VI, và bức thư số 96 thuộc quyển X nói về việc xin chỉ thị từ hoàng đế Traianus đối với vấn đề người Kitô giáo, khi ông làm khâm sai ở tỉnh Bithynia và Pontus.

2. Trích đoạn tác phẩm (Những thư tín X.96 - 97)

Traianus, hoàng đế La Mã, cai trị 98-117 CN

[X.96] Gửi hoàng đế Traianus

Đây là thông lệ của tôi, thưa hoàng đế, để hỏi ý kiến ngài về tất cả những vấn đề mà tôi cảm thấy không chắc chắn, để ngài có thể làm sáng tỏ những hoài nghi của tôi, hoặc nói cho tôi biết sự mù mờ của tôi chăng? Tôi chưa từng có mặt ở bất cứ buổi thẩm vấn người Kitô giáo nào, và tôi cũng không biết, thành thử ra, những hình phạt thông thường nào được áp dụng cho họ, giới hạn nào cho những hình phạt ấy, cũng như phải thực hiện một cuộc thẩm vấn ra sao? Tôi đã do dự trước một vấn đề lớn, đó là cân nhắc liệu có nên đưa ra bất cứ sự phân biệt nào về tuổi tác của những người bị cáo buộc hay không? Liệu kẻ yếu có nên bị chịu hình phạt nặng nề như những kẻ mạnh hơn? Liệu rằng nếu họ chối bỏ đức tin của mình thì sẽ được xá miễn tội trạng? Hay liệu một người đã từng một lần được cho là theo Kitô giáo, bằng cách công khai bỏ đạo thì sẽ chẳng được gì cả? Liệu rằng đối với những cái tên, tự bản thân nó, trái lại mặc dù chưa từng phạm pháp, vẫn nên bị trừng phạt, hay chỉ trừng phạt những tội trạng xoay quanh nó mà thôi ?

Trong lúc này, tôi xin trình bày một kế hoạch mà tôi đã thực hiện, theo đó trong trường hợp những người Kitô giáo này được đưa đến trước tôi, tôi sẽ hỏi họ có phải là người Kitô giáo không ? Nếu họ nói là có, tôi sẽ lặp lại câu hỏi trên lần thứ hai và lần thứ ba, cảnh báo họ về những hình phạt sẽ đến, và nếu họ vẫn khăng khăng như vậy, tôi sẽ lệnh cho đem giam họ vào ngục thất. Bởi vì tôi không hề nghi ngờ về việc bất cứ điều gì họ khai nhận trong giấy chứng nhận phạm tội, cùng với sự cố chấp, ngoan cố đến mức không gì lay chuyển nổi của họ chắc chắn phải bị trừng phạt (7). Những kẻ khác phô bày sự điên cuồng tương tự, tôi đã cho bảo lưu để họ được gửi đến Roma, vì họ đều là công dân La Mã (8). Sau đó như thường lệ, một thực tế hiển nhiên là việc tôi đề cập đến vấn đề này dẫn tới một sự gia tăng lớn các bản cáo trạng, và trong số đó nhiều trường hợp đã được đem đến cho tôi. Một quyển sổ nhỏ được in nặc danh chứa danh tính một số người, họ chối bỏ rằng mình đang hoặc đã từng theo Kitô giáo, đọc những lời cầu khấn thần linh theo cách thức thường thấy do tôi chỉ bảo. Họ dâng lên thần linh của chúng ta trầm hương và rượu vang, và tôi đã ra lệnh đưa họ ra ngoài vì lí do này, cùng với bức tượng các vị thần – những người như vậy tôi cho rằng nên tha bổng, đặc biệt là vì họ đã báng bổ đến danh Kitô, mà theo như được kể lại, những tín đồ Kitô thực sự không thể bị xui khiến làm cái việc đó. Mặt khác, danh tính của họ được đưa cho tôi thông qua một người chỉ điểm, trước tiên nói rằng họ đều là tín đồ Kitô và sau đó thì đã chối bỏ việc đó, khai nhận rằng họ mới nhập đạo chưa được bao lâu, một số người còn công khai bỏ đạo từ nhiều năm trước đó, nhiều hơn một đến chừng hai mươi năm trở lại đây. Họ đều thờ phụng ảnh tượng các đấng thần linh của chúng ta và báng bổ danh xưng Kitô. Tuy nhiên họ cho rằng toàn bộ tội trạng cũng như sai lầm mà họ mắc phải, chẳng qua chỉ là vào một ngày được ấn định trước, họ có lệ gặp gỡ nhau lúc tảng sáng và cùng nhau hát bài hát ca tụng Kitô, như thể ông ta là một vị thần vậy. Bên cạnh đó, họ ràng buộc lẫn nhau bằng việc giữ lời thề rằng, sẽ cam kết không phạm phải bất kì tội lỗi nào, tránh sự gian trá, trộm cắp, ngoại tình hay làm điều gì sai lệch đối với đức tin, cũng như không từ chối phân phát của cải mà họ có khi được yêu cầu. Khi buổi lễ này kết thúc, họ rời đi và lại họp mặt lần nữa để cùng tham dự một bữa ăn, với những thức ăn bình thường và hoàn toàn vô hại, và họ khẳng định là kết thúc những thông lệ này sau khi lệnh của tôi được ban bố, và đúng như chỉ thị của ngài, tôi cho cấm tất cả các hội kín (9). Thành thử tôi cho rằng điều cần thiết hơn cả là đi tìm sự thật bên trong những lời khai nhận kia, bằng cách cho tra tấn hai nữ nô lệ mà họ gọi là nữ phó tế, nhưng tôi không tìm thấy điều gì, ngoại trừ sự cuồng tín quá mức. Cho nên tôi đã hoãn lại việc tra khảo và ngay lập tức xin hỏi ý kiến ngài. Đối với tôi, vấn đề này dường như đáng để ngài lưu tâm, đặc biệt bởi vì số người liên can đến là rất nhiều. Cuộc sống của rất đông người, đủ các độ tuổi, giới tính cũng như địa vị, đều đang và sẽ còn bị đe dọa bởi những kẻ tố cáo họ. Bởi ảnh hưởng xấu của sự cuồng tín này không chỉ lan truyền ở các thành thị mà còn thâm nhập cả vào vùng nông thôn, đến tận các làng mạc và điều này, theo tôi, có thể ngăn chặn và cải chính được. Chắc chắn là những đền thờ mà hầu hết bị bỏ hoang, cần được thanh tẩy và bắt đầu để đông đảo người đến thờ tự trở lại, cũng như những nghi lễ thiêng liêng đã bị quên lãng từ lâu, giờ cần được khôi phục, và những con vật dùng làm đồ hiến tế cần được bày bán nhiều hơn, trong khi gần đây vẫn chỉ có rất ít người mua. Vì thế mà thật dễ để hình dung rằng một số lượng lớn người chỉ có thể giác ngộ khi họ được tạo cơ hội ăn năn hối cải.

[X.97] Hoàng đế Traianus trả lời thư của Plinius

Ngươi đã giải quyết một cách đúng đắn, Plinius thân mến, trong việc tiến hành thẩm vấn những trường hợp về những người bị tố cáo là tín đồ Kitô giáo tới ngươi, vì không một sự cứng rắn hay luật lệ nào có thể được thiết lập kịp thời để đáp ứng cho một vấn đề có phạm vi rộng như vậy. Các tín đồ Kitô giáo sẽ không bị lùng bắt. Nếu họ bị đưa đến trước ngươi và bị chứng minh là phạm pháp, thì ắt phải chịu hình phạt, tuy nhiên hãy lưu ý tới sự hạn chế này: Nếu bất kì kẻ nào phủ nhận mình là một tín đồ Kitô, và chứng minh rằng đúng là như vậy, bằng cách cầu khấn các đấng thần linh của chúng ta, thì y sẽ được xá miễn bởi sự chối bỏ công khai của y, và bỏ qua những việc làm đáng ngờ của y trong quá khứ (10). Còn đống sổ sách được ấn hành nặc danh kia, ngươi không được phép truyền bá dù chỉ là một quyển, và không việc gì phải bận tâm đến những lời buộc tội đó, vì chúng không chỉ là một tiền lệ hết sức xấu xa, mà còn bất hòa với tinh thần của thời đại chúng ta nữa.

Chú thích:

(1) Xã hội La Mã cổ đại chia thành ba hạng người chính: quý tộc (patricius), bình dân (plebs) và vô sản (proletarius). Giới quý tộc lại chia thành hai tầng lớp là nguyên lão (senatores) và kị sĩ (equites). (https://en.wikipedia.org/wiki/Social_class_in_ancient_Rome)

(2) Centumvir là tòa án được lập ra với hội đồng xét xử gồm 100 thẩm phán, giải quyết các vấn đề tranh chấp về luật dân sự. (https://en.wikipedia.org/wiki/Centumviral_court)

(3) Trong một quân đoàn La Mã, đặt chức tribunus militum với chức năng tham mưu cho quân đoàn trưởng, lấy 6 người. Những người trẻ thuộc tầng lớp kị sĩ thường phải trải qua chức vụ này nếu muốn thăng tiến vào Viện nguyên lão. (https://en.wikipedia.org/wiki/Military_tribune)

(4) Quan tài vụ (quaestor) là chức quan chịu trách nhiệm giám sát quốc khố và hạch toán tài chính cho nhà nước. Đây là chức vụ thấp nhất ở trong Viện nguyên lão. (https://en.wikipedia.org/wiki/Quaestor)

(5) Hiến pháp La Mã quy định hằng năm bầu ra hai quan chấp chính (consul) với nhiệm kì một năm, trong trường hợp người nhậm chức bị qua đời hay bị bãi nhiệm, sẽ chọn ra người thay thế để hoàn thành thời gian còn lại của nhiệm kì, gọi là quan chấp chính dự khuyết (suffectus consul). (http://en.wikipedia.org/wiki/Roman_consul)

(6) Khâm sai của hoàng đế(legatus Augusti) là danh xưng của tổng đốc các tỉnh lớn, những nơi phải cần đến nhiều hơn một quân đoàn trú đóng. Chức vụ này luôn do hoàng đế trực tiếp chỉ định, và phải lấy người đã từng làm quan chấp chính hoặc pháp quan để đảm nhiệm. (https://en.wikipedia.org/wiki/Legatus_Augusti_pro_praetore)

(7) Plinius nêu lên câu hỏi về việc liệu có nên quy cho người Kitô giáo một tội ác cụ thể nào không? Ông dường như xem việc một người khai nhận theo Kitô giáo là đủ để chứng minh người đó có tội.

(8) Ngoại trừ có sự ủy quyền đặc biệt từ hoàng đế thì tổng đốc ở các tỉnh không có quyền xử tử hình một công dân La Mã. Những phiên tòa xử một công dân La Mã phải được tiến hành ở Roma.

(9) Hội kín ở đây cũng có thể hiểu bao gồm cả các hội nhóm chính trị. Trong bức thư số 34 quyển X, tác giả cũng dùng từ tương tự là hetaeriae khi nói về tổ chức của những người lính cứu hỏa. Trong tiếng Latinh, hetaeriae chỉ một tập hợp hay đoàn thể những người gắn bó mật thiết với nhau, giống như anh em một nhà. (https://latin-dictionary.net/definition/22096/hetaeria-hetaeriae)

(10) Phản ứng của người Kitô giáo đối với thái độ của Traianus được ghi lại trong tác phẩm Hộ giáo (Apologeticus) của Tertullianus, nhà thần học Kitô giáo , viết khoảng năm 197 sau Công nguyên.

Tài liệu tham khảo:

[1] Wikipedia tiếng Anh, mục từ Pliny the Younger: https://en.wikipedia.org/wiki/Pliny_the_Younger

[2] Plinius Trẻ, Những thư tín, quyển X.61 - 121, bản dịch tiếng Anh của John Benjamin Firth, 1900: http://www.attalus.org/old/pliny10b.html

[3] Plinius Trẻ, Những thư tín, quyển X.96 -97: http://faculty.georgetown.edu/jod/texts/pliny.html

Vui lòng không tự up lại khi chưa có sự đồng ý của người dịch!

Nhận xét

Bài đăng phổ biến