Thanh sử cảo 清史稿 – quyển 218: Duệ Trung thân vương Đa Nhĩ Cổn truyện
Duệ Trung thân vương Đa Nhĩ Cổn là con thứ mười bốn của Thái Tổ. Ban đầu [vương] được phong bối lặc. Thiên Thông năm thứ hai, Thái Tông đánh Sát Cáp Nhĩ Đa La Đặc bộ, phá địch ở Ngao Mục Lăng, Đa Nhĩ Cổn có công, [được vua] ban cho hiệu là Mặc Nhĩ Căn Đại Thanh (1). Năm thứ ba, [vương] theo [vua] từ Long Tỉnh quan xâm nhập biên giới nhà Minh, cùng với bối lặc Mãng Cổ Nhĩ Thái có công hạ Hán Nhi Trang, qua Thông Châu, tiến sát kinh đô nhà Minh, đánh bại viện binh của Viên Sùng Hoán, Tổ Đại Thọ ở ngoài Quảng Cừ môn, lại diệt viện binh từ Sơn Hải quan ở Kế Châu. Năm thứ tư, dẫn quân quay lại, Đa Nhĩ Cổn cùng Mãng Cổ Nhĩ Thái làm tiên phong, mai phục và phá được địch. Năm thứ năm, [vua] mới lập sáu bộ, [vương được giao] chưởng quản công việc của bộ Lại. [Vương] theo [vua] vây Đại Lăng Hà, trong lúc hãm trận, quân Minh ngã xuống hào có cả trăm, pháo trên thành bắn xuống, tướng sĩ nhiều người chết. [Vua] trách các tướng không ngăn lại được. Tổ Đại Thọ hẹn đem dâng Cẩm Châu, Đa Nhĩ Cổn cùng A Ba Thái đều cầm bốn nghìn quân, mặc quần áo người Hán (2) theo Đại Thọ đi tập kích Cẩm Châu, quân Cẩm Châu nghênh chiến, bèn đánh bại. [Vua] cho gọi A Ba Thái về.
Năm thứ năm, tháng sáu, [vương] theo [vua] đánh Sát Cáp Nhĩ.
Năm thứ bảy, tháng sáu, [vua] xuống chiếu hỏi nên đánh nhà Minh, Triều Tiên hay Sát Cáp Nhĩ trước, Đa Nhĩ Cổn nói: Sửa soạn binh mã, nhân lúc được mùa mà tiến vào Yên Kinh, chặn đường viện binh, phá đồn phá thành, tính kế lâu dài thì có thể thoát khỏi cái thế ngồi yên chờ đợi vậy.
Năm thứ tám, tháng năm, [vương] theo [vua] đánh nhà Minh, hạ được Bảo An châu, thu lấy Sóc Châu.
Năm thứ chín, [vua] mệnh [vương] cùng Nhạc Thác mỗi người cầm một vạn quân đi chiêu dụ con của Sát Cáp Nhĩ Lâm Đan hãn là Ngạch Triết, khi trở về qua sông, Đa Nhĩ Cổn tự dẫn quân bình định đất Lỗ, đất Vệ tới Sóc Châu, phá Ninh Vũ quan, lấy Đại Châu, Hãn Châu, Quách huyện, Hắc Phong Khẩu tới Ứng Châu, rồi lại từ Quy Hóa dẫn quân quay về. Lâm Đan hãn mới được ngọc tỉ khắc chữ Chế cáo chi bảo, Đa Nhĩ Cổn bèn phái Ngạch Triết dâng lên [vua], quần thần cũng nhân đó mà dâng biểu xin lập tôn hiệu.
Sùng Đức năm thứ nhất, [vương] được tiến phong Duệ thân vương. [Vương] cùng với Vũ Anh quận vương A Tế Cách dẫn quân đi đánh nhà Minh, [vua] mệnh vương và Đa Đạc tiến công Sơn Hải quan rồi tiến tiếp tới kinh đô nhà Minh. A Tế Cách báo tiệp, bèn thu quân. Lại theo [vua] đi đánh Triều Tiên, cùng với Hào Cách theo hai đường khác nhau qua ngả Khoan Điện tiến vào Trường Sơn khẩu, hạ Xương Châu. Sau đó tiến công đảo Giang Hoa, hạ được, bắt giữ vương phi và hai vương tử của Triều Tiên, quốc vương Triều Tiên là Lý Tông xin hàng. [Vua] về Thịnh Kinh, mệnh [vương] quản chế hậu quân, đem theo con tin Triều Tiên là Túc, Hạo cùng con của các đại thần.
Năm thứ ba, [vua] đánh Khách Nhĩ Khách, vương nhậm chức lưu thủ (3), phụ trách việc xây thành Liêu Dương Đô Nhĩ Bật, thành xây xong, mệnh gọi là Bình thành, lại phụ trách việc sửa chữa đường lớn từ Thịnh Kinh đến Liêu Hà. Tháng năm, [vua] mệnh vương làm Phụng mệnh Đại tướng quân, lĩnh cánh trái; Nhạc Thác lĩnh cánh phải đánh nhà Minh. [Vương] từ Đổng Gia Khẩu phá biên tường mà tiến vào, hội quân với cánh phải ở Thông Châu, Hà Tây. Lại vượt kinh đô nhà Minh tới Trác Châu, chia quân làm tám đạo, thu lấy đất tới Sơn Tây, phía nam chiếm Bảo Định, phá quân của tổng đốc Minh là Lư Tượng Thăng. Nhân đó bèn tiến tới Lâm Thanh, vượt Vận Hà, phá Tế Nam, rồi quay lại lấy Thiên Tân, Thiên An, qua Thanh Sơn quan trở về. Hạ được hơn bốn mươi thành, dụ hàng được sáu thành, bắt được tù binh tới hai mươi lăm vạn người, [vương được vua] ban cho ngựa năm con và hai vạn lượng bạc.
Năm thứ năm, [vương] đóng quân ở Nghĩa Châu, thu lấy chín trại phía Tây thành Cẩm Châu, cho [quân lính] thu hoạch hoa màu. Lại lấy hai trại phía Tây Tiểu Lăng Hà. [Vương] nhiều lần đánh bại quân Minh ở Hạnh Sơn, Tùng Sơn.
Vây Cẩm Châu, [vương] lệnh cho các vương và bối lặc dời quân doanh cách thành khoảng ba mươi dặm, lại lệnh mỗi kỳ mỗi ngưu lục (4) chọn lấy năm giáp sĩ đi trước. [Vua] sai Tế Nhĩ Cáp Lãng thay thế [vương], xuống dụ trách hỏi, [vương] trả lời rằng: Thần thấy quân địch tại ba thành Cẩm Châu, Tùng Sơn, Hạnh Sơn đều tụ tập chăn thả ngựa ở chỗ khác. Nếu [quân Minh] đến xâm phạm, có thể luân phiên mà chống lại được. Do đó thần sai người chăn ngựa và quản lý binh khí. Toàn bộ vùng đồng cỏ cũ [mà đại quân đã trú đóng], thần đề nghị di dời quân doanh mà cho chăn thả, đó thật là lỗi của thần. [Vua] dụ rằng: Trong các con em trẫm yêu quý ngươi là hơn cả, luôn ban cho trọng hậu. Nay trái mệnh như vậy, ngươi tự bàn lấy. Vương nói tội đáng chết. [Vua] mệnh giáng làm quận vương, phạt [bổng lộc] một vạn lượng bạc, thu lại hai ngưu lục.
Năm thứ sáu, lại vây Cẩm Châu. Hồng Thừa Trù dẫn ba mươi vạn quân đóng ở Tùng Sơn, vương thường [dẫn quân] đến đánh, đuổi địch sáu ngày, đến Thích Gia Bảo, rồi đóng ở Cao Kiều. Vương mời [vua] vào trong thành Tùng Sơn, Hạnh Sơn, chia quân ra đóng ở núi phía nam sông Ô Hân đến tận biển. Quân Minh … chạy về phía trước (5), tôn Trương Hoàng Cái làm chỉ huy. Vương cùng Nhạc Thác (6) đều chặn ngang đường hướng về Tháp Sơn mà đánh, quân Minh chết vô số. Cuối cùng bắn pháo vào bốn trại bên ngoài Tháp Sơn, bắt được Vương Hi Hiền. Lấy bối lặc Đỗ Độ thay thế, vương tạm quay về, sau đó liền trở lại.
Năm thứ bảy, hạ Tùng Sơn, bắt được [Hồng] Thừa Trù, chiếm được Cẩm Châu, [Tổ] Đại Thọ lại ra hàng. Tiến chiếm Tháp Sơn, Hạnh Sơn. Bèn hủy cả ba thành ấy. Đại quân trở về, xét theo thứ tự công trạng, [vương] được phục tước thân vương.
Năm thứ tám, Thái Tông băng, vương cùng các vương, bối lặc, đại thần, phụng Thế Tổ lên ngôi. Các vương, bối lặc, đại thần bàn lấy Trịnh thân vương Tế Nhĩ Cáp Lãng và vương làm đồng phụ chính, lập lời thề rằng: Kẻ nào không tuân theo phép công làm việc, có lòng tự tôn kiêu ngạo thì trời đất trách phạt kẻ đó! Quận vương A Đạt Lễ, bối tử Thạc Thác khuyên vương tự lập, vương phát giác mưu ấy, giết A Đạt Lễ và Thạc Thác. Lại cùng Tế Nhĩ Cáp Lãng bàn bãi bỏ tình trạng các vương, bối lặc quản việc sáu bộ.
Thuận Trị năm thứ nhất, tháng giêng, từ chối quà tặng của nước Triều Tiên, báo với Tế Nhĩ Cáp Lãng và các đại thần rằng: Quốc vương Triều Tiên vì việc khi ta lấy Giang Hoa đã bảo toàn cho vợ con ông ta mà thường mang tài vật riêng đem tặng. Thời tiên đế nếu [ta] nghe được vậy thì tất sẽ nhận lấy. Nay [ta] làm phụ chính, xét thấy không có giao tình riêng, nên không nhận. Nhân đó cấm việc các vương và bối lặc nhận quà tặng của nước khác. Tế Nhĩ Cáp Lãng dụ các đại thần, phàm mọi việc đều phải trình bày với vương trước, giấy tờ cũng phải đề tên vương trước. Bởi vì thế mà vương mới tự quyết lấy mọi việc chính sự. Cố sơn ngạch chân Hà Lạc Hội tố cáo Túc thân vương Hào Cách sinh lòng oán vọng, [vương] bèn cho họp bàn, phế đi tước vị [của Hào Cách], đại thần Dương Thiện lại thêm lời xiểm nịnh, bèn xử tội chết.
Tháng tư, ngày Ất Sửu, vua ngự điện thân làm lễ, ban cho vương ấn Phụng mệnh Đại tướng quân, lại ban cho một cây cờ ngự dụng (7), lệnh cho tùy nghi mà hành sự, dẫn Vũ Anh quận vương A Tế Cách, Dự quận vương Đa Đạc cùng Khổng Hữu Đức đi đánh nhà Minh. Ngày Bính Dần, khởi hành từ Thịnh Kinh. Ngày Nhâm Thân, đến Ông Hậu. Bình Tây bá nhà Minh là Ngô Tam Quế từ Sơn Hải quan gửi thư tới mượn quân, vương nhận thư, dời quân theo hướng ấy. Ngày Quý Dậu, đến Tây Lạp Tháp Lạp, trả lời Ngô Tam Quế rằng: Nước ta muốn cùng với nước Minh dựng mối hữu hảo, nên [ngài] gửi thư [ta] không trả lời. [Trước kia] sửa sang quân đội, ba lần xâm nhập [quan nội] là tỏ ý muốn tới nước Minh mà trù tính kỹ lưỡng chuyện thông hiếu. Nay lại xuất quân không trở lại như vậy, cốt là để định yên Trung Nguyên, giúp dân nghỉ ngơi. Nghe tin bọn lưu tặc vây hãm kinh đô, Sùng Trinh đế phải chết thảm, không thể không phẫn nộ. [Thế nên ta] dẫn quân nhân nghĩa, phá nồi dìm thuyền (8), thề quyết diệt giặc, cứu dân khỏi cơn nước lửa! Ngài (9) lo nghĩ việc báo đền ơn vua, đối với lưu tặc có cái thù không đội trời chung, đó cái nghĩa của một trung thần chân chính vậy. Thế nên [ngài] chớ phòng thủ hướng Liêu Đông, coi ta là kẻ địch mà theo về, thì tất phong lấy đất cũ,…(10). Xưa Quản Trọng bắn trúng Hoàn công mà Hoàn công vẫn dùng làm trọng phụ, làm thành bá nghiệp (11). Ngài nên noi theo việc ấy. Khi đó thù nước có thể báo mà bản thân và người nhà cũng được bảo toàn, con cháu đời đời hưởng phú quý dài lâu vậy.
Ngày Đinh Sửu, đến Liên Sơn. Tam Quế lại sai sứ đến xin tiến gấp, [đại quân] ban đêm vượt Ninh Viễn đến Sa Hà. Ngày Mậu Dần, cách cửa quan mười dặm, Tam Quế báo quân của [Lý] Tự Thành đã ra khỏi biên giới. Vương lệnh cho các vương nghênh chiến, đánh bại tướng của Lý Tự Thành là Đường Thông ở Nhất Phiến Thạch. Ngày Kỷ Mão, tới Sơn Hải quan, Tam Quế ra đón, vương liền úy lạo. Lệnh cho các sở bộ (12) lấy vải trắng buộc lên vai để làm dấu hiệu, đi trước vào cửa quan. Bấy giờ Tự Thành cầm hơn hai mươi vạn quân, từ Bắc Sơn bày trận, dàn ngang ra đến tận biển. Quân ta (13) thế trận không tới được bờ biển. Vương lệnh rằng: Lưu tặc hoành hành đã lâu, lại hung hãn. Quân ta có thể bí mật tập hợp đội ngũ chỉnh tề, nhằm vào phía sau trận địch, chờ chúng suy yếu mà đánh thì tất thắng. Nỗ lực phá địch như vậy thì đại nghiệp sẽ thành đó! Chớ nên trái lời! Bày trận xong, lệnh Tam Quế vào ở phía sau cánh phải. Đang lúc đánh thì trời nổi trận gió cát lớn, trong gang tấc không thể phân biệt được. [Quân ta] hết sức đột kích, đánh phá chủ lực địch, ngựa nhanh, tên bắn ra dữ dội. Tự Thành lên chỗ cao quan sát từ xa, mất hết nhuệ khí, quất ngựa bỏ chạy. Quân ta một người địch được một trăm, đuổi theo tới bốn mươi dặm, [quân của] Tự Thành tan vỡ, tháo chạy. Vương liền chiếu theo thể chế trước quân mà tiến phong Tam Quế tước Bình Tây vương. Hạ lệnh cho quân dân quan nội nhất loạt đều phải cắt tóc. Lấy một vạn quân bộ và quân kỵ thuộc quyền Tam Quế truy kích Tự Thành. Rồi cùng các tướng lập lời thề rằng: Nay [lũ chúng tôi] làm cái việc trừ bạo cứu dân, diệt giặc để yên thiên hạ. Nếu [kẻ nào] giết người vô tội, cướp tài vật, đốt nhà cửa, trái lời ước này thì xin [trời đất] giáng tội kẻ đó! Từ cửa quan ra đến phía tây, trăm họ bỏ trốn vào nơi hẻm núi đều trở về quê quán, cắt tóc nghênh hàng. Ngày Tân Tỵ, đến dịch trạm Tân Hà, sai tấu tiệp, đại quân ngừng tiến. Đối với quan lại và tướng lĩnh nhà Minh ra hàng, mệnh cho vẫn giữ chức như cũ.
Tháng năm, ngày mùng một Mậu Tý, đại quân đến Thông Châu. Tự Thành đã đốt bỏ cung khuyết một ngày trước, vận chuyển tài vật đi về phía tây. Vương lệnh cho các vương cùng Tam Quế dẫn binh tướng dưới quyền đi truy bắt. Ngày Kỷ Sửu, vương tập hợp đại quân tiến vào kinh sư, quan tướng cùng quân dân nhà Minh nghênh đón bên ngoài cửa Triều Dương, lại lập nghi vệ, mời [vương] lên xe (14), vương bảo rằng: Ta giữ phép Chu công phò tá vua nhỏ (15), vì thế không thể lên được. [Họ] lại lấy chuyện Chu công từng ngồi quay lưng vào bình phong (16) mà cố mời, bèn mệnh cho hộ vệ bày nghi trượng trước mặt vương, tấu nhạc. [Họ] làm lễ vái lạy trời, lại làm lễ ấy với vương. [Vương] ngồi xe, tới điện Vũ Anh. Quan tướng nhà Minh vào bái yết, tung hô vạn tuế. [Vương] hạ lệnh tướng sĩ tiến vào thành, không được vào nhà dân, lại lệnh cho dân ở yên như cũ. Phát tang ba ngày và tổ chức lễ táng cho Sùng Trinh đế. Đối với các hàng thần, tiếp tục lấy người ngay thẳng làm việc. Vũ Anh quận vương A Tế Cách đuổi Tự Thành tới Khánh Đô, đại phá, thu được tài vật [của Lý Tự Thành]. Tự Thành trốn về phía tây, [vương] lại lệnh Cố sơn ngạch chân là bọn Đàm Thái, Chuẩn Tháp đều dẫn quân Ba Nha Lạt truy đuổi tới Chân Định, Tự Thành thua chạy. Vua mệnh cho Ba Thái Tê đem sắc tới úy lạo. Các phủ huyện xung quanh kinh thành trước sau đến xin hàng. Sai Cố sơn ngạch chân là bọn Ba Cáp Nạp, Thạch Đình Trụ chiếm lấy Sơn Đông, Diệp Thần bình định Sơn Tây, Kim Lệ an phủ Thiên Tân.
Vương trước đã lệnh quân dân nhất loạt cắt tóc, đến nay nghe chừng ý dân không thuận, mới dụ hoãn lại. Lệnh răn bảo quan lại, tìm kiếm hiền tài, cứu giúp dân nghèo ở kinh đô và thành thị. Dùng lời của Thang Nhược Vọng, sửa sang lịch pháp, đặt tên là Thời Hiến lịch. Lại lệnh rằng: Đạo dưỡng dân, trước hết là ở việc bớt hình phạt, giảm thuế má. Từ cuối đời Minh họa loạn xảy ra, cảnh tượng gian trá đua tranh từng ngày, lập mưu kiện cáo làm bại hoại phong tục, tổn thất tiền tài, lòng đau xót thay! Từ nay nhất thiết tiến hành đổi mới, bắt đầu từ rạng sáng mùng hai tháng năm này, tội trạng trước kia bất kể lớn nhỏ đều xá miễn. Nếu trái lời dụ này, bới móc việc riêng người khác mà kiện tụng thì lấy cáo trạng đó mà định tội. Việc trọng đại thì phải thông qua tuần phủ và tuần án kết án, nếu không phải việc cơ mật quan trọng thì không được tố cáo vượt cấp lên kinh thành. Nếu đặt điều vu cho quân đội hãm hại dân lành thì khép vào tội phản nghịch. Chính sự của triều trước suy bại, phần nhiều là vì những thứ thuế “gia phái” (17) bên ngoài thì có Liêu hướng (18), lại thêm tiễu hướng (19), luyện hướng (20), tính ra gấp nhiều lần so với thuế theo quy định, những nơi xa thì chịu trong hai mươi năm, những nơi gần thì chịu hơn mười năm, thiên hạ ngao ngán, ngày không kịp đêm (21). Lại càng ra sức nhận hối lộ cùng các loại bổng lộc, làm việc giả dối để hại dân. Nay cùng dân cam kết, hạn chế đặt thêm các loại thuế, mọi loại thuế “gia phái” nhất thiết tước bỏ hoàn toàn, quan lại kẻ nào không tuân theo, điều tra kỹ càng mà trị tội. Tháng sáu, sai Phụ quốc công là bọn Đồn Tề Khách, Hòa Thác, Cố sơn ngạch chân là Hà Lạc Hội đi nghênh đón vua, định đô Yên Kinh.
Phúc vương nhà Minh là Do Tung xưng đế ở Giang Ninh (22), sai đại học sĩ Sử Khả Pháp làm đốc sư Dương Châu, lại lập bốn trấn ở Giang Bắc (23) để phòng thủ đất Từ Châu và vùng ven sông Hoài. Vương gửi thư tới Sử Khả Pháp rằng: Trước ta ở Thẩm Dương, đã biết ngay [tiên sinh] là bậc đức cao vọng trọng ở Yên Kinh, được [dân chúng] khắp nơi cử giữ chức Tư mã (24). [Ta] từ lúc sau khi nhập quan phá giặc, được đông đảo nhân sĩ đón giúp, biết lệnh đệ (25) cũng là bậc thanh quan, đã có lần gửi thư thăm hỏi, khẩn thiết đem nỗi lòng ra giãi bày, mà chưa rõ bao giờ đến được. Gần đây [ta] nghe việc người người xôn xao, phần nhiều nói là ở Kim Lăng có người tự lập (26). Mối thù của chồng của cha, thật là không đội trời chung. Cái nghĩa Xuân Thu (27), có giặc mà không thảo phạt, thì vua cũ không được chôn cất, vua mới không được lên ngôi, sở dĩ là để đề phòng bọn loạn thần tặc tử, giữ nghiêm phép nước vậy (28). Giặc Sấm Lý Tự Thành, xua quân phạm vào nơi cửa khuyết, ra tay tàn hại thân thích nhà vua, thần dân Trung quốc (29) không ai dám phản kháng. Bình Tây vương Ngô Tam Quế, đóng ở Đông thùy (30), một mình khóc tiếng khóc của Bao Tư (31), triều đình cảm lòng trung ấy, lại nghĩ đến mối hòa hiếu từ lâu đời (32), mà bỏ cái hiềm nhỏ mới đây (33), bèn sửa soạn quân tỳ hưu (34), diệt trừ bọn chó chuột (35). Ngày [ta] vào kinh, truy thụy hiệu cho đế hậu (36), bốc táng sơn lăng (37), đều theo điển lễ. Thân vương, quận vương, tướng quân trở xuống, nhất loạt đều giữ chức cũ, không thay đổi. Huân thích (38) cùng các quan văn võ, đều ở tại triều, ban cho ân lễ. Việc cày cấy buôn bán không bị nhiễu loạn, [quan lại] không chút tơ hào xâm phạm. Mưu tính việc ngay thẳng như trời thu sáng sủa mà khiển tướng tây chinh; truyền hịch xuống Giang Nam, hội quân ở Hà Sóc (39), bày quân mà răn bảo (40), hết sức đồng lòng, báo thù cho vua cho nước, để tuyên dương cái đức của triều đình ta. Sao có thể lại nghĩ như các vị ở cõi nam (41), cầu yên tạm bợ qua ngày, chẳng biết rõ thời cơ mà đi yêu mến nương nhờ cái hư danh (42), bỗng chốc quên cái hại thực sự, ta rất lấy làm ngờ vực! Nước nhà (43) vỗ yên bình định Yên đô, là để bắt giặc Sấm, chứ không phải là đánh lấy nhà Minh vậy. Giặc Sấm hủy tông miếu nhà Minh, nỗi nhục ấy thấu đến cả các bậc tiền nhân. Nước nhà ta sửa soạn binh mã không ngại khó nhọc, dốc hết hậu lực làm cái việc rửa nhục, người nhân kẻ hiếu, đều cảm ơn sâu mà mưu việc báo đáp. Mà nay các vị kéo dài việc thảo phạt nghịch tặc, [nhân lúc] vương sư (44) tạm nghỉ, thỏa cái ý muốn hùng cứ Giang Nam, để ngồi làm ngư ông đắc lợi. Suy xét chuyện tình lý, sao có thể cân bằng được? [Các vị] cho rằng dùng cái hào thiên nhiên (45) là không thể vượt qua, là vung roi chặt đứt dòng chảy được ư? (46) Song giặc Sấm chỉ làm hại nhà Minh, đối với nước ta chưa từng đắc tội, chỉ vì lấy cái thù chung của người trong nước (47), mà tỏ rõ nghĩa lớn. Nay lại ủng hộ việc xưng hiệu như thế, há chẳng phải là một bầu trời có tới hai mặt trời (48), nghiễm nhiên trở thành kình địch với nhau hay sao? Ta chọn lấy quân tinh nhuệ đi về phía tây, lại đổi cờ đông chinh, định tạm bỏ việc giết chóc mà mệnh chúng làm tiền đạo (49). Dùng toàn lực của Trung Hoa, để chịu chế ngự chốn ao hồ (50), lại muốn lấy một góc Giang Tả (51) đối phó với nước lớn, thì khí số được mất, chẳng dựa vào việc bói toán đâu. Ta nghe nói cái đức của người quân tử là yêu thương con người, còn kẻ tiểu nhân thì nuông chiều dung túng. Nếu các vị là người thức thời biết mệnh, một lòng nhớ tới vua cũ, hậu ái hiền vương (52), thì nên khuyên bỏ tôn hiệu mà về làm phiên thần, an hưởng phúc lộc dài lâu. Nay triều đình dùng lễ chư hầu mà đối đãi (53) thì có thể kế thừa tổ tông mà gìn giữ đồ cúng tế (54), con cháu nhận ân huệ truyền đời (55), xếp trên các bậc vương hầu, mong rằng không phụ triều đình mà tỏ cái nghĩa dẹp giặc, cái lòng hưng diệt kế tuyệt ngay từ lúc đầu vậy (56). Những người tài đức xuất chúng ở cõi nam, hăm hở hướng về, liền được phong công phong hầu, chia tước chia đất, như điển lệ của Bình Tây (57). Duy chỉ có kẻ chấp sự là đi toan tính cái lợi mà thôi ! Sĩ đại phu gần đây chỉ biết tạo dựng danh nghĩa cao xa mà không quan tâm đến việc cấp bách của nước nhà, mỗi khi có việc lớn, lời nói đều hỗn độn như xây nhà bên đường (58), việc xưa người Tống bàn luận chưa định thì quân đã vượt sông (59), có thể ví như cái gương nhà Ân vậy (60). Tiên sinh là bậc lãnh tụ có tiếng tăm, chủ trì việc mưu tính sách lược, ắt hiểu rõ trước sau, há lại không có lấy một chủ trương hay sao? Sao không bỏ điều lầm lạc mà sớm xét rõ sự tình. Quân ta nay có thể tiến ngay tức thì, đi đông về tây dễ như trở bàn tay. Nước Nam an nguy là nằm ở một hành động đó. Nay nguyện cùng các vị lấy việc dẹp giặc làm gốc, không tham lợi lộc trước mắt cho bản thân, mà trọng lấy cái họa vô cùng của cố quốc (61), làm cho bọn loạn thần tặc tử trộm cười, ta thực mong mỏi vậy! Thư này viết ra, duy chỉ người đức hạnh mới thấu được lời lẽ bên trong. Nay cung kính bày tỏ lòng dạ mình, mong được chỉ giáo cho rõ. Nhìn lên trời rộng mới thấy ngẩng cổ kiễng chân thực khó khăn, thư chẳng thể nói hết ý. Khả Pháp sai người gửi thư đáp lại, lời lẽ rất bất khuất.
Dân chúng ở kinh sư truyền lời đồn rằng tháng bảy, tháng tám mùa thu [triều đình] sẽ dời về phía đông. Vương tuyên dụ nói nay đã lập đô tại Yên Kinh, khuyên dân không nên tin vào những lời đồn trôi nổi vô căn cứ, làm mê hoặc lòng người. Lại có lời đồn vào tháng tám sẽ đồ sát dân chúng, không lâu sau, truyền đến kinh sư, cho rằng [triều đình] sẽ dung túng cho quân đội từ phía đông (62) mặc sức cướp bóc, giết hại mọi người già và thanh niên, chỉ giữ lại trẻ sơ sinh. Vương lại tuyên dụ rằng: Dân là gốc của nước, mọi người đã thành tâm quy phục, thì lấy tội gì để mà chém giết đây? Mọi người thử nghĩ xem, đức kim thượng (63) đem theo tướng sĩ gia thuộc không dưới ức vạn (64), những người đi cùng ấy là vì cớ gì? Là vì vỗ yên quân dân Yên Kinh vậy. [Triều đình] trước từ phía đông tới quan nội, liền mệnh hơn mười quan viên giữ các chức đốc, phủ, ti , đạo là vì cớ gì? Là vì thống nhất thiên hạ vậy. Sau đó lại lấy ngân sách từ Thịnh Kinh hơn trăm vạn lượng vận chuyển không ngừng như vậy là vì cớ gì? Là vì cung cấp cho quân dân trong ngoài kinh thành sử dụng vậy. Hơn nữa ta không nỡ nhìn cảnh trăm họ Sơn, Thiểm (65) chịu hại bởi việc phát binh truy đuổi tiễu trừ, hận một nỗi chưa thể xong nhanh được. Vậy sao có thể nói ta không yêu thương quân dân kinh thành, làm cái việc giết chóc phản phúc đây? [Mọi người] tự mắt mình trông thấy, thế thì vì cớ gì mà lan truyền những lời lẽ xằng bậy vô căn cứ? Đó ắt hẳn là bọn giặc cướp lai vãng gần kinh thành làm gián điệp mà ra, có ý khích động, quấy nhiễu, mê hoặc lòng người. Nay dụ cho các bộ nghiêm chỉnh tróc nã lùng bắt. Hãy hiểu rõ dụ này mà làm việc cho thông suốt, để yên lòng dân.
Tháng chín, vua vào Sơn Hải quan, vương dẫn các vương cùng quần thần nghênh đón ở Thông Châu. Vua tới kinh sư, phong [vương] làm Thúc phụ Nhiếp chính vương, ban cho triều phục thêu mãng làm bằng da điêu (66). Tháng mười, Ất Mão, ngày mùng một, vua làm lễ lên ngôi, vì vương có công cao, bèn mệnh thượng thư bộ Lễ là Lang Cầu, thị lang là bọn Lam Bái, khải tâm lang là Ác Hách lập bia ghi lại công trạng, ban thêm cho sách bảo (67) với một cái mũ lông cáo đen, lại ban cho mười ba viên đông châu với một cái áo lông cáo đen, kèm thêm vàng bạc, ngựa và lạc đà. Năm thứ hai, Trịnh thân vương bàn với vua về nghi chế nhiếp chính vương, cho rằng đối với các vương khác phải có thêm lễ. Vương nói rằng: Trước mặt hoàng thượng không dám trái lễ, lúc khác thì có thể như lời bàn. Ngày hôm sau nhập triều, các đại thần đều quỳ xuống nghênh đón, [vương] sai quay kiệu đi về, hỏi đại học sĩ Cương Lâm: Lúc lên trên cửa triều, các đại thần quỳ trước ta là vì cớ gì? Ngự sử Triệu Khai Tâm trình rằng: Vương thân là hoàng thúc, kiêm giữ tôn vị nhiếp chính vương, thì đúng ra thần dân nên bái vũ (68) từ bên ngoài mới phải. Ân đức của vương cũng như của hoàng thượng, quần thần yết kiến vương, chính vì lễ tiết hạn chế mà việc triều kiến bất đồng. May thay các đại thần không bỏ cái ý tôn kính với vương, cũng như cái lòng hết sức tôn kính của vương đối với hoàng thượng. Hoàng thượng gọi vương là Thúc phụ Nhiếp chính vương, mà vương là thúc phụ của hoàng thượng thì chỉ có hoàng thượng mới gọi như vậy. Nếu có thể, nên thêm một chữ “hoàng” vào trước “thúc phụ” thì trên dưới sẽ rõ ràng mà thể chế vẫn được tôn trọng vậy. Liền lệnh xuống cho bộ Lễ bàn việc thi hành. Tháng sáu cùng năm, Dự thân vương chiếm lấy Dương Châu, [Sử] Khả Pháp chết, nhân đó phá Nam đô của nhà Minh. Tháng sáu nhuận, Anh thân vương đuổi Lý Tự Thành đến Vũ Xương, phía đông xuống đến Cửu Giang, Ninh Nam hầu cũ của nhà Minh đầu hàng, Giang Nam hoàn toàn được bình định. Tháng mười, vua ban cho vương ngựa, vương vào lạy tạ, [vua] xuống chiếu rằng: Gặp lúc triều hạ đại điển, trẫm nhận lễ này của vương. Chớ giữ tiểu tiết giống như các vương khác. Vương trả lời: Hoàng thượng tuổi nhỏ, thần không dám trái lễ. Đợi hoàng thượng đích thân chấp chính thì phàm mọi ân sủng, thần không dám chối từ. Thời gian vương làm nhiếp chính, công lao nhiều, địa vị tôn quý, thường khuyên răn các đại thần lo việc tôn phù chúa thượng: Đợi khi hoàng thượng xuân thu đỉnh thịnh (69) sẽ trả lại quyền chính vậy.
Trước Túc thân vương Hào Cách oán vương vì không lập mình lên ngôi, lại có hiềm khích với hai vương Anh, Dự là anh em cùng mẹ với vương, còn vương đối với Dự thân vương rất coi trọng, thường hay khoan dung. Dự thân vương đi đánh Tô Nhĩ Nặc bộ, vương ra tận cửa An Định để tiễn. Đến khi trở về, lại đón ở Ô Lan Nặc Nhĩ. Rồi họp các đại thần, nói Dự thân vương công lớn, nên phong Phụ chính thúc vương, nhân đó bãi chức phụ chính của Trịnh thân vương trao cho Dự thân vương. Túc thân vương bình định xong Tứ Xuyên, vương xét thấy ít tội, bèn tha cho khỏi phải chết.
Năm thứ tư, tháng mười hai, vương vì bệnh phong hàn mà không thể quỳ bái, liền cùng các vương và đại thần thương nghị, chỉ hành lễ trước vua vào ngày mùng một tháng giêng, còn lại đều miễn.
Năm thứ năm, tháng mười một, làm xong lễ Nam giao, xuống chiếu đại xá rằng: Thúc phụ Nhiếp chính vương trị yên thiên hạ, công lao to lớn, nên gia thêm lễ để phân biệt, bởi vì sùng công đức ấy mà tôn làm Hoàng phụ Nhiếp chính vương. Từ nay phàm mọi chiếu thư đều viết như vậy.
Năm thứ sáu, tháng hai, [vương] tự đi thảo phạt phản tướng ở Đại Đồng là Khương Tương, chiếm lấy Hồn Nguyên. [Vương] nghe tin Dự thân vương mắc bệnh đậu mùa, bèn tạm quay về. Dụ [Khương] Tương đầu hàng, không được. [Vương] lấy lý do quân ở bên ngoài, đúc thành ấn dùng trong quân. Cấm từ các vương cho tới nội đại thần can dự vào chính sự ở các bộ, viện và việc thăng giáng quan lại người Hán, nếu nói lời thị phi, bất luận như thế nào cũng đều trị tội. Tháng bảy, lại đánh Đại Đồng, thuộc tướng của [Khương] Tương là Dương Chấn Uy chém lấy đầu Tương xin hàng. Tháng mười, dời quân đi thảo phạt Khách Nhĩ Khách Nhị Sở Hô Nhĩ, lại đánh Ngao Hán, bốn bộ lạc là Trát Lỗ Đặc, Sát Cáp Nhĩ, Ô Lạt Đặc, Thổ Mặc Đặc mang quân đến hội. Tới Khách Đồn Bố Lạp Khắc, không thấy quân địch, bèn quay về. Tháng mười hai, vương phi Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị hoăng, dùng sách bảo truy phong là Kính Hiếu Trung Cung chính cung nguyên phi.
Năm thứ bảy, tháng giêng, vương lấy phúc tấn của Túc vương làm vợ. Phúc tấn là em của vương phi vậy. Lại cho tuyển con gái Triều Tiên. Lệnh các bộ làm việc không cần tấu sớ dâng lên, giao cho Tốn thân vương Mãn Đạt Hải, Đoan Trọng thân vương Bác Lạc, Kính Cẩn thân vương Ni Kham lo liệu xử lý. Tháng năm, dẫn các vương và bối lặc tới Sơn Hải quan, Triều Tiên đưa tú nữ đến, vương ra đón ở Liên Sơn, rồi làm lễ thành hôn. Lại tới Trung Hậu sở, khiển trách các vương và bối lặc cùng đi theo hàng ngũ không nghiêm chỉnh, phạt tiền theo thứ bậc. Tháng bảy, vì đang vào mùa hạ, khí hậu kinh thành nóng nực ẩm thấp không thể chịu được, [vương] xuống dụ chọn đất để xây thành tránh nóng. Lệnh cho bộ Hộ phái đinh tráng chín tỉnh Trực Lệ, Sơn Tây, Chiết Giang, Sơn Đông, Giang Nam, Hà Nam, Hồ Quảng, Giang Tây, Thiểm Tây, quyên góp số tiền hai trăm bốn mươi chín vạn lượng có lẻ về kinh sư để dùng vào việc thi công. Tháng tám, vương tôn mẹ đẻ là Thái Tổ phi Ô Lạt Nạp Lạp thị là Hiếu Liệt Cung Mẫn Hiến Triết Nhân Hòa Tán Thiên Lệ Thánh Vũ hoàng hậu, phụ thờ tại Thái miếu.
[Vương] thường có bệnh, mới nói với bối tử Tích Hàn, nội đại thần là Tịch Nột Bố Khố rằng: Nay ta đang gặp nỗi lo lớn, thân thể lại không được khỏe. Hoàng thượng tuy là bậc nhân đức, nhưng không thể chỉ tuân theo lễ chế của người nhà (70) mà thống trị muôn dân thuận lợi được. Hoàng thượng còn nhỏ, người nên gần gũi cùng với các đại thần mới phải. Lại căn dặn rằng: Đừng thấy ta nói vậy mà mời hoàng thượng đến. Tích Hàn đi rồi, bèn đuổi theo, chưa kịp thì vua đã tới phủ đệ của vương. Vương nhân đó trách Tích Hàn, luận tội đáng chết, [vua] lập tức mệnh tha cho. Tháng mười một, lại ra vùng biên ngoại. Tháng mười hai, [vương] hoăng ở thành Khách Lạt, thọ ba mươi chín tuổi. Vua nghe tin thương cảm vô cùng. Lễ tang xong, dẫn các vương và đại thần mặc áo the cúng tế bên ngoài cửa Đông Trực. [Vua] xuống chiếu truy tôn là Mậu Đức Tu Đạo Quảng Nghiệp Định Công An Dân Lập Chính Thành Kính Nghĩa hoàng đế, miếu hiệu là Thành Tông. Tháng giêng năm sau, tôn vương phi là Nghĩa hoàng hậu, phụ thờ tại Thái miếu.
Vương không có con, lấy con của Dự thân vương là Đa Nhĩ Bác làm hậu tự, tập tước thân vương, bổng lộc gấp ba các vương khác. [Vua] xuống chiếu giữ bọn tâm phúc cũ [của vương] là Tô Khắc Tát Cáp, Chiêm Đại lại làm Nghị chính đại thần. Tháng hai, Tô Khắc Tát Cáp cùng Chiêm Đại tố cáo việc lúc vương hoăng, đã đem thị nữ là Ngô Nhĩ Khố Ni tuẫn táng, lại báo việc vương tự chế tám bộ hoàng bào, dùng đại đông châu, tố châu, áo quái bằng da hắc điêu để trang trí bên trong quan tài. Lại tố cáo việc lúc vương còn sống, muốn lấy hai kỳ trú đóng ở Vĩnh Bình để mưu soán đại vị; Cố sơn ngạch chân là Đàm Thái bày cho vương việc lấy phúc tấn của Túc vương làm vợ, lại bắt con em của Túc vương thi bắn cung để làm trò vui. Hà Lạc Hội mới dùng lời ác ngôn để mắng lại. Lúc đó Trịnh thân vương Tế Nhĩ Cáp Lãng, Tốn thân vương Mãn Đạt Hải, Đoan Trọng thân vương Bác Lạc, Kính Cẩn thân vương Ni Kham cùng các nội đại thần nói rằng: Xưa lúc Thái Tông Văn hoàng đế cưỡi rồng về trời, các vương và đại thần đều thề sẽ trung thành phò tá hoàng thượng. Lúc hoàng thượng còn nhỏ, đã lệnh Tế Nhĩ Cáp Lãng thần cùng với Duệ thân vương Đa Nhĩ Cổn làm phụ chính. Về sau Đa Nhĩ Cổn một mình nắm trọn uy quyền, không cho Tế Nhĩ Cáp Lãng thần dự việc chính sự nữa, rồi lấy em cùng mẹ là Đa Đạc làm Phụ chính thúc vương. Mặc ý làm cái việc phản bội lời thề, tùy tiện tự tôn tự đại, lại tự xưng Hoàng phụ Nhiếp chính vương. Phàm phê duyệt tấu sớ và việc tiền bạc đều do Hoàng phụ Nhiếp chính vương làm cả. Nghi trượng, âm nhạc, tùy tùng theo hầu, phủ đệ đều tiếm dùng như của bậc chí tôn. Lại tự tiện nói Thái Tông Văn hoàng đế theo thứ tự không đáng được lập, để hiếp chế hoàng thượng. Dùng uy quyền để hãm hại bức ép, khiến Túc thân vương phải chết bất đắc kỳ tử, rồi lại lấy phi tử của ông ta làm vợ, tịch thu tài sản của ông ta. Lại làm trái đạo lý, đưa thần chủ mẹ đẻ vào thờ ở Thái miếu. Tội tiếm vọng quả là nhiều không sao kể xiết. Thần lúc trước vì sợ uy mà phải im lặng, nay liều chết tấu lên, nguyện cúi xin [hoàng thượng] khẩn trương xét xử trừng trị. [Vua] xuống chiếu tước bỏ tước vị và việc cúng tế, đồng thời bãi bỏ thụy hiệu cũng như việc cúng tế Hiếu Liệt Vũ hoàng hậu, truất khỏi tông thất, tịch thu tài sản sung công, buộc Đa Nhĩ Bác phải quy tông (71). Năm thứ mười hai, phó lý sự Lại khoa là Bành Trường Canh, Nhất đẳng tinh kỳ ni cáp phiên là Hứa Nhĩ An dâng sớ khen ngợi các vương công, xin phục lại tước hiệu, [vua] đem xuống cho các vương và đại thần thương nghị, Trường Canh, Nhĩ An đều bị luận phải xử tội chết, [vua] xuống chiếu cho đày đi Ninh Cổ Tháp.
Càn Long năm thứ ba mươi tám, Cao Tông xuống chiếu rằng: Duệ thân vương Đa Nhĩ Cổn nhiếp chính nhiều năm, uy phúc tự chuyên, sau khi chết đi thì bị kẻ thân thuộc cáo giác. Khi mới nhập quan, dẹp yên giặc giã, chỉnh đốn kỷ cương ở kinh thành, truyền hịch xuống để định Trung Nguyên, công lao ấy không thể bỏ đi được. Nay không có người để hậu tự, lại bị định tội phế trừ tước phong. Nhưng nghĩ đến cái công lấy được thiên hạ lúc đầu, mà để vương phải chịu cảnh dòng dõi đoạn tuyệt, mồ mả hoang phế, thì thực là thương cảm. Giao cho phái viên ở Nội vụ phủ sửa chữa tu bổ lại [phần mộ của vương], đồng thời lệnh cho các vương công thuộc chi gần sắp xếp thời gian để quét dọn cúng tế. Năm thứ bốn mươi ba, tháng giêng, lại xuống chiếu rằng: Duệ thân vương Đa Nhĩ Cổn quét sạch giặc giã, chỉnh đốn cung cấm. Phân chia sai khiến các vương, đuổi diệt lưu khấu, vỗ yên bờ cõi. Sáng chế quy mô, sửa sang hoạch định. Lại phụng xa giá Thế Tổ vào kinh đô, hoàn thành đại nghiệp nhất thống, công ấy sáng lắm thay! Sau khi chết bị Tô Khắc Tát Cáp hãm hại, vu cáo cho là mưu nghịch. Vương vào lúc Thế Tổ lên ngôi, tuổi nhỏ chưa từng thân chính, chịu để các vương định tội phế trừ phong tước. Trẫm nghĩ vương nắm giữ binh quyền, nếu nảy sinh ý khác thì có việc gì là không thể? Mà ở vào thời điểm ấy lại không nhân lúc thuận lợi, cố ý tiếm dụng long cổn làm liệm phục (72) cho mình, trông [việc ấy] làm bằng chứng thì liệu có lý chăng? [Thế Tổ] Thực lục chép: “Vương triệu tập các vương và đại thần, sai người truyền lại lời rằng: “Nay xét thấy các vương và đại thần chỉ biết lấy lòng ta, dùng lời lẽ ngon ngọt để mà thượng tôn, ta sao có thể chấp nhận được việc ấy? Xưa Thái Tông băng hà, tự quân chưa lập, Anh vương, Dự vương quỳ xin ta lên ngôi, ta mới bảo rằng: “Nếu quả thực như lời này thì ta lập tức sẽ tự vẫn”, thề chết không theo, rồi mới phụng đức kim thượng lên ngôi. Những ngày sau đó nhiều người sợ hãi hồ nghi, cho là ta làm vua, ta còn có thể nói là không thể [có chuyện ấy]; nay nói những lời bất kính hoàng thượng với ta, thì ta sao có thể dung? Từ nay về sau người có lòng trung đặt lên trên, ta sẽ yêu mến trọng dụng; kẻ nào bất trung, chỉ biết gian nịnh, ta sẽ không khoan thứ”. Lại bảo rằng: “Thái Tông có ơn đích thân nuôi dạy ta, đối với các con em khác phân biệt hẳn, là vì cái lòng tin tưởng vào sự trưởng thành tự lập của con em, duy chỉ có ta là có thể tự lập được”.”. Trẫm mỗi lần xem Thực lục đến chỗ này, chưa bao giờ không vì thế mà rơi nước mắt. Chính là vì vương lập tâm mà làm việc, thực sự dốc lòng trung nghĩa, cảm ơn sâu mà làm sáng tỏ cái nghĩa vua tôi vậy. Chỉ vì do gian mưu của kẻ tiểu nhân mà bị vu cáo hãm hại, há vì thế mà không thể rửa sạch được oan ức ư? Nay phục hồi phong hiệu Duệ thân vương, truy thụy là Trung, phối hưởng tại Thái miếu. Dựa theo quy chế viên tẩm của thân vương mà tu sửa mộ phần, lệnh Thái thường tự hai mùa xuân thu đến cúng tế. Tước vị của vương được phép thế tập võng thế (73).
Đa Nhĩ Bác sau khi quy tông được phong bối lặc, mệnh cho được trở lại làm hậu duệ của vương như cũ, lấy cháu năm đời là Phụ quốc công Thuần Dĩnh tập tước. Tổ bốn đời là Trấn quốc công Tô Nhĩ Phát, tằng tổ là Phụ quốc công Tắc Lặc, tổ là Phụ quốc Khác Cần công Công Nghi Bố trước đã tiến phong là Tín quận vương, tới cha của Thuần Dĩnh là Tín Khác quận vương Như Tùng, đến nay đều truy phong là Duệ thân vương. Gia Khánh năm thứ năm, Thuần Dĩnh hoăng, thụy là Cung, con là Bảo Ân tập tước. Năm thứ bảy, tháng năm, [Bảo Ân] hoăng, thụy là Thận, em là Thụy Ân tập tước. Đạo Quang năm thứ sáu, [Thụy Ân] hoăng, thụy là Cần, con là Nhân Thọ tập tước. Đạo Quang năm thứ chín, vua đi tuần tới Thịnh Kinh bái yết lăng tẩm, nhớ lại việc cũ của Trung vương (74), bèn gia ân ban cho tam nhãn hoa linh (75). Đồng Trị năm thứ ba, [Nhân Thọ] hoăng, thụy là Hy, con là Đức Trường tập tước. Quang Tự năm thứ hai, [Đức Trường] hoăng, thụy là Khác, con là Khôi Bân tập tước.
Chú thích:
(1) Mặc Nhĩ Căn là phiên âm Hán của ᠮᡝᡵᡤᡝᠨ, trong tiếng Mãn Châu có nghĩa là người thông thái, chữ Hán tương đương là chữ 睿 (duệ); Đại Thanh là phiên âm Hán của ᠳᠠᠢᠼᠢᠨ, có thể xuất phát từ tiếng Mông Cổ ᠳᠠᠢᠢᠴᠢᠨ, có nghĩa là chiến binh.
(2) Nguyên văn: 僑裝 (kiều trang), có lẽ là mặc nhờ trang phục. Tổ Đại Thọ truyện chép là 為漢裝 (vi Hán trang), có nghĩa là mặc quần áo người Hán.
(3) Chức vụ lo việc ở kinh đô khi vua đi vắng.
(4) Chế độ Bát kỳ, cứ 300 người làm thành một ngưu lục (tiếng Mãn Châu: ᠨᡳᡵᡠ).
(5) Chỗ này nguyên văn khuyết chữ, không rõ nghĩa cả câu.
(6) Nguyên văn chép 洛託 tức là Lạc Thác, có lẽ là nhầm với chữ 樂 (nhạc, lạc) đồng âm với chữ nhạc 岳 trong Nhạc Thác.
(7) Nguyên văn: 纛 (độc), thứ cờ tiết dùng làm nghi vệ cho thiên tử.
(8) Nguyên văn: 沈舟破釜 (trầm chu phá phủ). Sử ký, Hạng Vũ bản kỷ viết: 沈船, 破釜甑, 燒廬舍 (Đánh chìm thuyền, phá nồi chõ, đốt nhà cửa). Ý chỉ việc đánh lấy một trận quyết định.
(9) Nguyên văn: 伯 (bá). Bấy giờ Ngô Tam Quế đang là Bình Tây bá của nhà Minh.
(10) Phần tiếp theo đến hết câu bị khuyết chữ nên câu không đầy đủ. Nguyên văn: 晉為籓?懷疑. Có lẽ là dẫn một điển tích liên quan đến nước Tấn hoặc nhà Tấn để khuyên Ngô Tam Quế giữ yên vị trí, không sinh lòng hoài nghi.
(11) Thời Xuân Thu, Quản Trọng lúc trước theo lệnh của công tử Củ bắn trúng đai áo của công tử Tiểu Bạch, may nhờ giả chết nên thoát nạn. Công tử Tiểu Bạch sau lên ngôi tức là Tề Hoàn công, nghe lời Bão Thúc Nha không trách chuyện cũ mà vẫn dùng Quản Trọng làm đại phu, từ đó nước Tề trở nên giàu mạnh, trở thành bá chủ các chư hầu.
(12) Ở đây chỉ binh tướng dưới quyền của Ngô Tam Quế.
(13) Tức là quân Thanh.
(14) Ý nói mời Đa Nhĩ Cổn dùng nghi vệ của thiên tử.
(15) Chu công Đán làm phụ chính thời Chu Thành vương.
(16) Sách Hoài Nam tử, phần Tề tục huấn viết: (周公)攝天子之位,負扆而朝諸侯, có nghĩa: (Chu công) ở vào địa vị nhiếp chính cho thiên tử, [thì cũng] ngồi quay lưng vào bình phong hướng về phía chư hầu.
(17) 加派 , là những khoản thuế phát sinh nằm ngoài quy định của pháp luật, nhà Minh từ những năm Gia Tĩnh trở đi thường xuyên áp dụng.
(18) Tiền thuế dùng làm tiền lương cấp cho quân đội đồn trú ở Liêu Đông để phòng ngự Hậu Kim, được đặt ra từ năm Vạn Lịch thứ 46 (1618).
(19) Tiền thuế phục vụ việc trấn áp khởi nghĩa nông dân cuối thời Minh, được đặt ra từ năm Sùng Trinh thứ 10 (1637) đến năm thứ 13 (1640) thì bị đình chỉ.
(20) Nhân việc quân Thanh nhiều lần xâm nhập quan nội, thượng thư bộ Binh nhà Minh là Dương Tự Xương lại đề xuất loại thuế mới gọi là luyện hướng dùng để huấn luyện cả quân đội chính quy lẫn quân ở các địa phương, có hiệu lực bắt đầu từ năm Sùng Trinh thứ 12 (1639). Thực ra đây chẳng khác gì loại thuế tiễu hướng đã bị bãi bỏ trước đó.
(21) Nguyên văn: 朝不及夕 (triều bất cập tịch), chỉ cuộc sống khổ sở tới mức tột độ. Sách Tả truyện, phần Hi công thất niên chép: 朝不及夕,何以待君 ?, tạm dịch: Trăm họ khốn khổ, lấy gì đãi vua?
(22) Tức là Nam Kinh Ứng Thiên phủ cũ, sau khi nhà Thanh chiếm được, bắt đầu từ năm Thuận Trị thứ 2 (1645) đổi gọi là Giang Ninh phủ.
(23) Gồm bốn cánh quân: Cao Kiệt ở Từ Châu; Lưu Lương Tá ở Thọ Châu, Lưu Trạch Thanh ở Hoài An, Hoàng Đắc Công ở Lư Châu, Trừ Châu.
(24) Tên thường gọi một cách không chính thức của chức thượng thư bộ Binh.
(25) Chỉ Sử Khả Trình, em trai của Sử Khả Pháp, đỗ tiến sĩ năm Sùng Trinh thứ 16 (1643), nhậm chức thứ cát sĩ ở Hàn lâm viện.
(26) Chỉ việc Phúc vương Chu Do Tung lên ngôi ở Nam Kinh lấy niên hiệu Hoằng Quang. Kim Lăng là tên cũ của Nam Kinh.
(27) Kinh Xuân Thu là bộ biên niên sử của nước Lỗ do Khổng Tử biên soạn.
(28) Thời Xuân Thu, đại phu nước Lỗ là Vũ Phủ sai người cầm tù Lỗ Ẩn công, lập Lỗ Hoàn công, sau đó vua nước Tề lại phái công tử Bành Sinh giết Hoàn công, người Lỗ lại lập Trang công làm vua. Vì Ẩn công và Hoàn công đều bị sát hại mà nước Lỗ chưa trừng trị những kẻ giết vua, nên sách Xuân Thu mới ghi lại là Hoàn công chưa chôn cất, Trang công cũng chẳng thể lên ngôi. Ở đây Đa Nhĩ Cổn muốn phê phán việc sau khi Sùng Trinh đế tự sát, chính quyền Nam Minh không hề có ý muốn thảo phạt quân khởi nghĩa nông dân, như vậy là trái với đạo nghĩa.
(29) Trung quốc ở đây hiểu là khu vực Trung Nguyên, đất đai của người Hán.
(30) Ngô Tam Quế trước làm tổng binh cho nhà Minh trấn giữ Sơn Hải quan, phía đông khu vực Trung Nguyên.
(31) Thân Bao Tư làm đại phu thời Sở Bình vương, gặp lúc quân Ngô công phá kinh đô nước Sở, quật mộ Bình vương, vua Sở là Chiêu vương phải trốn sang nước khác. Thân Bao Tư chạy đến nước Tần cầu cứu, khóc trước cửa điện bảy ngày bảy đêm, cuối cùng Tần phát binh cứu Sở, quân Ngô phải rút lui.
(32) Đầu đời Minh lập ba vệ ở đất Kiến Châu, phong các tù trưởng làm Đô chỉ huy sứ, con cháu được phép thế tập, trong đó có Mạnh Đặc Mục ở Kiến Châu tả vệ là tổ tiên nhiều đời của hoàng thất nhà Thanh.
(33) Từ lúc Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích khởi binh phản Minh đến đương thời là 26 năm, trải qua giao tranh liên tục. Đa Nhĩ Cổn dùng chữ 小嫌 (tiểu hiềm) với ý nhún nhường để thuyết phục.
(34) Nguyên văn dùng chữ 貔貅 (tỳ hưu) là tên một loài thú trong truyền thuyết để chỉ quân sĩ dũng cảm thiện chiến.
(35) Chỉ quân khởi nghĩa nông dân Lý Tự Thành.
(36) Sùng Trinh đế nhà Minh và hoàng hậu.
(37) Ngày xưa đất chôn cũng như ngày chôn người chết đều nhờ thầy chọn, chuyên dùng chữ 卜 (bốc).
(38) Huân là loại hình quan hàm phong cho con cháu các công thần để tưởng nhớ công lao, không có thực quyền; thích là ngoại thích, họ hàng bên ngoại của nhà vua.
(39) Chỉ vùng phía bắc sông Hoàng Hà.
(40) Nguyên văn: 陳師鞠旅 (Trần sư cúc lữ), xuất phát từ Kinh Thi, phần Tiểu nhã, thiên Thải khí.
(41) Nguyên văn dùng chữ 南州 (Nam châu), ý chỉ chính quyền Nam Minh.
(42) Chỉ chính quyền Nam Minh. Nhà Thanh sau khi nhập quan tự cho mình là chính danh còn Nam Minh chỉ là thế lực tàn dư, không có tư cách kế thừa triều cũ.
(43) Chỉ nhà Thanh.
(44) Quân đội của nhà vua. Chỉ quân Thanh.
(45) Chỉ sông Trường Giang, các triều đại miền nam của người Hán thường tận dụng để phòng thủ trước sự xâm lấn từ phía bắc.
(46) Thời Đông Tấn, Phù Kiên nước Tiền Tần phía bắc đến xâm lược, tự cho là binh lực lớn mạnh, nói rằng chỉ cần dùng cái roi quất ngựa đập xuống sông Trường Giang, thì tức khắc dòng chảy đứt đoạn.
(47) Nguyên văn: 薄海同仇 (bạc hải đồng cừu). Bạc: tới sát, bạc hải chỉ đất đai bên trong biển, hay nội địa.
(48) Nguyên văn: 天有二日 (Thiên hữu nhị nhật). Chỉ việc một nước có hai vua.
(49) Đi về phía tây tức là đánh Lý Tự Thành, đông chinh là đánh Nam Minh. Câu này có nghĩa là nhà Thanh thực thi chính sách miễn tội chết cho quân Lý Tự Thành để sai làm dẫn đường đi đánh Nam Minh.
(50) Nguyên văn: 潢池 (hoàng trì). Thời Hán Tuyên đế, Cung Toại làm Thái thú Bột Hải, quan lại tiền nhiệm không quan tâm đến sự sống chết của dân chúng, liên tục bức bách khiến họ nổi dậy phản kháng. Cung Toại dâng thư lên vua rằng: Dân khổ vì đói rét mà quan lại không quan tâm, thế nên con đỏ của bệ hạ mới nổi lên trộm cướp, đẩy quân sĩ bệ hạ vào trong chốn ao tù đó. Cuối cùng phải cho thi hành việc chiêu an.
(51) Miền nam sông Trường Giang, cũng gọi là Giang Đông.
(52) Chỉ Phúc vương Chu Do Tung.
(53) Nguyên văn: 待以虞宾 (Đãi dĩ Ngu tân). Thiên Nghiêu điển trong Kinh Thi có nói việc vua Nghiêu sai Thuấn tiếp đãi chư hầu tới triều kiến, Thuấn đối với họ rất mực cung kính.
(54) Kinh Thư, thiên Vi Tử chi mệnh: 統承先王, 修其禮物 (Thống thừa tiên vương, tu kỳ lễ vật)
(55) Nguyên văn: 带砺山河 (Đái lệ sơn hà). Đái: cái đai; lệ: viên đá mài sắc cạnh, sơn hà: Viết tắt của núi Thái Sơn và sông Hoàng Hà. Sử ký – Cao Tổ công thần hầu giả niên biểu: Lúc phong tước lập lời thề rằng: “Nguyện lấy sông Hoàng Hà như đai áo, núi Thái Sơn như viên đá mài, quốc gia yên ổn dài lâu, ân huệ truyền cho con cháu”. (封爵之誓曰:‘使河如帶,泰山若礪,國以永寧,愛及苗裔’.)
(56) Luận ngữ, thiên Nghiêu viết: 興滅國,繼絕世,舉逸民,天下之民歸心焉 (Hưng diệt quốc, kế tuyệt thế, cử dật dân, thiên hạ chi dân quy tâm), nghĩa là khôi phục những nước bị diệt, tiếp nối những thế hệ bị đứt đoạn, dùng những người hiền tài ẩn dật thì người trong thiên hạ sẽ thành tâm quy phục vậy. Hàm ý là nhà Thanh không có ý diệt hẳn nhà Minh, mà muốn duy trì dòng dõi nhà Minh để yên ổn lòng người.
(57) Chỉ Ngô Tam Quế.
(58) Nguyên văn: 筑舍 , lấy từ thành ngữ 筑舍道傍 (Trúc xá đạo bàng). Thời xưa ở bên đường thường dựng nhà nghỉ chân để người đi đường ngồi bàn chuyện, vì vậy câu này hàm ý lời nói của nhiều người thường lẫn lộn, khó làm nên việc.
(59) Nhà Tống năm Tĩnh Khang thứ nhất, quân Kim tiến đến phía bắc sông Hoàng Hà, quân Tống phòng thủ tan vỡ.Bấy giờ trong triều còn tranh luận xem nên hòa hay chiến. Vua Tống mệnh Lý Cương làm lưu thủ Đông Kinh, nhưng vẫn theo đề xuất bỏ kinh thành chạy xuống miền nam của Lý Bang Ngạn. Đến khi quân Kim vượt sông xong, bắt đầu vây hãm Đông Kinh, Tống vẫn một mặt đề kháng, một mặt cầu hòa, kỳ thực là lấy hòa làm chủ trương. Đời sau thường lấy việc này để nhắc chuyện nói hão dẫn đến làm hại quốc gia.
(60) Nguyên văn: 殷鑒 (Ân giám). Xuất phát từ Kinh Thi– Đại nhã – Đãng. Nhà Ân diệt nhà Hạ, lấy đó làm tấm gương răn mình.
(61) Chỉ nhà Minh.
(62) Bấy giờ triều đình Thanh vẫn đóng ở Thẩm Dương.
(63) Vua hiện nay, tức là Thuận Trị đế.
(64) Một vạn: 10000, một ức bằng mười vạn. Ức vạn phiếm chỉ con số rất lớn.
(65) Sơn: Sơn Tây; Thiểm: Thiểm Tây
(66) Mãng là hình rồng bốn móng; điêu là giống chuột lớn sống ở xứ lạnh, da dùng làm quần áo rất ấm.
(67) Sách: chiếu thư sách phong, bảo: ấn chương.
(68) Lễ tiết dùng để triều bái thời cổ, sau khi khấu đầu quỳ có kèm theo nhảy múa.
(69) Ý nói tuổi tác trưởng thành, vào lúc hưng thịnh.
(70) Chỉ người Mãn Châu.
(71) Tức là quay trở về dòng dõi Dự thân vương.
(72) Quần áo khâm liệm cho người chết.
(73) Quy chế nhà Thanh, vương công quý tộc, cứ qua một đời lại giáng một cấp, chỉ có mười hai “Thiết mạo tử vương” là được hưởng đặc ân đời đời giữ tước không bị giáng cấp.
(74) Tức là Đa Nhĩ Cổn, có thụy hiệu là Trung.
(75) Hoa linh là vật trang sức gắn sau mũ của quan viên, quý tộc đời Thanh, làm từ lông đuôi của con công, có hình tròn giống như con mắt nên gọi là nhãn. Tam nhãn hoa linh là lông công có ba hình tròn.
Tài liệu tham khảo:
[1] Wikisource tiếng Trung, Thanh sử cảo, quyển 218: Thái Tổ chư tử tam: https://zh.wikisource.org/wiki/%E6%B8%85%E5%8F%B2%E7%A8%BF/%E5%8D%B7218
[2] Bách khoa toàn thư Baidu, mục 致史可法书 (Trí Sử Khả Pháp thư):
https://baike.baidu.com/item/%E8%87%B4%E5%8F%B2%E5%8F%AF%E6%B3%95%E4%B9%A6
[3] Từ điển Hán Nôm: https://hvdic.thivien.net/
Vui lòng không tự up lại khi chưa có sự đồng ý của người dịch!


Nhận xét
Đăng nhận xét