Về bức “Ba Ngôi” của Andrei Rublev

Ba Ngôi (tiếng Nga: Троица, chuyển tự Latinh: Troitsa, cũng gọi là , cũng gọi là Lòng mến khách của Abraham), là một bức ikon (tranh thánh) của họa sĩ người Nga Andrei Rublev vào thế kỉ thứ 15. Đây là tác phẩm nổi tiếng nhất của cá nhân ông và được coi là một thành tựu lớn của nghệ thuật ikon Nga. Các học giả xem Ba Ngôi là một trong hai tác phẩm được cho là của Rublev (tác phẩm còn lại các bức tranh tường tại nhà thờ Đức Mẹ an giấc ở Vladimir ( Собор Успения Пресвятой Богородицы, Sobor Uspeniya Presvyatoy Bogoroditsy).

 
Ba Ngôi, Andrei Rublev, 1411 hoặc 1425-1427, tempera trên khổ 142cmx114cm, Phòng tranh Quốc gia Tretyakhov, Moskva

Bức tranh diễn tả câu chuyện ba thiên thần tới thăm Abraham (1) tại cây sồi Mamre trong Kinh Thánh Cựu Ước (Sáng thế ký 18:1-8), nhưng lại ẩn chứa tính biểu tượng về hình ảnh Chúa Ba Ngôi. Trong thời của Rublev, hình ảnh Chúa Ba Ngôi là hiện thân của sự hiệp nhất linh thiêng, hòa bình, tình yêu và lòng khiêm nhường. Bức tranh được đặt làm để vinh danh thánh Sergey Radonezhsky, tọa lạc bên trong tu viện Troitse-Sergiyeva Lavra ( nay thuộc thành phố Sergiyev Posiad tỉnh Moskva (2)). Lịch sử của bức tranh rất ít được biết đến, và ngay cả quyền tác giả của Rublev cũng bị nghi ngờ. Các nhà nghiên cứu đưa ra những ý kiến khác nhau về thời gian bức tranh được vẽ: 1408-1425, 1422-1423 hoặc 1420-1427 và thời gian chính thức được công bố là 1411 hoặc 1425-1427. Ngày nay, bức tranh được lưu giữ tại Phòng tranh Quốc gia Tretyakhov ở Moskva. 

Mô tả

Nội dung của bức tranh là cảnh ba vị thiên thần đang ngồi quanh một cái bàn. Trên mặt bàn là một cái cốc (hay cái bát) đựng đầu của một con bò. Ở phần hậu cảnh là một ngôi nhà (được cho là nhà của Abraham), một cây sồi (cây sồi Mamre) và một ngọn núi (núi Moriah (3)). Hình ảnh các thiên thần được sắp xếp tạo thành một đường tròn hoàn chỉnh. Vị thiên thần ở trung tâm và vị ngồi bên trái có cử chỉ như đang chúc lành cho chiếc cốc, ngoài ra không có bất cứ hành động hay di chuyển gì. Ánh mắt của các nhân vật như đang chìm trong sự chiêm ngắm đến tận cùng, trong một trạng thái bất động. Bên cạnh đó có thể thấy những vết đinh của riza (các bức ikon của Chính Thống giáo thường được phủ một tấm kim loại bảo vệ gọi là riza) ở phần khung bức tranh, và vệt màu còn sót lại của vầng hào quang bao quanh chiếc cốc. 

Tính biểu tượng 

Như trên đã nói, bức tranh được vẽ dựa trên câu chuyện trong Kinh Cựu Ước có tên là Lòng mến khách của Abraham. Abraham “đang ngồi trước cửa lều, vào lúc nóng nực nhất trong ngày. Ông ngước mắt lên thì thấy có ba người đứng gần ông. Vừa thấy, ông liền từ cửa lều chạy ra đón khách, sụp xuống đất lạy ” ( Sáng thế ký 18:1-3). Rồi, “ ông chạy lại đàn vật, bắt một con bê mềm và ngon, giao cho người đầy tớ, và anh này vội vã làm thịt. Ông lấy sữa chua, sữa tươi và thịt bê đã làm, mà đãi khách ; rồi ông đứng hầu dưới gốc cây, đang khi khách dùng bữa” ( Sáng thế ký 18:7-8) (4). Một trong ba người khách nói với Abraham rằng vợ ông, bà Sarah, sẽ sớm sinh một đứa con trai. 

Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, có nhiều cách diễn giải chủ đề của bức Ba Ngôi theo những cách khác nhau. Tới thế kỷ 19-20 mới có sự đồng thuận giữa các học giả dựa trên cách diễn giải sau: ba vị thiên thần viếng thăm Abraham biểu thị cho Ba Ngôi Thiên Chúa, “một Thiên Chúa trong ba thân vị” - Cha, Con (Chúa Giêsu Kitô) và Thánh Thần. Các nhà phê bình nghệ thuật cũng cho rằng bức tranh được vẽ là phù hợp với cách diễn giải này. Để thể hiện điều đó Rublev đã gạt bỏ những yếu tố truyền thống gắn bó một cách điển hình với câu chuyện Lòng mến khách của Abraham . Ông không vẽ Abraham, bà Sarah, cảnh làm thịt con bê, cũng như bất kì chi tiết nào liên quan đến bữa ăn. Ba vị thiên thần được thể hiện như đang nói chuyện chứ không phải đang ăn uống. Cử chỉ của các thiên thần, vừa mềm mại, vừa tiết chế, chứng tỏ sự tự nhiên đến tuyệt vời của cuộc nói chuyện. Nhưng chi tiết trung tâm của bức tranh lại nằm ở sự hiệp thông giữa các vị thiên thần. 

Bức tranh của Rublev đã diễn giải một cách rõ ràng ý niệm đồng bản thể (5) của Ba Ngôi Thiên Chúa thông qua hình ảnh ba thiên thần đều được xếp trong một đường tròn. Ông không vẽ cùng lúc ba thiên thần vào trong một đường tròn có sẵn, mà khi vẽ xong, ba thiên thần mới tạo thành một đường tròn hoàn chỉnh. Vì vậy mà khi nhìn bức tranh, mắt chúng ta không thể dừng lại ở bất kì một trong ba nhân vật, mà như bị hút vào khoảng không gian nào đó ở giữa (6). Phần trung tâm của bố cục là chiếc cốc với cái đầu con bê mà Abraham đã cho làm thịt. Nó ẩn dụ cho sự hiến tế cho Thiên Chúa, cụ thể hơn là cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá, cũng như tái hiện lại Bí tích Thánh thể (7) (hình ảnh hai thiên thần bên phải và bên trái gần giống như chiếc cốc trong Bí tích Thánh thể). Xung quanh chiếc cốc là một cuộc hội thoại “im lặng”, chỉ có cử chỉ thay cho lời nói. 

Vị thiên thần bên trái biểu thị cho Chúa Cha. Ngài đang chúc lành cho chiếc cốc, với bàn tay được vẽ cách xa khỏi chiếc cốc, có cảm giác như đang đưa chiếc cốc cho vị thiên thần ở giữa. Viktor Lazarev (8) cho rằng vị thiên thần ở giữa là hiện thân của Chúa Giêsu, tư thế Ngài như đang quay mình lại phía Chúa Cha mà chúc phúc cho chiếc cốc, ứng với câu Người đi xa hơn một chút, sấp mặt xuống, cầu nguyện rằng : “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” (Mátthêu 26:39)(9). Bản tính của ba thân vị được biểu hiện qua những chi tiết mang tính biểu tượng như ngôi nhà, cây sồi, và ngọn núi. Ngôi nhà của Abraham tượng trưng cho ý Chúa, vì vậy Rublev đặt nó lên trên đầu vị thiên thần bên trái (đại diện cho Chúa Cha). Cây sồi Mamre tượng trưng cho cây sự sống (10) ẩn dụ cho cái chết của Giêsu trên thập giá và sự phục sinh của Ngài sau đó, là khởi đầu của đường tới sự sống đời đời. Cây sồi được đặt trên đầu vị thiên thần ở giữa (đại diện cho Chúa Giêsu). Cuối cùng là hình ảnh ngọn núi tượng trưng cho con đường dốc ngược lên cao mà loài người phải đi nếu muốn hiệp thông với Thiên Chúa, bằng sự giúp đỡ của Chúa Thánh Thần. Sự thống nhất của ba thân vị được thể hiện dựa trên câu “... để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con” (Gioan 17:21) (11). 

Đôi cánh của các thiên thần đại diện cho Chúa Cha và Chúa Con được vẽ xen kẽ nhau. Màu xanh trên áo của Chúa Con biểu hiện thần tính, màu nâu biểu hiện cho sự nhân từ và màu vàng nói lên vương quyền của Thiên Chúa. Đôi cánh của Chúa Thánh Thần không “chạm” vào đôi cánh của Chúa Con mà được phân cách bởi cây trượng của Chúa Con. Màu xanh trên áo của Chúa Thánh Thần cũng biểu hiện cho thần tính, còn màu xanh lá lại tượng trưng cho sự sống mới ở đời sau. Cả Chúa Con và Chúa Thánh Thần đều được vẽ như đang cúi đầu trước Chúa Cha, nhưng ngai tòa của cả ba thân vị vẫn được vẽ ngang bằng nhau, là để thể hiện cho cái ý niệm đồng bản tính vậy. 

Nguồn bài viết: https://en.wikipedia.org/wiki/Trinity_(Andrei_Rublev) 

Chú thích:

 (1) Abraham là tổ phụ của người Do Thái và Ả Rập theo đạo Do Thái, đạo Hồi và đạo Kitô.

 (2) Tỉnh Moskva còn có tên khác là Podmoskovye, khác với thành phố Moskva thủ đô của Nga. 

 (3) Núi Moriah trong Kinh Thánh là nơi Abraham hiến tế đứa con trai độc nhất Issac khi bị Thiên Chúa thử thách. Sau khi biết được lòng tin của ông, Ngài đã sai thiên sứ xuống nói với Abraham dừng tay lại.
 (4), (9), (11) Các trích dẫn này lấy từ Kinh Thánh ấn bản 2011 của Nhóm phiên dịch các giờ kinh phụng vụ, Hội đồng Giám mục Việt Nam: https://ktcgkpv.org/bible 

 (5) Đồng bản thể (tiếng Anh: consubstantiality) cũng gọi là đồng bản tính (tiếng Anh: coessentiality) là khái niệm trong thần học Kitô giáo chỉ ra rằng ba thân vị Cha, Con và Thánh Thần “tuy ba mà một”, có cùng một bản tính (hay bản thể), tức là vẫn chỉ có một Thiên Chúa duy nhất. 

 (6) Chỗ này dịch theo cách hiểu cá nhân và có lẽ chưa được thoát ý. Nguyên bản tiếng Anh: In Rublev's icon, the form that most clearly represents the idea of the consubstantiality of the Trinity's three hypostases is a circle. It is the foundation of the composition. At the same time, the angels are not inserted into the circle, but create it instead, thus our eyes can't stop at any of the three figures and rather dwell inside this limited space. 

 (7) Bí tích Thánh thể là Thánh lễ được cử hành bởi các Kitô hữu để tưởng nhớ Chúa Giêsu theo những việc mà ông làm trong bữa Tiệc Ly, theo Kinh Thánh Tân Ước, trong bữa tiệc này, Giê su bẻ bánh cho các môn đệ và nói “Này là thân thể ta”, lại đưa rượu nho cho các môn đệ và nói “Này là huyết ta”. Cũng có thể hiểu Bí tích Thánh thể theo nghĩa là bánh Thánh và rượu Thánh, tượng trưng cho Mình và Máu của Chúa Giêsu. 

 (8) Viktor Nikitich Lazarev (1897-1976) là nhà sử học và phê bình mỹ thuật Liên Xô, chuyên nghiên cứu mỹ thuật trung đại Byzantine, Nga và Armenia. 

 (10) Cây sự sống (cũng gọi là cây trường sinh) xuất hiện lần đầu trong sách Sáng thế ký chương 2:9, là một trong hai loại cây mà Thiên Chúa đặt ở trung tâm vườn Địa đàng (cây còn lại là cây “biết điều thiện điều ác” - cây mà con rắn đã dụ dỗ Ađam và Êva lấy quả ăn). Theo chú thích của Kinh Thánh ấn bản 2011, “cây trường sinh là cây hoa trái, hoa trái này mang lại và duy trì sự sống. Do bản tính, con người là thụ tạo thế nào cũng phải chết. Cây trường sinh ở đây cho thấy ơn bất tử con người được hưởng khi sống trong vườn Ê-đen”. Truyền thống Chính Thống giáo xem cây sự sống là dự báo trước hình ảnh của thập giá, về sự hóa thân, sự chết và sự phục sinh của Giêsu.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến