Thanh sử cảo 清史稿 – quyển 319: Hòa Thân truyện

Hòa Thân

Hòa Thân, tự Trí Trai, người Nữu Hỗ Lộc thị thuộc Mãn Châu Chính Hồng kỳ. Thuở nhỏ nghèo túng không có chỗ dựa, mới theo đường khoa cử mà làm sinh viên (1). Càn Long năm thứ ba mươi tư, [Thân] được thừa tập chức Tam đẳng khinh xa đô úy, dần dần lên Tam đẳng thị vệ rồi được bổ vào Niêm Can xứ.  [Càn Long] năm thứ bốn mươi, [Thân] làm thị vệ trực ở cửa cung Càn Thanh, rồi được cất nhắc làm Ngự tiền thị vệ, kiêm Phó đô thống. Sang năm sau, [Thân] lên chức Thị lang bộ Hộ, được [vua] mệnh làm Quân cơ đại thần, lại kiêm Nội vụ phủ đại thần, [có thể nói là] thăng tiến nhanh chóng vậy. Lại kiêm Bộ quân thống lĩnh, giữ chức Giám đốc thuế vụ ở cửa Sùng Văn, Tổng lý hành doanh sự vụ. Năm thứ bốn mươi lăm, [vua] mệnh [Thân] cùng với Thị lang Khách Ngưng A đến Vân Nam để điều tra việc tham ô của Tổng đốc Lý Thị Nghiêu. Thị Nghiêu thường khoa trương mình là người mẫn cán, được vua tín nhiệm. Hòa Thân tới, tiến hành thẩm vấn bọn nô bộc của Thị Nghiêu, thu hết chứng cứ tham ô của ông ta, luận việc bài trừ triệt để và tấu lên vua tình trạng quan lại Vân Nam buông bỏ việc cai trị, tiền bạc ở các phủ châu huyện phần nhiều bị thiếu hụt, lập tức cần sửa sang lại cho trong sạch. Vua muốn dùng Hòa Thân làm Tổng đốc, nhưng hiềm việc ấy truyền ra ngoài sẽ có người hặc, mới lấy Phúc Khang An thay thế. [Vua] mệnh [Hòa Thân] hồi kinh, chưa về tới nơi đã xuống chỉ cất [Thân] làm Thượng thư bộ Hộ kiêm Nghị chính đại thần. Tới lúc nhận chỉ chịu mệnh, [Thân] vào gặp [vua] trình bày việc quản lý muối ở Vân Nam, rồi việc tiền tệ, việc biên giới, phần nhiều hợp ý vua, được [vua] cho phép cùng đi theo hầu. [Thân] lại thụ chức Ngự tiền đại thần kiêm Đô thống. Vua ban hôn cho con trai của Thân là Phong Thân Ân Đức với Hòa Hiếu công chúa, phong làm ngạch phò (2), định năm cử hành hôn lễ. [Thân] lại thụ chức Lĩnh thị vệ nội đại thần, sung làm Chính tổng tài Tứ khố toàn thư quán, kiêm Lí Phiên viện thượng thư sự, sự tin sủng có thể nói là đứng đầu triều vậy.

Năm thứ bốn mươi sáu, người Phiên ở Cam Túc là Tát Lạp Nhĩ mới khôi phục lại, tụ tập bốn mươi ba bộ lạc làm phản, uy hiếp Lan Châu. Ngạch phò Lạp Vượng Đa Nhĩ Tế, Lĩnh thị vệ nội đại thần Hải Lan Sát cùng Hộ quân [thống lĩnh] Ngạch Sâm Đặc suất binh thảo phạt. [Vua] mệnh Hòa Thân làm Khâm sai đại thần, cùng với Đại học sĩ A Quế tới để giám sát quân đội. A Quế có bệnh, vội giục Hòa Thân cứ theo lịch trình mà đến trước. [Thân] đã tới, liền cùng Hải Lan Sát trù tính việc đánh thắng giặc, đốc thúc các tướng chia quân làm bốn lộ, Hải Lan Sát vây giặc vào chỗ núi hiểm, tiêu diệt được chúng. Giặc đào hào sâu mấy trượng, lại chia cắt các đường nhỏ, [quân ta] không qua được. Tổng binh Đồ Khâm Bảo chết trận. Mấy ngày sau, A Quế tới, Hòa Thân đổ tội cho các tướng không nghe sự điều khiển của mình. A Quế nói: Trị tội chúng! Ngày hôm sau,  [Thân] cùng [A Quế] bố trí lại chiến sự, theo chỉ huy của A Quế, [việc quân] đều hợp theo lệnh. [A Quế] mới nói rằng: Các tướng bất đồng ý kiến tất sinh lòng khinh mạn, như thế đáng tội gì? Hòa Thân giận lắm. Vua giấu việc điều tra chuyện ấy, xuống chiếu trách Hòa Thân giấu việc Đồ Khâm Bảo chết mà không báo lên vua, tới quân doanh quá chậm trễ, lại hặc Hải Lan Sát, Ngạch Sâm Đặc trước lúc lâm trận để xảy ra thị phi nghiêng ngả trong quân. Lại bảo rằng từ lúc A Quế tới quân doanh, bố trí xử lý công việc có thứ tự ngay từ đầu, một người cũng đủ trừng trị được giặc loạn, Hòa Thân trong việc quân không thống nhất, cùng với Hải Lan Sát chậm trễ trong việc hợp tác với A Quế, nay dời quyền cai quản, mệnh Hòa Thân nhanh chóng hồi kinh.  Hòa Thân vì việc ấy mà để bụng A Quế, tới lúc chết mà hai bên vẫn còn hiềm khích. Chẳng bao lâu [Thân] lại được làm Thượng thư bộ Binh, kiêm quản lý ba kho ở bộ Hộ.

 

Năm thứ bốn mươi sáu, Ngự sử Tiền Phong hặc Tuần phủ Sơn Đông là Quốc Thái, Bố chính sứ là Ư Dịch Giản tham túng để mưu lợi riêng. [Vua] mệnh Hòa Thân cùng với Đô ngự sử Lưu Dung lo việc điều tra thẩm vấn, lại cử [Tiền] Phong đi theo. Hòa Thân ngầm bênh vực Quốc Thái, tới khi đến nơi kiểm kê kho tàng, [Thân] lệnh rút ra mười lạng bạc bù vào chỗ bị thiếu, niêm phong lại rồi lập tức gửi về chỗ kiểm kê. Phong xin cho niêm phong kho tàng, sáng hôm sau, khi mở kho để xem xét tường tận số bạc, gặp lúc [Quốc Thái] đang mua bạc sung vào kho hòng thoát tội, tiến hành thẩm vấn, Quốc Thái đều khai nhận tất cả tội trạng. Về hội triều, [Thân] được gia hàm Trung ngoại đại thần, Thái tử thái bảo, sung chức Kinh diên giảng quan. Năm thứ bốn mươi tám, được thưởng song nhãn hoa linh,  sung chức Chính tổng tài Quốc sử quán, Văn Uyên các đề cử các sự, Tổng tài Thanh tự kinh quán. Giặc phỉ mới nổi lại ở Thạch Phong Bảo tỉnh Cam Túc được dẹp yên, [vua] lấy việc [Thân] thừa chỉ mà luận công, cho được thế tập chức Khinh xa đô úy cùng với tất cả các chức trước, lại thụ Nhất đẳng nam tước. Sau đó, [Thân] được điều về làm Thượng thư bộ Lại, Hiệp biện đại học sĩ, quản lý bộ Hộ như cũ.

 

Năm thứ năm mươi mốt, Ngự sử Tào Tích Bảo hặc gia nô của Hòa Thân là Lưu Toàn tội xa xỉ lạm dụng,  xây dựng nhà cửa vượt quá quy định cho phép. Vua xét việc ấy muốn hặc Hòa Thân, nhưng không dám nói rõ, cố ý lấy chuyện gia nhân ra làm lý do. [Vua] mệnh cho các vương và đại thần họp cùng với Đô sát viện truyền Tích Bảo đến hỏi, sai trình bày thẳng thắn những việc xấu của Hòa Thân, rốt cuộc [Tích Bảo] cũng không thể chỉ ra đích xác được. Hòa Thân lại sai Lưu Toàn phá căn nhà đã xây cất to lớn kia trước, khiến cho việc tra xét không minh bạch, Tích Bảo vì thế mà phải chịu khiển trách. Qua một tháng, Hòa Thân lại được thụ Văn Hoa điện đại học sĩ. Vua xuống chiếu nói về việc lấy Thân làm Giám đốc ở cửa Sùng Văn đã được tám năm, nay Thân là Đại học sĩ, không nên kiêm quản việc thuế má, kịp tới lúc gặp chuyện Tích Bảo đàn hặc gia nhân, lẽ nào lại không có nguyên do,  bèn bãi chức Giám đốc của Thân. Quan viên dưới quyền có kẻ chịu ơn [Thân], Thân xin cất làm Tri phủ Quảng Tín, vua thấy y còn ít tuổi, không thể đảm nhiệm chức ấy, trách Hòa Thân bao che tùy tiện. Lại nói Tổng đốc Lưỡng Quảng là Phú Lặc Hồn dung túng cho gia nhân tham lam cùng cực, Hòa Thân xin triệu hồi Phú Lặc Hồn [về kinh], giam vào đại ngục. Kinh sư được mùa, Hòa Thân xin ban hành lệnh cấm đầu cơ tích trữ, người nào quá năm mươi thạch phải giao cho các xưởng [của triều đình] để bán bớt, dân buôn bán vì thế mà túng thiếu. Đình thần nhiều người hùa theo ý của Thân, còn vua rất chỉ trích việc ấy. Năm thứ năm mươi ba, loạn Lâm Sảng Văn ở Đài Loan được bình xong, [vua] tấn phong [Thân] tước Tam đẳng Trung Tương bá, ban cho dây cương màu tím. Năm thứ năm mươi lăm, lại ban cho đai vàng và bốn bộ khai hiệt bào (3). Vua mừng thọ tám mươi tuổi, mệnh Hòa Thân cùng với thượng thư Kim Giản chuyên trách lo việc khánh điển (4). Nội các học sĩ Doãn Tráng Đồ dâng sớ nói về việc kho tàng các tỉnh trống rỗng, vua vì việc ấy mà động khí sắc, Hòa Thân xin lập tức cử Doãn Tráng Đồ đi khám xét kho tàng các tỉnh, lấy Thị lang Khánh Thành đi cùng giám sát. Khánh Thành đến tỉnh nào cũng đều cản trở [Tráng Đồ], đem nhiều khoản tiền bù vào cho đủ, rồi mới trình bày [với Tráng Đồ] việc thuế má, kết quả cuối cùng vẫn không có chuyện thiếu hụt, Tráng Đồ vì thế mà phải chịu tội vọng ngôn rồi bị cách chức.

 

Năm thứ năm mươi sáu, khắc kinh điển lên bia đá ở nhà Tích ung (5), [vua] mệnh [Thân] làm Chính tổng tài. Khi ấy chức Tổng tài có tám người, Thượng thư Bành Nguyên Thụy một mình đảm nhiệm việc giám sát, [vua] xuống sắc dặn việc biên khảo những phần quan trọng của kinh văn, việc thành, Nguyên Thụy được thưởng lớn. Hòa Thân ghét việc ấy, mới chê việc biên khảo của Nguyên Thụy là không tốt, lại nói rằng không có thiên tử thì kinh văn chẳng thể hoàn thành. Vua nói: Chữ nghĩa [trong kinh văn] đều đã được ngự định, há có thể xem là chữ của ngươi hay sao? Hòa Thân bèn sai người biên soạn và khảo đính lại các phần quan trọng của kinh văn, cải chính rồi lấy đó làm công, mạo nhận là của mình làm ra dâng lên vua, rồi lại cho rằng những phần này không phù hợp với các sĩ tử, xin cho tiêu hủy, vua không cho. Quan viên sở tại dâng sớ xin ban hành, vì bị Hòa Thân ngăn trở mà phải ngừng, [Thân] lại sai người của mình khắc lại chữ lên bia, phàm chữ nào đã có từ trước tất thảy đều thay đổi.

 

Năm thứ năm mươi bảy, bình xong loạn Khuếch Nhĩ Khách, luận thứ bậc khen thưởng, [Thân] được kiêm chức Hàn Lâm viện chưởng viện học sĩ. Năm thứ sáu mươi, sung làm Điện thí độc quyển quan và Giáo tập thứ cát sĩ. Bấy giờ triều đình đang xem xét việc đình câu (6), kẻ tử tù xin vua xuống chỉ phán quyết. Hòa Thân quản lý Lí Phiên viện, việc tố tụng ở Mông Cổ quan trọng lại bỏ bê không tấu trình lên vua, [vì thế mà Thân] bị giáng chức, nhưng vẫn cho lưu tại nhiệm sở. Lại giao cho việc ra đề bài của phần thi sách vấn trong kỳ Điện thí võ cử, vua mệnh [Thân] kiểm tra trong thực lục (7). Trước thực lục không chép việc thi sách vấn, Hòa Thân chủ trì việc đối chứng không theo đúng sự thực, [vua] xuống chiếu trách Hòa Thân dùng chữ nghĩa để che đậy sai lầm của mình, cách chức nhưng vẫn cho lưu tại nhiệm sở. Trước giờ việc tuyển chọn quan viên ở kinh sư luôn thông qua hình thức nghị tự (8), riêng đến năm này thì bãi bỏ lệ ấy. Gia Khánh năm thứ hai, [Thân] được điều về quản bộ Hình. Chẳng bao lâu sau [Thân] có công báo cáo tình hình tiêu thụ quân nhu, vì thế nên lại được kiêm quản bộ Hộ. [Gia Khánh] năm thứ ba, bắt được giặc phỉ Bạch Liên giáo là Vương Tam Hòe, [vua] lấy công phò trợ mà tấn [Thân] lên hàng công tước.

 

Hòa Thân cầm giữ quyền chính đã lâu, thường hay dò la tâm ý của Cao Tông (9), nhân đó mới ngầm làm cái việc lộng quyền, người nào không phục, [Thân] chờ dịp gièm pha, khiến cho Cao Tông nổi giận để hãm hại người đó. Kẻ nào chịu đút lót tiền bạc [cho Thân] thì được lo liệu chu toàn, hoặc được cố ý sắp xếp cho việc bị trì hoãn, để đợi lúc Cao Tông nguôi giận. Đại thần trong triều đều nhờ Thân làm chủ việc tiến dẫn, kể cả việc bãi miễn chức tước cũng đều phải thuận theo ý muốn của Thân. Quản lý muối và tu sửa đê điều xưa nay vốn là các lĩnh vực tập trung nguồn lợi, vì Thân cho tiến hành việc trưng thu vô độ mà tình hình càng ngày càng trở nên tệ hại. Xuyên, Sở có loạn phỉ, nhân đó kích động sinh biến, tướng soái đi dẹp phần nhiều dựa vào Hòa Thân, xa xỉ lãng phí quân lương, lâu ngày không lập nên công trạng gì. A Quế do ở địa vị huân thần mà làm thủ phụ, xưa nay vốn bất hòa [với Thân] nên bị y chèn ép. Khi vào trực tiếp xử lý công vụ, [A Quế] không bao giờ ở cùng chỗ với Thân. A Quế chết rồi, [Thân] càng chẳng kiêng dè gì nữa, các chỉ dụ gửi cho Quân cơ xứ đều do một mình y đọc và ký quan hàm vào. Đại thần cùng ngôi thứ [với Thân] là Kê Hoàng tuổi đã già mà vẫn bị gièm pha, chịu cảnh vua lớn tiếng trách mắng. Vương Kiệt chủ trì chính sự, đối với Thân thường không chịu phục, rốt cục [Thân] cũng không thể chế ngự được. Chu Khuê trước là thầy dạy của Nhân Tông (10), đang nhậm chức Tổng đốc Lưỡng Quảng, Cao Tông muốn triệu về làm Đại học sĩ, Hòa Thân đố kỵ việc tiến dụng ấy, mới bí mật dùng thơ mừng [Chu Khuê] của Nhân Tông nói với Cao Tông, dụng ý rằng [Nhân Tông] vì có lòng riêng nên mới gia ân [cho Khuê được về triều]. Cao Tông giận lắm, không nghe lời Đổng Cáo can gián, vì việc ấy mà giáng Khuê xuống làm Tuần phủ An Huy, đuổi ra ngoài không được triệu về kinh nữa. Ngôn quan duy chỉ có Tiền Phong từng đàn hặc thành công bè đảng Hòa Thân là Quốc Thái, sau vì luận việc bất đồng giữa Hòa Thân và A Quế mà bị bắt nhập cung phụng mệnh giám sát ở trực lư (11), lao khổ mà ốm chết. Bọn Tào Tích Bảo, Doãn Tráng Đồ cũng đều bị bài xích, không còn dám thẳng thắn vạch tội y nữa. Cao Tông tuy có biết những việc ấy mà ức chế [những việc làm của Thân], nhưng Thân giỏi che đậy, không hề sửa chữa, lại càng phóng túng buông thả. Nhân Tông từ lúc còn ở tiềm để (12) đã biết rõ sự gian trá của y, kịp đến lúc lên ngôi, hiềm nỗi Cao Tông tuổi già mà không muốn phát giác, vẫn ưu đãi khoan dung cho y như cũ.

 

Tháng giêng, [Gia Khánh] năm thứ tư, Cao Tông băng, cấp sự trung Vương Niệm Tôn mở đầu đàn hặc Hòa Thân tội bất tuân luật pháp, Nhân Tông lập tức nhân ngày tuyên đọc di chiếu, truyền chỉ bắt giữ, mệnh cho các vương, đại thần hội thẩm, đều đúng là thật. Hạ chiếu tuyên bố tội trạng Hòa Thân, đại lược rằng: Trẫm vào ngày mùng ba tháng chín năm Càn Long thứ sáu mươi, nhờ ơn đức của hoàng khảo mà được sách phong làm hoàng thái tử, còn chưa tuyên bố, Hòa Thân sớm ngày mùng hai đã đến trước mặt trẫm dò xét tâm ý, nói rằng ủng hộ việc trẫm tự thân chính, đó là cái tội lớn thứ nhất; Dám cưỡi ngựa tiến thẳng vào cổng trái của Viên Minh viên, vượt qua cả điện Chính Đại Quang Minh, tới tận Thọ Sơn Khẩu, đó là cái tội lớn thứ hai; Ngồi kiệu đi vào Đại nội, thẳng hướng cửa Thần Vũ, đó là cái tội lớn thứ ba; Lấy cung nữ xuất cung làm vợ thứ, đó là cái tội lớn thứ tư; Mặc sức ngăn chặn, làm chậm trễ tin báo từ các lộ quân, có lòng dối trá, giấu giếm, đó là cái tội lớn thứ năm; Hoàng khảo gặp lúc thân thể không được khỏe, Hòa Thân tuyệt không có chút lo lắng buồn rầu, lại còn cười nói như thường, đó là cái tội lớn thứ sáu; Hoàng khảo gắng gượng phê đáp tấu chương, chữ viết có lúc chưa được tròn vành rõ nét, Hòa Thân thường bảo [kẻ dưới] không bằng xé chỗ đó đi mà chép lại thành một bản khác, đó là cái tội lớn thứ bảy; [Hòa Thân] kiêm quản việc bộ Hộ báo cáo tình hình chi tiêu, toàn bộ công việc của bộ Hộ chỉ do một người nắm giữ, bây giờ sửa đổi thành lệ, không cho phép quan viên trong bộ được tham nghị, đó là cái tội lớn thứ tám; Năm trước Khuê Thư tấu lên giặc Phiên ở hai sảnh (13) Tuần Hóa, Quý Đức mặc sức cướp bóc Thanh Hải, Hòa Thân lại bác bỏ từ chối nhận tấu báo, che giấu để không bị trị tội, đó là tội lớn thứ chín; Sau khi Hoàng khảo băng hà, trẫm dụ các vương công Mông Cổ, những người chưa từng mắc bệnh đậu mùa không cần phải tới kinh sư, Hòa Thân tự tiện ra lệnh ấy, những người chưa từng mắc đậu mùa đều không đến, đó là cái tội lớn thứ mười; Đại học sĩ Tô Lăng A già yếu, tai nghe không được, [Hòa Thân] nhân đó cùng với đám người nhà của em mình là Hòa Lâm giấu việc ấy không tấu lên; Sai bọn Thị lang Ngô Tỉnh Lan, Lý Hoàng, Thái bộc tự khanh Lý Quang Vân dạy học tại nhà, giữ cho chúng cái địa vị cửu khanh, hòng kiêm cả quản lý việc học hành trong nước, đó là cái tội lớn thứ mười một; Tự tiện bãi chức người ghi danh trong Quân cơ xứ, đó là cái tội lớn thứ mười hai; Chiếm đoạt gia sản người khác, nhà cửa phòng ốc tiếm dùng gỗ nam mộc, xa xỉ vượt quá chế độ, phỏng chiếu theo dạng thức của cung Ninh Thọ, chỗ vườn tược sửa sang theo bồng đảo, dao đài trong Viên Minh viên, không chút khác biệt, đó là cái tội lớn thứ mười ba; Mồ mả ở Kế Châu xây hưởng điện, đào đường hầm, dân ở đấy gọi là Hòa lăng, đó là cái tội lớn thứ mười bốn; Tàng trữ trân châu trong nhà, vòng tay hơn hai trăm cái, gấp mấy lần trong Đại nội, lại cất đại châu cỡ lớn chỉ dùng trên đỉnh mũ ngự dụng, đó là cái tội lớn thứ mười lăm; Đá quý đính trên mũ không còn sử dụng, lên tới vài chục viên, đá quý cỡ lớn nguyên khối nhiều không đếm xuể, hơn cả trong Đại nội, đó là cái tội lớn thứ mười sáu; Lại cất trữ tiền bạc, y phục hơn nghìn vạn, đó là cái tội lớn thứ mười bảy; Giữa các bức tường giấu hơn hai vạn sáu nghìn lượng vàng, trong kho riêng chứa hơn sáu nghìn lượng vàng, dưới hầm lại chứa hơn ba trăm vạn lượng bạc nữa, đó là cái tội lớn thứ mười tám; Tiệm cầm đồ, tiệm đổi tiền ở Thông Châu, Kế Châu hơn mười vạn cái, tranh lợi với dân, đó là cái tội lớn thứ mười chín. Gia nô là Lưu Toàn gia sản cũng tới hơn hai mươi vạn, lại chứa vòng tay gắn trân châu cỡ lớn, đó là cái tội lớn thứ hai mươi. Các đại thần trong ngoài đều dâng sớ nói Hòa Thân luận theo luật đáng tội đại nghịch, vua vì việc Hòa Thân nhậm chức thủ phụ lâu năm, không nỡ lệnh đem bày ra công khai, ban cho tự tận.

 

Nhiều người đàn hặc Hòa Thân, ví [Thân] như hàng Tháo, Mãng (14). Trực Lệ Bố chính sứ Ngô Hùng Quang trước thường trực ở Quân cơ xứ, vua nhân đó cho gọi vào cung yết kiến, hỏi rằng: Người ta nói Hòa Thân nuôi lòng khác, có phải thế không? Hùng Quang trả lời: Phàm những kẻ ý đồ không theo phép tắc, tất thu phục nhân tâm, nay Hòa Thân, Mãn Hán được mấy người là không phụ theo y, chính là bên trong ý đồ bất tuân, sao có thể dung túng? Vua lại hỏi: Vậy phải xử lý việc này như thế nào để không quá nghiêm trọng? Hùng Quang trả lời rằng: Không sớm trị tội, những kẻ không biết sẽ lại mong hối lộ để tiến thân, là mầm mống gây ra việc khác. Bắt đầu nhanh, là vì nghĩa mà ra sức; Kết thúc nhanh, là tỏ cái lòng chí nhân vậy. Vua đã giết Hòa Thân, liền tuyên dụ đình thần: Phàm những kẻ được Hòa Thân tiến cử bằng việc chạy vạy hối lộ qua cửa của y, đều không truy cứu đến cùng, xá miễn để chúng nhận ra lỗi lầm mà sửa đổi bản thân. Có lời nói rằng trong gia sản Hòa Thân vẫn còn cất giấu chưa phát giác hết, lại bỏ qua không hỏi đến. Lúc Hòa Thân còn đương nhiệm, việc tấu lệnh đều làm một bản phụ chuyển cho Quân cơ xứ; Các nơi tiến cống phương vật, tất phải trình trước cửa quan, [Thân] đều tự chuẩn bác, gặp lúc đồ tiến cống không đủ bèn đem nạp hết vào nhà riêng. Lính tuần thuộc quyền Bộ quân thống lĩnh phục dịch ở nhà Thân đặt hơn nghìn người, lại lệnh cho quan viên già yếu tầm thường ở các bộ cho làm Ngự sử (15) Đến nay bỏ hết những tệ ấy. Hai bộ Lại, Hộ bị Hòa Thân đảo lộn phép tắc đã thành lệ, các đại thần tấu thỉnh theo thứ tự mà sửa lại cho đúng. Trước kia những năm Càn Long mệnh Hòa Thân đổi nhập [kỳ tịch] vào Chính Hoàng kỳ, đến nay chịu tội, cho thuộc về Chính Hồng kỳ như cũ.

 

Con trai là Phong Thân Ân Đức, lấy Cố Luân Hòa Hiếu công chúa, lâu dần lên chức Đô thống kiêm Hộ quân thống lĩnh, Nội vụ phủ đại thần. Hòa Thân chịu tội, đình thần mới bàn đoạt hết chức tước [của Ân Đức]. Nay vì việc cũ của công chúa, hạ chiếu cho lưu tập tước bá. Lại tịch biên gia sản, thu được chính châu, triều châu các loại, quan viên đại thần ở dưới không được phép dùng, bèn xét hỏi gia nhân, chúng mới nói Hòa Thân khi còn sống thường đeo những chuỗi hạt này, nhìn gương mà tự nói một mình. Nhân Tông cả giận, cách tước bá của Phong Thân Ân Đức, nhưng vẫn cho được tập chức cũ là Tam đẳng Khinh xa đô úy. Gia Khánh năm thứ bảy, Xuyên, Sở, Thiểm bình xong giặc phỉ, [vua] ra ơn cấp [cho Ân Đức] phẩm cấp Dân công, thụ Tán trật đại thần. Trưởng sử ở phủ công chúa là Khuê Phúc hặc việc Phong Thân Ân Đức diễn tập võ nghệ, ý đồ bất tuân, muốn hại công chúa. Đình thần hội thẩm, mới rõ cáo trạng là vu khống. [Vua] hạ chiếu Phong Thân Ân Đức cùng công chúa xưa nay ăn ở hòa thuận, thường làm thơ phú, dẫu có lo sợ bị gièm pha, nhưng không oán vọng mà làm trái; duy có tội để cho thị thiếp sinh con gái trong lúc quốc phục (16), nay cách bỏ tước công, bãi chức cầm cố tại nhà. Năm thứ mười một, [Ân Đức] thụ Đầu đẳng thị vệ, rồi Phó đô thống, được ban hàm bá tước. Năm thứ mười lăm, [Ân Đức] bệnh, xin giải nhiệm, [vua] ban cho hàm công tước. Không lâu sâu thì chết, [vua] lấy con của Hòa Lâm là Phong Thân Y Miên tập chức Khinh xa đô úy.

 

Sau khi Hòa Thân chịu tội được mười lăm năm, Quốc sử quán chép thành liệt truyện dâng lên. Nhân Tông cho rằng sự tích sơ lược, Cao Tông càng thêm khiển trách, để thiếu sót không ghi chép thì bây giờ sẽ không có gì đáng tin mà truyền lại cho mai sau, bèn cách chức Biên tu là Tục Dịch, đặc biệt hạ chiếu khuyên răn vậy.

 

 

 

Chú thích:

 

(1) Sinh viên (生員), tục gọi là tú tài, chỉ kẻ sĩ thông qua thi cử mà nhập học tại các cơ sở giáo dục thời xưa. Kể như có Thái học (hay Quốc tử giám), bao gồm Thái học sinh (được vào nhờ xuất thân) và cống sinh (có thành tích xuất chúng) cũng như tường sinh ở các phủ, huyện, châu đều gọi chung là sinh viên cả.

 

(2) Phò mã đời Thanh gọi là ngạch phò.

 

(3) (khai hiệt bào): Chưa rõ nghĩa, có lẽ là một loại áo hoàng đế ban thưởng cho đại thần có công, giống như mãng bào (áo bào thêu hình con mãng, một giống rồng có bốn móng).

 

(4) Điển chế, quy định tổ chức ngày mừng của hoàng đế và hoàng thất. Ở đây là dịp mừng thọ tám mươi của Càn Long đế.

 

(5) 辟雍 (tích ung), còn gọi là 璧雍 (bích ung), là cơ sở giáo dục cấp cao nhất thời Chu, có dạng một kiến trúc hình tròn nổi lên, xung quanh có nước chảy, làm nơi cho con em quý tộc học tập. Sau này được dùng để chỉ nhà học bên trong Quốc tử giám, hoặc phiếm chỉ Quốc tử giám.

 

(6) 停勾 (đình câu): Chỉ việc hoàng đế đình chỉ thi hành án để thẩm tra lại đối với các vụ án có tình tiết phức tạp trong lúc phạm nhân bị tuyên tử hình.

 

(7) 實錄 (thực lục): Sách chép lại những hành trạng, lời nói của nhà vua.

 

(8) 議敘 (nghị tự): Phép nhà Thanh khi khảo sát, kiểm tra tình hình quan viên, lưu ý những thành tích dị biệt, giao cho bộ Lại xem xét và tấu lên trên để khen thưởng cho cá nhân đó.

 

(9), (10) Cao Tông: chỉ Càn Long đế; Nhân Tông: chỉ Gia Khánh đế.

 

(11) 直廬 (trực lư): Chỗ làm việc thường xuyên của quan lại.

 

(12) Phủ đệ của nhà vua lúc chưa lên ngôi.

 

(13) Nhà Minh, nhà Thanh tại các khu vực mới khai phá hoặc có vị trí đặc thù, thiết lập một đơn vị hành chính gọi là sảnh () nằm dưới đạo và tỉnh, phân thành Trực lệ sảnh (直隶廳), Tản sảnh (散廳) và Phân phòng sảnh (分防廳). Về mặt cơ bản, Trực lệ sảnh ngang với cấp phủ; Tản sảnh và Phân phòng sảnh ngang với cấp huyện.

 

(14) Tháo: Tào Tháo; Mãng: Vương Mãng. Vương Mãng cướp ngôi nhà Tây Hán, Tào Tháo dự định cướp ngôi nhà Đông Hán nhưng chưa kịp thì chết, con là Tào Phi lên thay mới thực hiện được.

 

(15) Chức Ngự sử là chức quan lo việc can gián vua, Hòa Thân đưa những người như vậy làm Ngự sử để không thể can gián, như vậy sẽ hạn chế phát giác những việc làm của ông ta.

 

(16) Chỉ thời gian để tang Càn Long đế.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến