Thanh sử cảo 清史稿, Liệt truyện quyển 313: Thuộc quốc 1 - Triều Tiên

Triều Tiên, cũng gọi là Hàn Quốc vậy. Buổi đầu nhà Thanh, vua Triều Tiên có tên là Lý Hồn, thờ nhà Minh hết sức kính cẩn. [Thanh] Thái Tổ Thiên Mệnh năm thứ tư, [Lý] Hồn sai tướng là Khương Hoằng Lập dẫn quân giúp nhà Minh tới xâm lấn, đóng quân ở vùng Phú Sát (1), giao chiến với quân ta, đại bại, Khương Hoằng Lập và năm nghìn quân còn lại xin hàng. Vua giữ Hoằng Lập, sai bộ tướng Trương Ứng Kinh cùng hơn mười người nữa trở về nước [Triều Tiên], gửi thư cho Hồn nói rằng: “Xưa nước ngươi gặp họa giặc Oa (2), nhà Minh dấy binh sang cứu, cho nên nước ngươi mới vì thế mới cho quân giúp lại nhà Minh, ở vào cái thế bất đắc dĩ chứ không có ý gây oán cùng ta. Nay bắt giữ tướng lại, [ta] vì việc cũ của nước ngươi mà tất thảy đều thả về. Còn cái việc chống lại hay quy thuận, ngươi nên cân nhắc mà chọn lấy một đường vậy.” Trước kia vào những năm Vạn Lịch nhà Minh, Phong Thần Tú Cát (3) của Nhật Bản phát động xâm lược Triều Tiên, chiếm hết tám đạo (4), nhà Minh phải mất bảy năm dùng binh. Đến khi Tú Cát chết, [Nhật Bản] bãi binh, Triều Tiên mới phục quốc, vì vậy trong thư mới nhắc đến việc ấy. Triều Tiên không gửi thư tạ tội. Lại vượt biên cảnh, chống cự với quân của ta đi đánh Ngõa Nhĩ Khách. Bối lặc Ô Lạp là Bố Chiếm Thái xâm lấn Triều Tiên, vua cùng với Bố Chiếm Thái vốn có liên minh, mới dụ Triều Tiên lui quân, Triều Tiên vẫn không đáp. Kịp đến lúc vua băng, lại không sai sứ sang phúng điếu hỏi thăm. Tổng binh Minh là Mao Văn Long tụ tập hàng vạn dân chúng miền Liêu (5) phòng thủ Bì đảo (6), dựa vào Triều Tiên làm thế ỷ giốc, nhiều lần xuất quân tập kích các thành trì, đồn trại ven biển.

Gặp lúc phản thần Triều Tiên là bọn Hàn Nhuận, Trịnh Mai tới quy hàng, xin được dẫn đường, chiến sự mới bùng nổ. Bấy giờ là năm Thiên Thông thứ nhất đời Thái Tông hoàng đế, Triều Tiên quốc vương là Lý Tông mới lên kế vị được ba năm. Tháng giêng, [vua] mệnh bối lặc A Mẫn dẫn quân chinh phạt Triều Tiên. Vượt sông Áp Lục, đánh bại quân của Mao Văn Long ở Thiết Sơn, Văn Long trốn về Bì đảo. [A Mẫn] bèn tiến đánh Nghĩa Châu, Định Châu tới Hán Sơn thành, bắt giết hàng vạn quân dân, lương thực bị đốt cũng tới hơn trăm vạn. Lại tiến quân đuổi [vua Triều Tiên] chạy dài, vượt sông Thanh Tuyền, đánh An Châu, tiến quân vào Bình Nhưỡng, quan dân Triều Tiên trong thành đều chạy trốn cả. Bèn vượt sông Đại Đồng, đến đất Trung Hòa. [Lý] Tông hết sức sợ hãi, sai sứ đến giảng hòa, A Mẫn trách mắng tội Tông. Tháng hai, quân tới Hoàng Châu, trong nước chấn động, nhân đó theo đường qua lại của sứ đi giảng hòa, bức tới vương kinh [Triều Tiên]. Tông thế cùng phải mang vợ con trốn sang đảo Giang Hoa, nói lại rằng: “Tệ ấp (7) không tránh được tội, chỉ xin chịu mệnh của thượng quốc”. Bèn cho giảng hòa. Đảo Giang Hoa nằm trong phần biển phía nam của Khai Châu (8), vì thế [A Mẫn] sai sứ đến đảo phủ dụ Tông, rồi đóng quân ở Bình Sơn chờ đợi. Tông sai em họ là Nguyên Xương quân Lý Giác tới hiến một trăm thớt ngựa, một trăm bộ da hổ báo, tơ lụa, vải gai bốn trăm tấm, vải thường năm nghìn đến một vạn tấm. Sai Lưu Hưng Tộ, Ba Khắc Thập Khố Nhĩ Triền tới đảo Giang Hoa lập minh ước. Tháng ba ngày Canh Ngọ, giết ngựa trắng, trâu đen, thệ cáo trời đất. Việc hòa nghị thành, hai nước kết thành anh em với nhau.

Ban đầu, về việc Triều Tiên xin giảng hòa, các bối lặc đều luận rằng với tình thế bị cả nhà Minh lẫn Mông Cổ hai đầu vây quanh, quân tất không thể ở ngoài quá lâu, hơn nữa tù binh bắt được quá nhiều, vì thế nên để cho giảng hòa. Nhưng A Mẫn thấy quốc đô Triều Tiên, thành quách cung điện tráng lệ, nên không bằng lòng dẫn quân quay về. Bối lặc Tế Nhĩ Cáp Lãng cùng với Nhạc Thác, Thạc Thác mật nghị, dự kiến sẽ lệnh A Mẫn đóng quân ở Bình Sơn, trước kết minh với Triều Tiên, việc thành mới báo cho A Mẫn. A Mẫn cho là bản thân không được dự vào minh ước, mới để cho quân lính mặc sức cướp phá. [Các bối lặc] bèn để Lý Giác và A Mẫn kết minh tại thành Bình Nhưỡng. Vua truyền dụ A Mẫn: “Chớ lại mảy may có ý đến việc nhũng nhiễu!” chia ba nghìn quân đồn trú ở Nghĩa Châu, từ nay phải chấn chỉnh đội ngũ, để cho Lý Giác quay về. Tháng chín, theo lời xin của Tông, rút quân khỏi Nghĩa Châu, cũng như cho chuộc lại tù binh, định bàn xuân thu hằng năm hai bên trao đổi tài vật, buôn bán thông thương với nhau.

Tháng hai năm [Thiên Thông] thứ hai, mở chợ ở Trung Giang (9). Năm ấy, Kinh lược nhà Minh là Viên Sùng Hoán giết Mao Văn Long ở Bì đảo, quân lính ở các đảo thành ra vô chủ. Năm thứ năm, ta mưu tính thừa lúc tình hình hỗn loạn mà đánh lấy các đảo, bèn tập trung binh thuyền hướng về Triều Tiên. Sứ ta đến Triều Tiên, ba ngày mới gặp. Tông xem thư có nói rằng: “Nước Minh đối với tôi giống như cha vậy. Nay giúp người khác mà đánh lại nước mình thờ như cha thì liệu có nên chăng? Thuyền [của thượng quốc] sợ rằng không thể giúp được”. Từ đấy dần dần bội lại minh ước. Năm thứ sáu, Ba Đô Lễ, Sát Cáp Lạt đi sứ sang Triều Tiên, ban bố lệ cống. Lại nói Tông tâu rằng lệ cống chỉ đủ cung cấp được một phần mười, vàng bạc, sừng tê không phải thứ có sẵn trong nước, nên không đồng ý theo. Tháng giêng năm thứ bảy, gửi thư cho Tông, trách cứ việc giảm ngạch đồ cống hằng năm, lại ngầm tích trữ nhân sâm, che giấu cho bọn người có tội trốn tránh, muốn bãi việc sai sứ đến chầu, độc quyền việc buôn bán. Tháng hai, sai Lang Cách đến thành Hội Ninh thẩm tra việc buôn bán, Tông cự tuyệt. Mùa hạ năm ấy, bộ tướng của Mao Văn Long là Khổng Hữu Đức, Cảnh Trọng Minh phản nhà Minh, đem thủy quân hai vạn người vượt biển đến xin hàng, vua sai sứ đến Triều Tiên đòi tập trung lương thực, lại đòi giao nộp bọn người Ngõa Nhĩ Khách trốn tránh và bọn người của Bố Chiếm Thái, Tông thường dâng thư phân trần biện bác, lại gia cố, xây đắp mười hai thành Bạch Mã (10) ở ba đạo Kinh Kỳ, Hoàng Hải, Bình An. Vua vạch tội Tông bỏ lời ước thông thương ở Nghĩa Châu. Mùa xuân năm thứ tám, vua muốn cùng Tông với nhà Minh nghị hòa, Tông dâng thư nói rằng ở Bì đảo có tướng trấn giữ, việc nghị hòa cuối cùng vẫn không thành. Mùa đông, Tông sai La Đức Hiến tới, từ chối việc nộp bọn người trốn tránh lẫn việc thông thương, lời lẽ rất dữ dội, hơn nữa lại còn muốn buộc tội sứ thần Mãn Châu đang làm đại thần ở Triều Tiên. Vua cả giận, không nhận lễ vật, giữ Đức Hiến lại không cho về, nhưng vẫn viết thư phủ dụ Tông.

Năm thứ chín, bình định xong Lâm Đan hãn của Sát Cáp Nhĩ bộ, thu được truyền quốc tỷ của nhà Nguyên, tám Hòa Thạc bối lặc cùng bốn mươi chín bối lặc ngoại phiên Mông Cổ dâng biểu xin định tôn hiệu. Vua nói rằng: “Triều Tiên là nước anh em với ta, nên cùng với họ bàn bạc mới phải”. Vì vậy chư bối lặc trong ngoài đều quyết định viết thư, sai sứ gửi cho Triều Tiên, hẹn cùng nhau làm việc suy tôn. Chư thần Triều Tiên tranh luận, cho rằng không thể được, lại còn đem binh giam lỏng sứ thần. Sứ thần Anh Nga Nhĩ Đại cũng dẫn đoàn cướp ngựa phá cửa chạy ra, Tông sai người đuổi theo đưa thư trả lời, có thư bên trong dặn biên thần phải giới nghiêm, lại có câu viết “năm Đinh Mão việc giảng hòa thật là sai lầm, đến nay quyết ý đoạn tuyệt”, Anh Nga Nhĩ Đại thu lấy những bức thư này đem dâng lên. Tháng tư năm thứ mười, cải quốc hiệu thành Thanh. Sứ Triều Tiên là Lý Khuếch tới triều hạ nhưng không lạy. Gửi thư lệnh cho đưa người sang làm tin, lại không hồi đáp.

Tháng mười một [năm Sùng Đức thứ nhất] (11), vua cho rằng Triều Tiên phá vỡ minh ước, mới thống lĩnh đại quân thân chinh. Trước là sai sứ thần Triều Tiên là Lý Khuếch quay về nước, đưa thư cho [Triều Tiên] quốc vương, lại truyền hịch vỗ yên quan dân Triều Tiên. Tháng mười hai, ngày mùng một Tân Mùi, mệnh Trịnh thân vương Tế Nhĩ Cáp Lãng ở lại trấn thủ [kinh sư], Vũ Anh quận vương A Tế Cách, Đa La Nhiêu Dư bối lặc A Ba Thái, chia nhau đóng quân giữ cửa biển sông Liêu Hà, để chặn đường hải quân nhà Minh chi viện tới tập kích. Duệ thân vương Đa Nhĩ Cổn, bối lặc Hào Cách chia nhau thống lĩnh cánh trái các quân Mãn Châu, Mông Cổ, theo ngả Khoan Điện vào cửa Trường Sơn, sai Thừa chính bộ Hộ là Mã Phúc Tháp dẫn ba trăm quân ngầm tới bao vây vương kinh Triều Tiên, Dự thân vương dẫn hộ quân ba nghìn người đi theo sau. [Lại mệnh] bối lặc Nhạc Thác dẫn ba nghìn quân hỗ trợ. Vua thân dẫn Lễ thân vương Đại Thiện cùng các quân xuất phát. Ngày Canh Thìn, vượt Trấn Giang. Ngày Nhâm Ngọ, đến thành Quách Sơn, hàng phục Định Châu, An Châu. Ngày Đinh Dậu, tới sông Lâm Tân. Sông cách quốc đô [Triều Tiên] hơn trăm dặm về phía bắc, cùng với sông Hán ở phía nam bọc lấy thành trì. Bấy giờ băng trên mặt sông còn chưa đóng lại hết, xa giá tới, băng chợt đóng hết, sáu quân (12) đều qua sông được hết cả. Mã Phúc Tháp từ ngày Giáp Thân tháng ấy đã ngầm tập kích vương kinh, đánh bại cả nghìn tinh binh Triều Tiên, Tông thảng thốt, sợ hãi, vội sai sứ ra ngoài thành nghênh đón, úy lạo khoản đãi quân lính, lại dời vợ con sang đảo Giang Hoa, tự dẫn thân binh vượt sông đến Nam Hán sơn thành cố thủ. Đại quân nhập đô thành, Đa Đạc, Nhạc Thác cũng dẹp xong Bình Nhưỡng, đến đô thành, hội quân với nhau cùng vượt sông tới Nam Hán sơn thành, liên tiếp đánh bại các đạo viện quân của Triều Tiên. Vua tới, chia quân đi tìm kiếm, tiễu trừ kháng cự trong đô thành, lại thân dẫn đại quân vượt sông, tăng quân tới Nam Hán. Tháng giêng năm [Sùng Đức] thứ hai, ngày Nhâm Dần, đánh bại viện binh từ đạo Toàn La, sai sứ đem sắc đến dụ các đại thần Triều Tiên. Ngày Giáp Thìn, đại quân tới bờ bắc sông Hán, cách vương kinh hai mươi dặm. Ngày Đinh Mùi, đánh bại quân hai đạo Toàn La, Trung Thanh. Quân cánh trái của Đa Nhĩ Cổn, Hào Cách qua cửa Trường Sơn, công chiếm thành Xương Châu, đánh bại năm trăm quân ở An Châu, Hoàng Châu, một nghìn quân ở thành Ninh Biên, diệt hết một vạn năm nghìn viện binh, đến đây thì tới hội quân. Bối lặc Đỗ Độ hộ tống đại pháo tới sông Lâm Tân, băng vừa tan lại đóng lại như trước.

Thành ngày càng bị vây gấp. Ngày Quý Sửu, Tông xin giảng hòa, [vua] không cho. Ngày Kỷ Mùi, lại xin giảng hòa. Đến ngày Canh Thân, [Tông] mới xin hàng. [Vua] xuống sắc, lệnh tự ra khỏi thành đến chầu, lại bắt chịu trói và dâng biểu xướng tên các đại thần bàn việc phản bội minh ước. Cùng ngày, Tông dâng tấu thư xưng thần, xin miễn được ra khỏi thành. Vua mệnh Đa Nhĩ Cổn dùng tàu lớn kéo thuyền nhỏ từ trên cạn xuống biển, lại đặt ngầm ba mươi cỗ pháo bên trong tàu ấy. Thuyền nhỏ cập bến, vào trong thành trên đảo, bắt Vương phi, vương tử, tông thất bảy mươi hai người, quần thần cùng gia quyến một trăm sáu mươi sáu người đến ở vào các nhà riêng biệt. Ngày Giáp Tý, dụ Tông mau chóng tuân theo chiếu trước đã ban, xuất thành tới gặp. Tông bèn dâng biểu xin bãi chức các đại thần đề xướng việc phản bội minh ước, bao gồm Hoằng Văn quán Hiệu lý Doãn Tập, Tu soạn Ngô Đạt cùng Đài gián quan (13) là Hồng Dực Hán, giải đến trước hàng quân. Vua xuống sắc lệnh phải bỏ dùng niên hiệu nhà Minh, giao nộp các chiếu cáo, sách ấn mà nhà Minh ban cho, cử hai con tin sang chầu, phụng theo lịch pháp của nước Đại Thanh; gặp tiết Vạn thọ và lễ Thiên thu (14), của trung cung (15) và hoàng tử, các tiết Đông chí, Nguyên đán cùng các lễ mừng, lễ viếng khác, đều phải làm lễ cống hiến; phải sai đại thần, nội quan đến dâng biểu, cùng với lễ gặp mặt sứ thần, bồi thần yết kiến, nghênh đón, tống tiễn, tặng quà cho sứ thần, đều không theo lệ cũ của nhà Minh; [Đại Thanh] có việc chinh phạt phải điều binh tới hỗ trợ, lại phải hiến lễ vật khao quân; không được phép tự ý xây dựng, tu sửa thành quách; không được phép tự ý chứa chấp những kẻ trốn tránh; mỗi năm tiến cống một lần, phương vật bao gồm một trăm lượng vàng, một nghìn lượng bạc, hai trăm cặp sừng trâu, một trăm tấm da chồn, một trăm tấm da hươu, một nghìn bao trà, bốn trăm tấm da rái cá, ba trăm tấm da chuột (16), mười đấu hồ tiêu, hai mươi sáu thanh yêu đao, hai mươi thanh thuận đao (17), hai trăm cân tía tô, một nghìn cuộn giấy loại lớn, một nghìn năm trăm cuộn giấy loại nhỏ, bốn tấm chiếu hình rồng năm móng, bốn mươi tấm chiếu hoa, hai trăm xấp vải trắng bằng cỏ gai, hai nghìn tấm tơ lụa, bốn trăm xấp vải đay loại mịn, một vạn tấm vải thường loại mịn cùng bốn nghìn tấm vải thường khác, một vạn bao gạo.

Tông một mình trong thành, ở vào thế cùng khốn quẫn, vợ con bị bắt, quân đội tám đạo đều tan vỡ hết cả, tông miếu xã tắc sắp tuyệt, mới cúi đầu chịu mệnh. Ngày Canh Ngọ, [Tông] bèn cùng mười người tùy tùng cưỡi ngựa mặc triều phục tới xin hàng. Tháng hai, vua cho xây đàn ở bến Tam Điền bờ phía đông sông Hán, lập màn trướng sắc vàng, lại bày nghi vệ ở bờ sông, đăng đàn cử nhạc, sắp đặt tướng sĩ hàng lối nghiêm chỉnh. Tông dẫn quần thần đi khỏi Nam Hán sơn chừng năm dặm thì xuống ngựa đi bộ, [vua] lệnh Anh Nga Nhĩ Đại, Mã Phúc Tháp ra ngoài nghênh đón một dặm, dẫn tới dưới chỗ lập nghi trượng. Vua rời khỏi chỗ ngồi, dẫn Tông và các con làm lễ bái thiên. Lễ xong, vua quay lại ngồi, Tông dẫn những người cùng đi theo phủ phục xuống đất mà thỉnh tội, [vua] tuyên chiếu xá tội cho, lệnh [Tông] ngồi dưới đàn bên trái nhằm về hướng tây, xếp trên các vương. Ban yến xong, [vua] cho trả lại các quân thần gia thuộc, triệu hồi toàn bộ các đạo quân về chỉnh đốn hàng ngũ, dời sang phía tây. Vua hạ chiếu, cho rằng Triều Tiên mới chịu can qua, trước miễn cống phương vật hai năm Đinh Sửu, Mậu Dần, bắt đầu lại từ mùa thu năm Kỷ Mão, nếu quốc lực chưa đủ, cho phép được lâm thời định đoạt. Thần dân Triều Tiên dựng bia ca tụng công đức dưới đàn ở bến Tam Điền.

Phù điêu khắc cảnh Triều Tiên Nhân Tổ làm lễ “tam quy cửu khấu” (ba quỳ chín lạy) trước mặt Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực. Từ năm 1636, Triều Tiên chính thức trở thành phiên thuộc của nhà Thanh, hoàn toàn đoạn tuyệt các quan hệ đối với nhà Minh trước đó. Người Triều Tiên coi đây như một nỗi “quốc sỉ”, bởi họ không chấp nhận thần phục một triều đại có gốc gác “man di” như nhà Thanh, đối nghịch với nhà Minh của người Hán mà họ luôn coi như “thành trì” của nền văn minh Nho giáo và sùng bái nó. Những năm đầu sau sự kiện này, Triều Tiên giữ thái độ “bằng mặt không bằng lòng”, đương thời vua Hiếu Tông từng có ý liên lạc với các thế lực Nam Minh, Trịnh Thành Công, Tam phiên, lại dự định Bắc phạt để trả đũa, còn sĩ phu Triều Tiên làm ra cái gọi là “Sùng Trinh kỷ niên”, tính các năm tiếp theo dùng niên hiệu Sùng Trinh, như thể nhà Minh vẫn còn tồn tại. Tuy nhiên, sau khi nhà Thanh thống nhất Trung Quốc và Hán hóa nhanh chóng, người Triều Tiên cũng dần từ bỏ thái độ thù nghịch này. Nguồn ảnh: https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Samjeondo_Monument5.JPG

Tháng tư, Tông cho hai vương tử là Trừng, Hạo sang làm con tin. Tháng năm, [vua] thấy Triều Tiên có công trợ giúp binh thuyền công chiếm Bì đảo, bèn thưởng cho Tông tiền bạc cùng với ngựa. Tháng mười, sai Anh Nga Nhĩ Đại, Mã Phúc Tháp, Đạt Vân mang sắc ấn và chiếu chỉ sang phong Tông làm Triều Tiên quốc vương. Tháng mười một, Tông sai bồi thần dâng biểu mừng tiết Vạn thọ, tới Đông chí lại sang cống phương vật. Tháng mười hai, dâng biểu mừng Nguyên đán. Kể từ đấy phàm Vạn thọ thánh tiết, Nguyên đán, Đông chí, đều đặc sai bồi thần dâng biểu chúc mừng, cống phương vật, hằng năm thành lệ không đổi. Năm ấy vạch rõ đường để [sứ thần Triều Tiên] sang cống, bắt đầu từ Phượng Hoàng thành (18). Về việc thông thương buôn bán, lập giao ước rằng: Phàm quan dân các nơi quanh Phượng Hoàng thành tới Nghĩa Châu để mua bán trao đổi, mỗi năm định hạn hai lần là cuối xuân tháng hai và cuối thu tháng tám; ở Ninh Cổ Tháp tới Hội Ninh, mỗi năm một lần; ở Khố Nhĩ Khách tới Khánh Nguyên, hai năm một lần; do một ủy ban gồm hai quan thông sự cùng Ninh Cổ Tháp Kiêu kỵ hiệu, Bút thiếp thức mỗi chức một người, đến trước giám sát, [mỗi phiên] định hạn hai mươi ngày thì kết thúc.

Năm thứ ba, triệu tập quân đội Triều Tiên tham gia đi đánh nhà Minh, vua thấy Triều Tiên sai hẹn, bèn hạ chiếu hết sức khiển trách. Tháng sáu năm thứ tư, sai sứ sang phong kế thất của Tông là Triệu thị làm Triều Tiên vương phi. Bọn người Khố Nhĩ Khách phản nghịch ở phía đông từ biển Đông Hải xâm nhập Hùng đảo (19), [vua] mệnh Triều Tiên thảo phạt. Tông sai tướng từ Khánh Hưng đến trước ven sông Tây Thủy La tiến quân. Tháng bảy, vua lấy việc bắt giữ thủ lĩnh phản nghịch là Gia Cáp Thiện đem dâng, bèn thưởng cho Tông hai trăm lượng bạc. Tháng mười năm thứ năm, nhân ngày sinh của Tông, vua xuống dụ giảm cho việc cống hàng năm xuống còn chín nghìn bao gạo (20). Tháng giêng năm thứ sáu, đánh thành Cẩm Châu nhà Minh, yêu cầu Triều Tiên chi viện năm nghìn thuyền chở một vạn thạch lương thực. Tông thường dâng tấu nói rằng thuyền chở quân, chở lương khắp nước chỉ còn không quá ba mươi hai chiếc, vua biết lời Tông là giả, bèn xuống chiếu hết sức khiển trách, buộc đến kỳ hạn phải thúc giục cho xong. [Tông] lại cho một trăm mười lăm thuyền vận chuyển môt vạn thạch lương thực, từ cửa sông Đại, Tiểu Lăng Hà tiến tới đảo Tam Sơn, trên đường đi gặp bão và đá ngầm hỏng mất hơn năm mươi thuyền, lại bị thủy quân Minh chặn đánh nên chỉ còn năm mươi hai thuyền. Tới Cái Châu, không thể tiến được nữa, [Tông] mới xin vận tải bằng đường bộ. [Vua] xuống chiếu, căn cứ vào tin báo về ba thuyền Triều Tiên dạt vào biên cảnh nhà Minh, gặp thuyền của quân Minh nhưng không nghênh địch, lại có ý không theo đường thủy để tiến, nay nghiêm khắc khiển trách. Đại thần Triều Tiên là Lâm Khánh Nghiệp vô cùng sợ hãi, xin được mạo hiểm tiến quân bằng đường thủy, vua vẫn cho nhưng đổi sang đi đường bộ, chỉ giữ năm nghìn lính pháo binh tinh nhuệ, năm trăm lính phục dịch, còn lại đều gọi về. Sau đó, người ngựa vận lương đã lâu mà vẫn chưa tới, [vua] sai sứ đến cật vấn. Tháng ba, ban đầu có Tổng binh Triều Tiên là Liễu Lâm, phó tướng Điêu Hà Lương dẫn quân tới Cẩm Châu. Tháng sáu, Tông sai bồi thần Lý Hoán dâng vàng và ngọc Tân La, trong tấu nói rằng ở thư viện Tân Hoát thuộc quận Hàm Dương (21) có nền móng chùa cổ từ thời Tân La còn sót lại, dân ở đấy là Viên Niên đào được một cái vò rượu bằng đất nung, trên nắp có khắc ba chữ “Nhất thiên niên”, bên trong chứa hai mươi cân vàng, mỗi thỏi một cân khắc bốn chữ “Nghi xuân đại cát”. [Vua] ban chiếu khen ngợi đáp lại, còn vàng tìm thấy được thì đem trả. Năm thứ bảy, Cẩm Châu thắng lớn, nhà Minh sai sứ nghị hòa, vua hỏi Tông, lệnh cho trình bày ý kiến của mình, Tông đáp: “Ngừng giết chóc để yên dân, [việc ấy] trên hợp với ý trời vậy”. Sau đấy vua điều tra biết được hai thuyền quân nhà Minh vào đất Triều Tiên, vua cả giận, mới xét việc bọn quan viên nội các là Thôi Minh Cát, binh sứ là Lâm Khánh Nghiệp ngầm thư từ qua lại với nước Minh, đuổi bắt về để tra xét, trị tội. Tháng chín năm thứ tám, Triều Tiên bắt giữ được một thuyền quân trinh thám từ Thiên Tân nước Minh, giải tới, [vua] lại thưởng cho Tông bạc.

Tháng ấy, Thế Tổ lên ngôi, ban chiếu cho Triều Tiên, lại đem sắc sang dụ, giảm lệ cống hằng năm, tơ lụa các màu đỏ, lục xuống chỉ phải cống năm mươi xấp, tơ lụa trắng năm trăm xấp, vải gai hai trăm xấp, vải thường hai trăm xấp, yêu đao sáu cái, chiếu rồng hai tấm, chiếu hoa hai mươi tấm. Tháng mười, Tông sai con là Liêu (22) dâng biểu tiến hương (23), cống phương vật. Tháng mười hai, Tông sai bồi thần dâng biểu mừng lễ đăng cực. Tháng giêng năm Thuận Trị thứ nhất, [vua] dụ Tông sắp xếp, phân bố lại người Ngõa Nhĩ Khách đang cư trú trong địa phận Triều Tiên. Tháng năm, nhân việc phá giặc Lý Tự Thành, định đô ở Yên Kinh, [vua] thông báo với Triều Tiên. Tháng bảy, Tông sai bồi thần đến dâng biểu chúc mừng và cống phương vật. Tháng mười một, cho Thế tử Trừng về nước, ban sắc cho phép giảm lệ cống hằng năm, tía tô chỉ phải cống hai trăm cân, trà mười bao, tơ lụa một nghìn xấp, vải mịn các màu năm nghìn xấp, vải thường bốn trăm xấp, vải thô hai nghìn xấp, thuận đao mười cái, đao mười cái; chỉ cần cống những dịp Nguyên đán, Đông chí và lễ mừng Vạn thọ, lại vì đường sá xa xôi nên cho phép vào lễ triều chính tiến cống một lượt (24), ghi lại thành lệnh. Tháng ba năm thứ hai, cho con thứ của Tông là Hạo về nước. Tháng mười một, Thế tử Trừng chết, [vua] phong con thứ của Tông là Hạo làm Thế tử. Tháng mười năm thứ ba, miễn cho cống gạo. Tháng giêng năm thứ sáu, vua thấy Triều Tiên trong những dịp sang chầu hằng năm trước định quan viên nội các, Thượng thư mỗi chức một người, nay gửi thư sang yêu cầu đổi thành trạng nguyên một người, sau đấy lại yêu cầu quan viên nội các hoặc Thượng thư mỗi chức một người, còn trạng nguyên vẫn một người như cũ.

Tháng sáu, Lý Tông hoăng (25). Tháng tám, sai Khải tâm lang (26) bộ Lễ là Ân Hách sang đem dụ đến tế, ban thụy là Trang Mục. Lại sai Khải tâm lang bộ Hộ là Bố Đan, Thị vệ Triệt Nhĩ Đại làm chính, phó sứ đem cáo, sắc sang phong Thế tử Hạo làm Triều Tiên quốc vương, vợ là Trương thị làm Vương phi. Tháng giêng năm thứ bảy, Hạo dâng tấu nói nước Nhật Bản “ở gần mật đưa thư tỏ ý muốn đi lại, tình hình đáng sợ, xin phép được tu sửa thành trì, huấn luyện quân binh để làm kế phòng ngự”. [Vua] sai sứ sang hỏi thăm, kết quả, Quan sát sứ Khánh Thượng đạo là Lý Mạn (27), Đông Lai phủ sứ (28) là Lư Hiệp đều nói Triều Tiên, Nhật Bản vốn hòa hảo với nhau, [vua] xét tấu kia là không thực, bèn hạ chiếu hết sức khiển trách Hạo, yêu cầu cách chức các quan viên có dự vào việc này là bọn Lý Kính Dư, Lý Cảnh Thích, Triệu Động.

Tháng giêng năm thứ chín, Hạo dâng biểu mừng việc Chiêu Thánh Từ Thọ Hoàng thái hậu gia thêm tôn hiệu. Tháng năm, người trong nước là Triệu Chiếu Nguyên mưu nghịch bị giết, [Hạo] sai sứ sang tấu báo. Tháng ba năm thứ mười, vua thấy Triều Tiên quốc vương chỉ có ấn chữ Thanh mà không có chữ Hán triện (29), bèn mệnh bộ Lễ đổi đúc ấn khác có cả chữ Thanh, chữ Hán ban cho. Tháng mười hai, [vua] phong con Hạo là Lý Túc làm Thế tử. Tháng hai năm thứ mười lăm, người La Sát (30) xâm phạm biên giới, [vua] dụ Triều Tiên tuyển hai trăm lính bắn súng điểu thương theo đi dẹp.

Tháng năm năm thứ mười sáu, Lý Hạo hoăng. Tháng chín, [vua] sai Thượng thư bộ Công là Quách Khoa sang đem dụ đến tế, ban thụy là Trung Tuyên. Lại sai Đại học sĩ Tưởng Hách Đức, Thị lang bộ Lại là Giác La Bác Thạc Hội làm chính, phó sứ, sang phong Thế tử Lý Túc làm Triều Tiên quốc vương, vợ là Kim thị làm Vương phi. Năm thứ mười tám, Thánh Tổ lên ngôi, Lý Túc sai bồi thần tiến hương, mừng lễ đăng cực. Năm Khang Hy thứ nhất, mệnh Triều Tiên dâng biểu mừng tiết Đông chí, Vạn thọ và tiến cống theo lệ hằng năm cùng với sứ thần sang làm lễ triều chính, nhất loạt cử hành. Nhiều năm trong nước có đại điển, [Triều Tiên] đều sai sứ đến chầu mừng. 

Tháng mười hai năm [Khang Hy] thứ mười ba, Lý Túc hoăng, [vua] dụ bộ Lễ rằng: “Lý Túc tận giữ chức cống, có thể lấy ưu đãi mà dùng điển hậu, nay cho vượt ngoài phép thường mà được viếng thêm một lần”, ban thụy là Trang Khác. Sai Nội đại thần Thọ Tây Đặc, Thị vệ Tang Ách Ân Khắc sang đem dụ đến tế và phong con nối [của Túc] là [Lý] Đôn làm Triều Tiên quốc vương, vợ là Kim thị làm Vương phi. Tháng mười một năm thứ mười lăm, Đông dâng tấu nói: “Trước bản kỷ mười sáu triều đời Minh có quyển chép về việc nước thần năm Quý Hợi phế Quang Hải quân Lý Hồn mà lập Trang Mục vương Lý Tông, xem như thoán nghịch. Nay nghe tin [triều đình] tu soạn Minh sử, mới tấu lên để trần tình trước sau, xin bỏ việc kia, sửa lại cho rõ ràng mà làm thành tín sử”. Bộ Lễ bàn không nên cho. Tháng giêng năm thứ hai mươi, Vương phi Kim thị chết, [vua] sai quan đến tế. Tháng năm năm thứ hai mươi mốt, sai sứ sang phong kế thất của Đôn là Mẫn thị làm Vương phi. Cùng năm, vua bái yết tổ lăng, Đôn sai bồi thần đến Thịnh Kinh nghênh đón theo hầu, cống phương vật. Năm thứ hai mươi tư, Đôn dâng tấu nói trong nước nhiều dịch bệnh làm chết người, dân chúng bỏ việc cày cấy, nên xin được tạm dừng thông thương buôn bán. Bộ Lễ cho rằng Đôn nói thác mà vọng tấu, vua thấy [Triều Tiên] là ngoại phiên có thể khoan dung, song vẫn ra chiếu lệnh để việc mậu dịch diễn ra theo thường lệ.

Năm thứ hai mươi lăm, dân Triều Tiên là Hàn Đắc Hoàn cùng hai mươi tám người vượt sông để hái nhân sâm, lại dùng giáo khắc địa đồ lên người quan quân đi thú ở đấy. Luận tội đưa lên, [rốt cục] chém Hàn Đắc Hoàn cùng sáu kẻ cầm đầu, còn lại miễn tội chết, giảm xuống còn đi đày. Đôn dâng biểu tạ tội, xin cống thêm phương vật. Vua thấy Triều Tiên vương nhân việc tạ tội để tiến cống nên không chấp nhận, chỉ chuẩn theo lệ cống hằng năm, từ nay về sau chuyện cống vật để tạ tội phải bị đình chỉ. Tháng bảy năm thứ ba mươi, đình thần bộ Lễ tấu rằng đoàn cống sứ nước Triều Tiên làm trái lệnh cấm, tự ý mua sách [Đại Thanh] Nhất thống chí, quan phiên dịch là Trương Xán Ứng phải chịu cách chức đày ra biên giới sung quân, chính sứ Lý Thẩm, phó sứ Từ Văn Trọng biết mà không cáo giác cũng phải cách chức. Vua mệnh khoan thứ, miễn cho cách chức. Tháng giêng năm thứ ba mươi hai, [vua] miễn cống hằng năm cho Triều Tiên, chỉ phải cống một trăm lượng vàng cùng sợi bông mộc miên các màu lam, đen, đỏ (31).

Tháng bảy năm thứ ba mươi sáu, phong con của Đôn là [Lý] Quân làm Thế tử. Tháng mười một, Đôn dâng sớ xin cho buôn bán gạo và lương thực ở Trung Giang, vua đồng ý. Tháng giêng năm thứ ba mươi bảy, sai Thị lang Đào Đại ba vạn thạch lương sang Triều Tiên, lấy một vạn thạch dùng để cứu tế, hai vạn thạch bán ra để bình ổn giá, việc này có làm thành sách Ngự chế hải vận chẩn tế Triều Tiên ký. Năm thứ ba mươi chín, Đôn dâng biểu cảm tạ việc phát hiện và đưa về một thuyền Triều Tiên bị dạt sang Lưu Cầu (32), xin cống thêm phương vật. Vua dụ cứu tế cho những người dân xiêu tán, từ chối cống vật, lại nói từ nay về sau, nếu còn lần nữa như vậy sẽ tiếp tục không nhận cống. Tháng hai năm thứ bốn mươi hai, Vương phi Mẫn thị chết, sai quan đến tế. Trước kia có thuyền đánh cá chở bọn thương nhân tới Triều Tiên, thường xuyên xâm nhiễu các địa phương. Đến nay vua dụ [Triều Tiên quốc] vương phải lệnh điều tra thu thập họ tên, quê quán từng người trên các thuyền, báo lại trung ương cho rõ ràng, rồi chuyển về quan địa phương nơi quê quán của chúng, chọn hình phạt nặng mà trị tội. Lại dụ các phủ nghiêm túc chấn chỉnh quan lại các địa phương ven biển, đang có việc các thuyền đánh cá, buôn bán trên biển chỉ là cái mác bên ngoài, thực tế là chở bọn thương nhân nước ngoài lai vãng, mua bán hàng hóa trái với lệnh cấm, phải nghiêm hành cấm chỉ. Năm thứ bốn mươi mốt, [vua] sai Viên ngoại lang là Đặng Đức Giám thu thuế ở Trung Giang, lấy bốn nghìn lạng làm mức. Tháng hai năm thứ bốn mươi hai, sai sứ phong kế thất của Đôn là Kim thị làm Vương phi. Tháng mười hai năm thứ bốn mươi ba, Đôn sai quan chở tiền gặp bão làm lạc mất thuyền, vua xuống dụ yên ủi. Tháng mười năm thứ bốn mươi lăm, dụ các Đại học sĩ rằng: “Triều Tiên quốc vương phụng sự triều ta, dốc lòng kính thận. Trẫm nghe nước ấy có tám đạo, bắc đạo giáp với đất Ngõa Nhĩ Khách ở sông Thổ Môn (33), đông đạo giáp với nước Oa tử, tây đạo giáp với Phượng Hoàng thành của ta, nam đạo giáp với biển lớn bên ngoài, lại còn có nhiều đảo nhỏ. Thái Tông hoàng đế bình định Triều Tiên, người trong nước dựng bia ở chỗ quân đóng, ca tụng công đức cho đến bây giờ. Đương vào những năm cuối đời Minh, mà vẫn trước sau thuận phục, chưa từng lìa phản, thực là nước trọng lễ nghĩa, rất đáng gìn giữ”. Tháng năm năm thứ bốn mươi chín, thương nhân Triều Tiên là Cao Đạo Bật bị gió làm hỏng thuyền, dạt tới Hải Châu thì được cứu, Tuần phủ Giang Tô Trương Bá Hành đem việc ấy báo lên. [Vua] ra dụ lệnh cấp cho Cao Đạo Bật giấy thông hành, dùng ngựa chạy trạm mà đi về nước.

Tháng năm năm thứ năm mươi mốt, [vua] dụ các Đại học sĩ rằng: “Phía tây núi Trường Bạch, Trung Quốc và Triều Tiên lấy sông Áp Lục làm ranh giới, và sông Thổ Môn từ sườn phía đông của núi Trường Bạch đổ vào biển, tây nam sông Thổ Môn thuộc về Triều Tiên, đông bắc thuộc về Trung Quốc, cũng lấy sông làm ranh giới. Song khu vực ở giữa hai sông Áp Lục, Thổ Môn, phân biệt chưa được rõ ràng”, mới phái Mục Khắc Đăng đi tuần tra biên giới. Tháng mười, vua xuống dụ miễn giảm lệ cống hằng năm cho Triều Tiên quốc vương, bạch kim còn một nghìn lượng, da báo đỏ một trăm bốn mươi hai tấm, báo cho sứ nước Triều Tiên dọc đường trở về sứ quán. Năm ấy, đình thần bộ Lễ xem xét và phê chuẩn lệnh áp dụng đối với nước Triều Tiên cùng với Kim Châu, Hải Châu, Cái Châu thuộc phủ Phụng Thiên (34), trong đó Thịnh Kinh tướng quân và Phủ doãn Phụng Thiên phải nghiêm sức cư dân ven biển, không cho phép tàu thuyền sang vùng biển gần Triều Tiên để đánh cá, cũng như ngư dân ở nơi khác đến Triều Tiên, nếu gặp được đều phải tìm bắt mà đuổi về. Tháng năm năm thứ năm mươi mốt, Đôn dâng tấu tạ ơn việc giảm lệ cống hằng năm, xin cống thêm phương vật, vua mệnh cho phép cống lễ vật tạ ơn phụ thêm vào lễ vật Đông chí và Nguyên đán. Cùng năm, Mục Khắc Đăng tới khu vực núi Trường Bạch, họp cùng với Tiếp biện sứ Triều Tiên là Phác Quyền, Quan sát sứ là Lý Thiện Phổ, lập bia làm mốc biên giới trên ngọn Tiểu Bạch. Năm thứ năm mươi tư, đình thần bộ Lễ tấu rằng: “Các địa phương Khố Nhĩ Khách thuộc đất Hồn Xuân (35) đều chỉ cách Triều Tiên qua sông Thổ Môn, thường xuyên sinh sự, nay xin phá dỡ hết nhà cửa phố xá ở An Đô Lập và Tha Mộc Nỗ. Từ nay về sau những vùng ven gần biên giới, không được phép xây nhà hay canh tác, quân dân kẻ nào trái lệnh ấy tức là phạm trọng tội vậy”. Tháng ba năm thứ năm mươi bảy, Đôn dâng biểu tạ việc ban cho không thanh (36), xin cống thêm phương vật, vua mệnh phụ vào lần chính cống tiếp theo. Từ đấy phàm những lần Triều Tiên dâng tấu tạ ơn, xin cống thêm phương vật, đều lưu vào chính cống, thẳng đến triều Quang Tự vẫn không đổi.

Tháng mười năm thứ năm mươi chín, Lý Đôn hoăng, sai Tán trật đại thần Tra Khắc Thiện, Hữu thị lang bộ Lễ La Chiêm sang viếng tế, ban thụy là Hy Thuận. Lại phong Thế tử Quân làm Triều Tiên quốc vương, vợ kế là Ngư thị làm Vương phi. Tháng hai năm thứ sáu mươi, Quân dâng sớ nói: “Thần ốm yếu bệnh tật, không có con nối, xin được lấy em là Lý Khâm làm Thế đệ, để kế thừa tông miếu”. Vua đồng ý. Tháng tư, sai sứ sang phong Khâm làm Triều Tiên quốc Vương thế đệ. Tháng mười hai, thuyền ngư dân Sơn Đông là Dương Tam cùng mười bốn người gặp bão dạt vào Triều Tiên, lúc tra xét không có giấy tờ gì làm tin, [Quân] bèn đưa trở về nội địa. Vua mệnh từ nay về sau, người trong các tàu thuyền gặp bão, kẻ nào qua kiểm tra giấy tờ phát sinh vấn đề, vẫn trục xuất về nước như cũ. Nếu kẻ nào không có giấy tờ lại còn sinh sự phạm pháp, lệnh cho [Triều Tiên quốc] vương thẩm tra, cân nhắc, sau đó tường trình cụ thể với sở quan, đợi kết luận từ trên xuống xong xuôi, cũng như trình báo những vụ việc tồn đọng.

Tháng bảy năm Ung Chính thứ nhất, [vua] dụ bộ Lễ giảm cống vật Triều Tiên, vải chỉ cống tám trăm xấp, da rái cá một trăm tấm, da chuột ba trăm tấm, giấy hai nghìn cuộn. Tháng chín, Triều Tiên dâng biểu văn mừng lễ Vạn thọ, vua ra chiếu yêu cầu vẫn theo lệ cống cũ vào tháng mười hai và đầu năm mà tiến hành. Quân sai bồi thần tiến hương, mừng vua lên ngôi. Tháng năm năm [Ung Chính] thứ hai, Quân sai bồi thần dâng tôn thụy cho Hiếu Cung Nhân hoàng hậu.

Tháng mười hai, Lý Quân hoăng, [vua] sai Tán trật đại thần Giác La Thư Lỗ, Hàn Lâm viện Học sĩ A Khắc Đôn sang đem dụ đến tế, ban thụy là Trang Khác. Lại phong Thế đệ [Lý] Khâm làm Triều Tiên quốc vương, vợ Từ thị làm Vương phi. Tháng bảy năm thứ ba, Khâm dâng sớ xin phong con của vợ thứ sinh ra là Lý Hãnh, bộ Lễ cho rằng theo lệ không phù hợp, nhưng vua đặc biệt đồng ý cho phép. Tháng tám, sai quan sang phong con của Khâm là Hãnh làm Thế tử. Tháng giêng năm thứ năm, Khâm dâng sớ xin cải chính việc cho rằng tiên vương đời trước là Tông làm sự nghịch, như thế là không đúng. Bộ Lễ có lời bàn rằng: “Tổ bốn đời của Khâm là Tông, trước vào năm Thiên Khải thứ ba nhà Minh có đến xin cầu phong. Bản kỷ mười sáu triều nhà Minh lại chép vào là làm việc thoán đoạt, thực là vu oan, cần ta cải chính. Đợi sau khi bộ Minh sử tuyên cáo hoàn thành, sẽ lấy Triều Tiên liệt truyện trong đó mà ban bố cho nước ấy”, [vua] y theo lời. Thương nhân Hồ Gia Bội lạm thu tiền tài, bị dân nước Triều Tiên đem sáu vạn lượng bạc trình báo, [vua] lệnh đi đến Trung Giang giải quyết, tìm rõ sự thật. Bộ Hình cho rằng Khâm lời lẽ giả bộ, xin án theo số tiền mà bắt bồi hoàn lại. Vua truyền mệnh khoan thứ, miễn truy cứu việc ấy. Lại dụ Khâm phải truy nã những kẻ đạo tặc từ nội địa ngầm chạy trốn sang Triều Tiên, ví như để sót không bắt, [Triều Tiên quốc] vương phải sai quan quân phòng thủ trong nước tham gia xử lý, rồi nhất loạt nghị xử. Tháng hai năm thứ sáu, giảm cống vật hằng năm cho Triều Tiên, gạo thường, gạo nếp mỗi thứ ba trăm thạch, nay mỗi năm chỉ cống gạo nếp bốn mươi thạch, để dùng vào việc cúng tế, ghi lại thành lệnh. Tháng mười, Khâm báo đạo tặc ở Triều Tiên ngầm xâm nhập nội địa, [vua] dụ cho bộ Binh thông báo cho quan quân vùng biên cảnh ở Thịnh Kinh, Sơn Đông gắt gao tìm bắt, truy cứu trừng trị. Tháng giêng năm thứ bảy, Thế tử Hãnh chết, sai quan đem dụ đến tế. Tháng mười, [vua] dụ đình thần bộ Lễ rằng: “Nước Triều Tiên cách kinh sư hơn ba nghìn dặm, sứ thần sang cống đi lại, tiêu dùng tốn kém, từ nay về sau, phàm chương sớ tạ ơn, cùng với biểu mừng ba tiết lớn trong năm là Thánh thọ, Đông chí, Nguyên đán đều đồng thời tấu lên, không cần thiết phải đặc sai sứ thần, ghi lại làm lệnh”. Tháng tám, tẩu phi của Khâm là Ngư thị (37) chết, cáo tang, vua sai sứ đem dụ sang tế.

Tranh vẽ trong tác phẩm Phụng sứ đồ (奉使图) mô tả cảnh Triều Tiên Anh Tổ (người mặc áo bào đỏ đang khom mình bên trái) nghênh tiếp sứ nhà Thanh là Hàn Lâm viện Học sĩ A Khắc Đôn (người mặc quan phục màu xanh đang ngồi kiệu đi vào từ bên phải) sang sách phong vị hiệu Triều Tiên quốc vương, tháng 12 âm lịch năm Ung Chính thứ 2 (ứng với dương lịch là tháng 1 năm 1725). Nguồn ảnh: https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Fengshitu.jpg

Tháng năm năm thứ chín, Phụng Thiên tướng quân Na Tô Đồ dâng sớ nói: “Các xứ quanh núi Hổ Nhĩ nằm trên đường đi phòng thủ vùng ngoài biên giới của Phượng Hoàng thành, có hai sông Thảo Hà, Ái Hà bắt nguồn từ trong biên giới, tới vùng Mãng Ngưu Tiêu ngoài biên giới thì hợp lưu chảy vào đất Trung Giang. Sang đất Trung Giang có châu gọi là Giang Tâm Đà, phía tây thuộc về Phượng Hoàng thành, phía đông là quốc giới Triều Tiên, hằng năm thường có giặc phỉ dùng thuyền ra vào, xin lập thủy quân ở Mãng Ngưu Tiêu phòng thủ”. Vua hỏi Triều Tiên vương Khâm việc ấy, Khâm xin vẫn tuân theo lệ cũ, vua y cho. Tháng ba năm thứ mười, Khâm lại nói về việc tiên vương đời trước là Tông bị oan, mong nhờ sử thần cải chính, xin sớm ban phát dụ, để dùng Triều Tiên liệt truyện của Minh sử sao chép lại ban bố trước trong nước. Tháng chín năm thứ mười ba, Cao Tông lên ngôi, ban chiếu cho Triều Tiên. [Vua] dụ đình thần bộ Lễ: “Đại thần quan viên phái tới Triều Tiên xưa nay thường có lệ ăn uống quà cáp, nay chiếu theo lệ cũ giảm bớt đi một nửa, ghi lại làm lệnh”.

Tháng hai năm Càn Long thứ nhất,  [vua] dụ đình thần bộ Lễ rằng: “Năm nay nước Triều Tiên dâng biểu cống mừng lễ Vạn thọ, theo lệ đồng thời cống cả cho tháng mười hai cùng năm”, từ năm ấy lấy làm thường lệ. Tháng tư năm [Càn Long] thứ hai, Khâm dâng tấu xin theo lệ cũ thông thương ở Trung Giang, mỗi năm vào tháng hai, tháng tám, quan binh Bát kỳ đồn trú mang hàng hóa đến Trung Giang để trao đổi. Vua thấy người Bát kỳ chỉ có trách nhiệm tuần tra phòng thủ, chứ không am tường việc mậu dịch, mới đổi lại lệnh, cho thương nhân đến buôn bán. Đến khi nhận được lời tấu của Khâm, bèn theo việc ấy. Tháng mười một, Khâm xin phong cho con của kế thất là Huyên làm Thế tử. Lúc đó Huyên vừa mới có ba tuổi, bộ Lễ nghị bàn xét theo điển lệ, đặc chỉ cho phép. Tháng giêng năm thứ ba, sai sứ sang phong Huyên làm Thế tử. Tháng năm năm thứ tư, Khâm dâng biểu tạ việc ban cấp cho Triều Tiên liệt truyện.

Tháng mười một năm thứ tư, Thịnh Kinh thị lang Đức Phúc dâng sớ nói rằng: “Thuyền cá Triều Tiên gặp bão dạt vào địa giới Hải Ninh (38), xin được giúp đỡ hộ tống ngư dân là Kim Thiết theo đường bộ trở về nước”. Từ đó về sau, phàm người dân Triều Tiên, kẻ nào gặp bão dạt vào nội địa, đều cấp cho tiền bạc, hộ tống về nước. Tới tận triều Quang Tự, vẫn dùng lệ này để vỗ về. Tháng chín năm thứ tám, vua đến thăm Thịnh Kinh, Khâm sai sứ dâng biểu cống, [vua] đặc biệt ban cho tấm biển đề chữ "Thức biểu Đông phiên" ["ngợi khen phép tắc của nước phiên phía đông"] , lệnh ban yến cho sứ thần và chư vương ngoại phiên. Tháng chín năm thứ tám, giảm ngạch thu thuế ở Trung Giang. Tháng năm năm thứ mười ba, Thịnh Kinh Hình bộ Thị lang là Đạt Nhĩ Đảng A dâng tấu nói: “Tháng mười hai năm thứ mười hai, cống sứ Triều Tiên qua cầu Vạn Bảo đi về, lính hầu có kẻ để cho ngựa xổng ra làm mất tiền bạc, lại trá xưng là do lạc đường ban đêm phải vào nhà dân, rồi vu cho một người tên là Tống Nhị ăn trộm, sau khi tra xét rõ ràng, nay chiếu theo luật lệ tội vu khống phải thêm ba bậc, đáng bị xử trượng đồ”. Vua xuống dụ khoan dung miễn tội cho. Lại có người Triều Tiên là Lý Vân Cát dụ dỗ, bức ép đàn bà con gái vượt biên để bán cho kẻ khác, chiếu theo luật lệ đáng tội giảo, giam lại chờ hành hình. Vẫn theo lệ cũ định ra từ năm Càn Long thứ năm, đang trong thời gian xét án, cần phải cẩn thận tính toán, chuẩn bị tấu sớ trình báo. Triều Tiên quốc vương lại báo việc dân chúng trấn Huấn Nhung (39) thường vượt sông sang biên giới phía đông, cùng với dân Ô Lạt xây dựng nhà cửa, khai khẩn ruộng đất. Đình thần bộ Lễ nghị bàn chiếu theo lệ định từ năm Khang Hy thứ năm mươi tư thực hiện, lệnh Ninh Cổ Tháp tướng quân điều tra cho rõ mà ban hành cấm chỉ, phá dỡ nhà cửa, từ dân chúng vi phạm cho tới quan lại cai quản không thực hiện lệnh cấm, đều theo luật mà trị tội. Lại có tấu rằng: “Người Triều Tiên vào Sơn Hải quan mang theo vật phẩm hàng hóa, cũng như cung cấp những thổ sản nước ấy, nếu giấy tờ có dấu ấn của Tổng quản Phượng Hoàng thành làm chứng sẽ được phép xuất quan mang theo hàng hóa, và nếu có công văn của bản bộ cấp cho sẽ được miễn việc thu thuế. Ngoài ra nếu mang riêng các loại vật phẩm không phải xuất xứ từ nước ấy, lập tức chiếu theo quy định mà thu thuế. Nếu phát hiện hành vi mua vật cấm, trái với quy định, cần phải giám sát đôn đốc việc tra xét, báo lại cấp trên để tiến hành trị tội”. Năm ấy, Triều Tiên quốc vương thông báo việc Quan bạch (40) Nhật Bản mới lập, chiếu theo lệ nên thông sứ, đình thần bộ Lễ tấu lại việc ấy, [vua] đồng ý.

Tháng bảy năm thứ mười bốn, Phụng Thiên tướng quân (41) A Lan Thái dâng tấu nói: “Xưa nay theo lệ cống sứ Triều Tiên tới biên giới, Thành thủ úy của Phượng Hoàng thành mang theo quan binh cùng với các quan nghênh tống thông sự trong Chủ khách ty (42) đến cửa quan, người ngựa, xe cộ đi lại nhiều lần, dọc đường lập quán xá, Thị lang bộ Binh là Đức Phái đi sứ sang nước ấy, tấu rằng việc lập quán toàn vào những chỗ không thích hợp, đoàn cống sứ lại đông người, không đủ để cư trú, [quan binh] trong lúc chờ sứ tới phải thuê nhà dân để ở tạm. Thần cho rằng đoàn cống sứ đông như vậy, [quan binh] nếu cứ chờ đợi mà ở nhờ vào các thôn trang, sợ sẽ phát sinh nhiều điều phiền nhiễu. Do đó nên xin từ nay về sau, cống sứ tới cửa quan sau khi đã vào trong, nhất thiết phải nhóm hợp lại thành đoàn cố định để đi, chiếu theo lệ cũ đặt mỗi trạm quan viên một người, binh dịch hai mươi người hộ tống. Lệnh quan địa phương trước đấy phải chuẩn bị, sửa sang quán xá, sắp xếp chỗ nghỉ ngơi, ban ngày lo việc hộ hành, ban đêm thực hiện tuần tra. Nếu người trong đoàn có nhu cầu mua đồ ăn thức uống, quan hộ hành kiểm tra lại số người ra vào lữ quán, phái vài binh dịch đi theo giúp đỡ, hoặc giả nhân dân nội địa có sinh sự với chức dịch Triều Tiên, binh dịch phải nắm bắt mà bẩm báo với quan hộ hành, giao cho quan địa phương truy cứu xử trí. Đối với chức dịch trong đoàn cống sứ, chỉ có quan nghênh tống mới được phép cùng họ đi lại giao tiếp, cần phải tạo thành chuyên trách. Nếu quan địa phương chuẩn bị không chu đáo, cho phép quan hộ hành, quan nghênh tống thông sự yết báo với Phủ doãn, chiếu theo luật lệnh mà nghị xử những việc vi phạm. Quan nghênh tống thông sự trên đường quản thúc không nghiêm, để cho chức dịch trong đoàn cống sứ sinh sự, cho phép quan hộ hành yết báo bộ Lễ, chiếu theo tội quản thúc không nghiêm mà nghị xử. Quan hộ hành trông coi không nghiêm, cho đến binh dịch không đủ số, cho phép quan nghênh tống thông sự yết báo tướng quân, chiếu theo tội “túng quân yết dịch” (43) mà nghị xử. Quan nghênh tống thông sự có lòng mưu việc riêng, muốn nhũng nhiễu cư dân hoặc quan hộ hành dung túng cho quân đinh, mưu đồ thông đồng giấu giếm, cho phép quan dân địa phương ấy yết báo với nha môn các ty cấp trên, chiếu theo tội cấu kết ngoại phiên mà nghị xử”. Tấu dâng lên, [vua] trả lời có thể làm. Năm thứ mười lăm, đình thần bộ Lễ xem xét việc cho phép cống sứ Triều Tiên vào biên giới, trong hành lý có chứa hàng hóa đem ra mua bán, đều phải báo lại rõ ràng số lượng xe ngựa đã thông qua kiểm tra, trên đường đi dựa theo mức độ mà ủy thác cho quan địa phương giám sát, đôn đốc vận chuyển các xe, cùng với xe chở đoàn cống sứ thông báo lịch trình, đồng thời nộp giấy tờ ghi rõ các ngày đã đi lại. Nếu chức dịch Triều Tiên có kẻ bị lạc lại phía sau, trách nhiệm thuộc về quan nghênh tống thông sự; nếu việc vận chuyển xe cộ không xong, trách nhiệm chỉ thuộc về quan địa phương quản dân vùng ấy.

Tháng chín năm thứ mười chín, vua bái yết tổ lăng ở Thịnh Kinh, Khâm sai sứ đến dâng biểu cống, [vua] ban thưởng như lệ. Tháng sáu năm thứ hai mươi hai, Khâm tới báo tang mẹ là Kim thị. Vương phi là Từ thị lại chết, năm thứ hai mươi ba, [vua] sai quan mang dụ đến tế. Tháng tư, Đại học sĩ Phó Hằng dâng tấu nói: “Triều Tiên là thuộc quốc đã lâu, lễ tiết ngôn ngữ đều đã thuần thục, nay xin đổi số quan thông sự, chỉ còn lấy tám người”. [Vua] nghe theo. Tháng giêng năm thứ hai mươi lăm, sai quan phong cho kế thất của Khâm là Kim thị làm Vương phi. Năm thứ hai mươi tám, Thế tử Triều Tiên là Lý Huyên chết, sai quan đem dụ đến tế. Tháng bảy, phong con của cố Thế tử Huyên là [Lý] Toán làm Thế tôn. Tháng ba năm thứ hai mươi chín, dân Triều Tiên là Kim Phượng Thủ, Kim Thế Trụ giết chết phi giáp (44) ở nội địa là Thường Đức. Đình thần bộ Lễ cho rằng Kim Phượng Thủ là kẻ chủ mưu, phải xử chém, Kim Thế Trụ là tòng phạm, nên xử giảo. [Lại bàn rằng] đối với việc bọn gian dân Triều Tiên nhiều lần vượt biên cảnh sinh sự, đó đều là lỗi do [Triều Tiên quốc] vương quản thúc xử trí không nghiêm, cần phải giao cho cấp dưới nghị xử. Vua xuống dụ khoan thứ cho Kim Phượng Thủ, đổi hình phạt thành giam lại chờ hành hình; còn đối với [Triều Tiên quốc] vương thì miễn việc nghị xử cho. Khâm vì bị trách tội để lỡ việc quản thúc, bèn cách chức Quan sát sứ đạo Bình An là Trịnh Thuần. Tháng năm năm thứ ba mươi, Khâm vì việc đám người phạm tội vượt sông trộm cắp là Kim Thuận Đinh đều đang trong thời gian hoãn quyết (45), các quan cho rằng trong vụ án xét kĩ tội trạng cũng chỉ là do việc ngăn ngừa không chặt, có thể khoan thứ, [Khâm] sai sứ dâng biểu tạ. Tháng tám năm thứ ba mươi sáu, Khâm dâng tấu nói rằng các sách Minh kỷ tập lược của Chu Lân, Hoàng Minh thông kỷ của Trần Kiến chép việc đời trước (46) toàn phỏng theo những điều xằng bậy vô căn cứ, khiến cho đời nay phải hàm oan, xin được bỏ đi mà cải chính lại. Đình thần bộ Lễ báo rằng, sách Tập lược của Chu Lân, Tuần phủ Chiết Giang là Dương Đình Chương đã đem tiêu hủy cả, còn sách Thông kỷ của Trần Kiến, các hàng sách ở kinh thành cũng không chỗ nào bán nữa. Nhược bằng hai sách ấy ở Triều Tiên có kẻ còn lưu truyền, nên lệnh trong nước tự thực hiện việc tra cấm tiêu hủy.

Năm thứ bốn mươi mốt, Lý Khâm hoăng, Vương phi Kim thị xin lập Thế tôn Toán làm [Triều Tiên] quốc vương, vợ là Kim thị làm Vương phi, lại xin xuống dụ ban tước thụy truy phong cho cố Thế tử Hãnh cùng với phong hiệu cho vợ Thế tử là Triệu thị. [Vua] sai Tán trật đại thần Giác La Vạn Phúc, Nội các học sĩ Tung Quý sang đem dụ tế, ban thụy cho Khâm là Trang Thuận, thụy cho Hãnh là Khác Mẫn, lại phong Toán làm Triều Tiên quốc vương, vợ Kim thị làm Vương phi. Năm thứ bốn mươi ba, vua bái yết tổ lăng, vì không cử hành tiệc yến nên ra sắc chỉ Triều Tiên tới triều hạ. Toán theo chỉ sai quan đem biểu nghênh giá, [vua] ban cho tấm biển đề chữ ngự "Đông phiên thằng mỹ" ["nước phiên phía đông, đẹp thay phép tắc"]. Năm thứ bốn mươi lăm, Toán lại sai chính sứ là Lại tào Phán thư Từ Hữu Khánh, phó sứ là Lễ tào Tham phán Thân Đại Thăng, dâng biểu mừng lễ Thất tuần Vạn thọ, cống phương vật. Năm thứ bốn mươi tám, vua bái yết tổ lăng, Toán sai bồi thần tới Thịnh Kinh nghênh giá hầu cận, mọi thứ điển lễ ban yến triều cống, đặc biệt thêm phần ưu hậu, lại ban cho thơ ngự chế giảng tới chuyện tuổi tác cao trọng vốn xưa nay hiếm. Năm thứ bốn mươi chín, Toán dâng sớ báo việc con nối là [Lý] Nhũng lên ba tuổi, xin phong làm Thế tử. [Vua] đặc biệt xuống chỉ sai sứ sang phong, cấp cho cáo sắc. Tháng giêng năm thứ năm mươi, cử hành Thiên tẩu yến (47), Toán sai chính sứ là An Xuân quân Lý Dung, phó sứ là Lại tào Phán thư Lý Trí Trung nhập cống, tham dự yến tiệc ngang với bậc nội thần. Vua nghe nói Toán am hiểu văn thơ, bèn thưởng cho một bộ Ngũ kinh sao chép theo nguyên bản đời Tống, lại thưởng thêm bút mực các thứ. Nhân đó dụ rằng cống vật Triều Tiên các năm trước còn lưu lại, tất cả đều tiến hành thu nhận, đến đây bãi bỏ tình trạng nhập nhằng tích tồn cống vật; từ nay về sau cống vật tùy ý dâng lên, nhất loạt đình chỉ.

Tháng bảy năm thứ năm mươi hai, Thế tử Nhũng bị bệnh chết, sai quan đem dụ đến tế. Năm thứ năm mươi lăm, đình thần bộ Lễ dâng tấu nói rằng: “Triều Tiên quốc vương trước vì việc Lý Nhũng bệnh chết, nay vợ kế sinh con trai, lập tức đã dâng tấu xin sách phong, mà không quỳ bái để hành lễ được, xin đợi thêm một thời gian nữa, coi như là lấy việc lâu dài về sau mà làm phúc”. Đặc biệt xuống chỉ đồng ý lời xin của [Triều Tiên] quốc vương. Tháng bảy, Toán sai chính sứ là Hoàng Nhân Điểm, phó sứ là Từ Hạo Tu dâng biểu mừng lễ Bát tuần Vạn thọ, cống phương vật (48). Năm thứ năm mươi sáu, có giáo sĩ Pháp Lan Tây từ Trung Quốc tới Triều Tiên truyền đạo Thiên Chúa. Năm thứ năm mươi tám, Toán xin đổi mua tiền tệ và hàng hóa để mang về nước lưu thông, bộ Lễ bàn không cho. Năm Gia Khánh thứ nhất, Toán sai sứ mừng Thái thượng hoàng đế trao trả chính sự, cống phương vật. Sứ thần tại cung Ninh Thọ dự Thiên tẩu yến, ban cho thơ Thánh chế Thiên tẩu yến. Tháng giêng năm [Gia Khánh] thứ tư, [vua] sai Phó đô thống Trương Thừa Huân, Thị lang bộ Lễ Hằng Kiệt tới Triều Tiên báo tang và ban di chiếu của Đại hành Thái thượng hoàng đế. Toán sai sứ (49) dâng biểu mừng [vua lên ngôi], và việc dâng tôn thụy cho Cao Tông Thuần hoàng đế, xin cống phương vật, [vua] cho phép lưu lại vào chính cống (50).

Năm thứ năm, [vua] sai sứ sắc phong con của Toán là [Lý] Dương làm Thế tử. Tới khi Lý Toán hoăng, lập tức sai chính sứ, phó sứ đã sang sách phong Thế tử khi trước, sang phong Lý Dương làm Triều Tiên quốc vương. Năm thứ sáu, Dương lấy việc nước mình mới diệt trừ xong bọn người Kim Hữu Sơn lén lút truyền đạo giáo Tây dương, thuật lại vào báo cáo, rồi nói rằng dư nghiệt chưa dẹp yên, sợ chúng ngầm trốn vào cửa biên giới, xin lệnh quan lớn dọc biên giới nghiêm ngặt tra xét, xử trí tận gốc. Vua xuống dụ lệnh quan lớn vùng biên nhất loạt nghiêm việc tra xét, sau khi bắt được, lập tức giao cho [Triều Tiên] quốc vương tự mình xử trí. Năm thứ mười, vua đến thăm Thịnh Kinh, [Triều Tiên quốc vương] sai quan tới tiếp giá, [vua] đặc ban cho tấm biển đề chữ "Lễ giáo tuy phiên" ["dùng lễ giáo để vỗ về nước phiên"]. Tháng mười một năm thứ mười hai, thương nhân ở Nghĩa Châu nước Triều Tiên là Bạch Đại Hiền, Lý Sĩ Tiếp ngầm vận chuyển gạo tới đảo Chương Tử (51), cùng với dân vùng biên hai họ Chu, Trương buôn bán riêng với nhau. [Triều Tiên quốc] vương sai giam bọn Bạch Đại Hiền lại, cách chức tra xét quan địa phương, lại tiến nộp các thứ [tang vật gồm] tiền, đồng, sắt. Vua cho rằng vương có lòng cung thuận, đáng được khen ngợi, bèn ban thưởng bốn xấp vải đoạn cỡ lớn, bốn kiện đồ dùng làm bằng pha lê, bốn kiện đồ dùng sơn mài cùng với bốn bình chứa lá trà, để tưởng thưởng việc thông báo. Xuống dụ lệnh cho Thịnh Kinh tướng quân đôn đốc quan lại dọc biên giới gấp rút lùng bắt đám người mang hai họ Chu, Trương, kiểm tra rõ ràng quan viên nội địa sơ suất trong phòng bị mà xử trí, trừng phạt nghiêm khắc. Tháng ba năm thứ mười bảy, có giặc nổi lên ở đất Nghĩa Châu nước Triều Tiên, [vua] phái Lộc Thành đốc quân đi dẹp. Sai sứ sắc phong cho con của Lý Dương là [Lý] Quýnh làm Thế tử. Tháng chín năm thứ hai mươi ba, vua đến thăm Thịnh Kinh, Dương sai sứ nghênh giá hầu cận, dâng biểu chúc mừng, [vua] ban cho thơ ngự chế, lại ban một chữ Phúc.

Năm Đạo Quang thứ nhất, Dương dâng tấu nói rằng trước kia tằng tổ là Lý Quân bệnh tật lâu ngày không khỏi, Lĩnh nghị chính Kim Xương Tập, Trung khu Lý Di Mệnh, Tả nghị chính Lý Kiện Mệnh, Phán trung khu Triệu Thái Thải xin lập Lý Khâm làm Thế đệ, tham gia quyết định chính sự trong nước, vì thế mà tướng thần (52) là bọn Triệu Thái Củ vu cho đám đại thần bốn người Kim Xương Tập tội mưu nghịch lạm sát, may mắn đội ơn Thánh Tổ hoàng đế chuẩn cho Lý Khâm được tập phong, bọn Triệu Thái Củ luận tội phải chịu giết, bốn người Kim Xương Tập đều được rửa oan. Nay sách Hoàng triều văn hiến thông khảo có đoạn chép "Tứ thần mưu nghịch, việc ấy phát giác ra, nên phải chịu chết", xin được cải chính lại. Cấp dưới cho rằng sách Thông khảo ghi chép đều căn cứ trên tấu báo của Lý Quân, do đó việc tu soạn không có sai sót. Nay đã khẩn thiết xin rửa oan cho tổ tiên, ứng theo lời mà lược bỏ việc ấy, để cho rõ ràng tín sử, [vua] đồng ý. Năm [Đạo Quang] thứ hai, ban cấp sách Văn hiến thông khảo, bản in đã chỉnh sửa lần thứ nhất. Dương sai sứ dâng biểu mừng việc rước thần chủ của Nhân Tông Duệ hoàng đế vào Thái miếu, và việc dâng tôn hiệu huy hiệu cho Hoàng thái hậu, cống phương vật; nhân việc ban chiếu và ban thưởng vải đoạn, [Dương] xin tiến trước các cống vật cho Hoàng đế, Hoàng thái hậu để tạ ơn, [vua] thu nhận lấy ba phần, còn chín phần lưu lại vào chính cống. Ngoài lệ cống ra, gặp lúc sách phong tôn thụy cho Hiếu Mục hoàng hậu, [vua] cho phép [Triều Tiên] cúng tế, [Dương] lại xin tiến trước cống vật cho Hoàng đế, Hoàng thái hậu để tạ ơn, [vua] thu nhận trước hai phần, ba phần sau lưu lại vào chính cống. Năm thứ tám, Dương sai sứ dâng biểu mừng việc bình định Hồi cương. Lại nhân lúc ban cấp sắc thư gia thưởng thêm vải đoạn, [Dương] xin cống phương vật để tạ ơn, [vua] đều cho lưu lại vào chính cống. Năm thứ chín, phó sứ Triều Tiên là Lã Đông Thực bị bệnh chết ở Du quan (53), [vua] ban ba trăm lạng bạc. Năm thứ mười một, Dương dâng tấu xin phong đích tôn là Lý Hoảng làm Thế tôn, vua đồng ý, sai sứ đem sắc phong Lý Hoảng làm Triều Tiên quốc Vương thế tôn. Năm thứ mười hai, Dương dâng tấu nói: “Thuyền buôn của nước Anh Cát Lợi tiến vào đảo Cổ Đại của Triều Tiên, yêu cầu thông thương, [thần] nghiêm khắc cự tuyệt không nhượng bộ, qua hơn mười ngày, thuyền nước Anh mới bỏ đi”. Vua khen ngợi [Dương] có lòng trung, ban cho vải đoạn.

Năm thứ mười lăm, Lý Dương hoăng, Vương phi Kim thị xin lập Thế tôn Lý Hoảng tập phong, nhân đó trình bày việc xin cáo mệnh truy tước thụy cho cố Thế tử, cùng với vợ của Thế tử. Tháng hai, [vua] sai sứ đem dụ đến tế, ban thụy cho Dương là Tuyên Khác; truy tặng cố Thế tử Quýnh làm [Triều Tiên] quốc vương, thụy là Khang Mục, truy tặng vợ [của Thế tử] làm Vương phi; sắc phong Thế tôn Hoảng làm Triều Tiên quốc vương. Hoảng dâng biểu mừng việc sách lập Hoàng hậu và dâng huy hiệu cho Hoàng thái hậu, cống phương vật. Năm thứ mười sáu, Hoảng dâng biểu mừng việc dâng thêm huy hiệu nhân dịp lễ Lục tuần Vạn thọ của Hoàng thái hậu, cống phương vật. Bộ Lễ bàn nghị chuẩn việc sứ thần Triều Tiên đến kinh sư, cấm người đi theo buôn bán ngoài phạm vi sứ quán. Năm thứ mười bảy, [vua] sai sứ sắc phong chính thất của Hoảng làm Vương phi. Năm thứ mười chín, Hoảng dâng biểu tiến trước ba phần cống vật để cúng tế Đại hành Hoàng hậu, [vua] đem trả lại. Năm thứ hai mươi hai, [vua] xuống dụ cấm người dân nội địa tự ý vượt biên giới để xây dựng nhà cửa và khai khẩn ruộng đất. Năm thứ hai mươi tư, Vương phi nước Triều Tiên hoăng, sai sứ đến tế. Năm thứ hai mươi lăm, sai sứ đến sắc phong kế thất của Hoảng làm Vương phi. Trước kia, theo lệ phái sứ thần sang Triều Tiên, đi cùng có thông quan năm, sáu người, đến nay giảm chỉ còn một người, định làm lệ vĩnh viễn. Năm ấy, bộ Lễ tấu: “Căn cứ vào công văn tường trình của Triều Tiên quốc vương, thuyền nước Anh thường xuyên ghé vào đậu ở biên cảnh [nước ấy], tiến hành đo đạc sông núi, lại hỏi han đề nghị thông thương qua lại”. Vua mệnh Kỳ Anh xét hỏi kỹ lưỡng với sứ nước Anh, tuân theo chiếu mà lập điều ước, dùng lời lẽ khôn khéo để mở lối, không cho phép để binh thuyền của họ lại tự ý tuần du, dẫn đến phát sinh phiền nhiễu.

Năm thứ hai mươi chín, Lý Hoảng hoăng, sai sứ đem dụ đến tế theo lệ. Tháng mười, [vua] mệnh Thụy Thường, Hòa Sắc Bản đem sắc sang phong con của Hoảng là [Lý] Biện làm Triều Tiên quốc vương. Năm Hàm Phong thứ nhất, Biện nói rằng tổ phụ của mình là Lý Nhân vào năm Tân Dậu niên hiệu Gia Khánh do vướng vào án tà đảng của nước ấy, bị bọn ngoại thích Kim Quy Trụ vu hãm mà chết, sợ rằng nội phủ (54) biên chép lại việc đó, nay khẩn xin được phân biệt cho rõ việc đó là xằng bậy. Bộ Lễ tấu rằng: “Trước đây thượng dụ cùng với sách Hội điển ghi chép, đều không thấy có tên Lý Nhân. Biện thấy đời trước bị vu, liệu sẵn việc trần tình oan uổng, đó thực có thể xem là cái chí tình của người nhân hậu, nay ứng theo lời xin, cho phép chiêu tuyết”. Vua theo lời. Biện dâng biểu mừng việc dâng tôn thụy cho Hiếu Hòa Duệ hoàng hậu và Tuyên Tông Thành hoàng đế, cống phương vật. Năm [Hàm Phong] thứ hai, [vua] sai sứ sắc phong vợ của Lý Biện làm Vương phi, Biện lại dâng biểu mừng lễ sách lập Hiếu Đức hoàng hậu, cống phương vật, [vua] đều cho lưu lại vào chính cống. Vua sức cho Thịnh Kinh tướng quân và các quan đốc phủ ở các địa phương ven biển nghiêm cấm thuyền dân nội địa tới [hải phận] Triều Tiên đánh bắt cá. Năm thứ ba, Biện dâng biểu mừng việc rước thần chủ của Tuyên Tông Thành hoàng đế vào Thái miếu, lại nhân việc ban cấp chiếu thư mà xin cống phương vật tạ ơn, [vua] mệnh lưu lại vào chính cống, cùng với nhận biểu và cống vật mừng việc làm xong lễ sách lập Hoàng hậu. Năm thứ tư, người nước Triều Tiên là Trương Thiêm Cát tự ý đến kinh, vua mệnh đưa về, giao cho nước ấy tra xét xử trí. Năm thứ năm, nước Triều Tiên hộ tống bốn người nạn dân nước Mỹ tới kinh, vua mệnh chuyển tới Giang Nam, giao cho Tổng đốc Lưỡng Giang xét hỏi, lại lệnh yêu cầu thương thuyền nước ấy phải trở về nước. Năm thứ sáu, Biện dâng biểu mừng việc dâng tôn thụy cho Hiếu Tĩnh Khang Từ hoàng hậu, cống phương vật, [vua] đồng ý nhận. Năm thứ bảy, đình thần bộ Lễ tấu lên việc chuẩn cho Triều Tiên mang tới hơn bốn nghìn cân đồng đỏ, chờ tại hội đồng Tứ dịch quán để giao dịch. Vua xuống dụ áp giải người nước Triều Tiên tự ý vượt biên là Kim Ích Thọ tới Thịnh Kinh, bộ Lễ chuyển giải tới Phượng Hoàng thành, giao cho nước ấy thu nhận lại để xử trí. Tháng hai năm thứ mười một, vua đang nghỉ ở Nhiệt Hà, Biện sai sứ dâng biểu xin đến yết kiến ở hành tại, tỏ ý cung kính chầu hầu (55). Vua dụ sứ thần sau khi tới kinh không cần phải tới hành tại trước (56), bộ Lễ chiếu theo lệ cũ vẫn bày yến thiết đãi, lại ban cho Biện ngọc như ý, vải đoạn, đồ sứ, đồ sơn mài.

Năm Đồng Trị thứ nhất, Biện sai sứ dâng biểu mừng lễ lên ngôi, trình tiến hai phần cống vật cho Lưỡng cung Hoàng thái hậu (57), [vua] đều nhận cả. Một phần cống vật mừng lễ lên ngôi, cùng với hai phần cống vật [Biện] tiến cống để tạ ơn ban chiếu thư và thưởng vải đoạn, lại thêm bốn phần cống vật cho Lưỡng cung Hoàng thái hậu, [vua] đều cho lưu lại vào chính cống. Năm [Đồng Trị] thứ hai, Biện dâng biểu mừng việc dâng tôn thụy cho Văn Tông Hiển hoàng đế, cùng với dâng tôn hiệu huy hiệu cho Lưỡng cung Hoàng thái hậu, cho tới việc tiến năm phần cống vật để tạ ơn vua thưởng vải đoạn, [vua] nhận lấy, còn mười một phần cho lưu lại vào chính cống. Năm ấy, Biện dâng tấu nói đời trước bị vu cáo, khẩn thiết xin sửa chữa các thư tịch xằng bậy để cải chính. Vua dụ rằng: “Gốc gác của Triều Tiên quốc vương, đối với Lý Nhân Nhiệm hay cũng viết thành Lý Nhân Nhân, họ tộc vốn khác biệt. Triều ta tu soạn Minh sử, không hề ghi chép sai lạc về nước họ. Nay Biện nhân gặp việc những năm Khang Hy, sách Chấp nhất sử ước biên của Trịnh Nguyên Khánh soạn ra, việc các đời chép lại có nhiều sự sai lạc, mới khẩn xin được san chính. Sách Ước biên có nói Khang Hiến vương [tức Triều Tiên Thái Tổ] là con của Lý Nhân Nhân, thực là lầm lẫn vậy. Chỉ là do khi trước bộ Minh sử chưa được soạn xong, kẻ sĩ tụ tập ở các trường học nơi thôn xóm, nghe ngóng không đích xác, vì thế mà không thể tránh khỏi noi theo những điều bậy bạ của đời tiền Minh. Nay nước họ đã có lời dâng lên, đặc ban sử truyện, tự biết tuân mệnh vua mà sửa chữa bố cáo trong nước, bảo với con cháu thần tử cho chúng biết mà tin theo. Sách Ước biên ở Trung Quốc từ lâu đã không còn lưu hành, vì thế mà cũng không làm được việc sửa đổi hay hủy bỏ gì cả. Nêu cho Học chính các tỉnh phụ trách việc học hành. tra xét phủ dụ cho rõ, phàm sự thực của Triều Tiên, cần lấy bộ Minh sử đã được khâm định làm chuẩn, không được dựa vào các loại sách vở đời trước để căn cứ, hoạch định một lần để cho rõ việc tuân theo lẽ thật”. Năm thứ ba, đình thần bộ Lễ tấu lên chuẩn việc quan địa phương Khánh Nguyên nước Triều Tiên bàn sửa sang lại việc phòng bị của quan lại hai nước với nhau, do có kẻ vượt sông Đồ Môn (58) sang đất Trạch Thiên Tích khai thác trái phép gỗ.

Tháng mười, Lý Biện hoăng, [vua] sai sứ đem sắc sang phong Lý Hy làm Triều Tiên quốc vương, [Hy] là cháu đời thứ chín của [Lý] Tông vậy. Năm thứ năm, hạm đội của nước Nga La Tư đến vùng Nguyên Sơn của Triều Tiên, đòi xin thông thương. Tháng chín, thủy sư đề đốc của nước Pháp Lan Tây là Lỗ Nguyệt (59) dẫn hạm đội xâm nhập sông Hán, pháo kích một số thuyền, phá hủy mất một pháo đài. Tháng mười [năm thứ năm], nước Pháp lại đến đảo Giang Hoa, tiến hãm thành trì ở đó, thu lấy bạc trị giá mười chín vạn phật lang (60). Triều Tiên tuyển mộ được tám trăm người dũng mãnh đi tập kích, [người Pháp] phải thoái lui. Trước đấy, [Triều Tiên] quốc vương Lý Hy tuổi nhỏ, sinh phụ là Đại viện quân Lý Hạ Ứng nắm giữ việc nước, thù ghét tôn giáo phương Tây, liền hạ lệnh nghiêm cấm, ngược đãi tín đồ Thiên Chúa giáo. Tới đây, nước Pháp mới rêu rao cái tội ấy [mà định ép nhượng bộ], nhưng cuối cùng không thu được kết quả gì. Hy dâng biểu mừng việc trước thần chủ của Văn Tông Hiển hoàng đế vào Thái miếu, xin cống phương vật, [vua] cho lưu lại vào chính cống. Sai sứ sắc phong chính thất của Hy là Mẫn thị làm Vương phi.

Tháng hai năm thứ bảy, bọn Thị lang Diên Hú dâng tấu nói về việc tiếp kiến ủy viên nước Triều Tiên, cùng với việc tra khám tình hình đại khái của hai cửa ải vùng biên là Phượng Hoàng, Ái Dương. Vua dụ cho Cung thân vương họp với các Đại học sĩ, cùng nhau thương nghị. Cung thân vương dâng tấu nói rằng: “Qua tra khám các địa phương mới thấy nhiều mẫu ruộng bị khai khẩn trái phép, phần lớn ruộng đất đều không bỏ hoang, nên vấn đề của Triều Tiên đều ở chỗ người vật đến sinh sống hỗn tạp. Muốn trừ bỏ cái tệ hỗn tạp, cần nhắm vào việc giới nghiêm biên cảnh”. [Cung] thân vương [cùng các đại thần] họp tiếp với bọn Diên Hú, Dịch Dung liệu bàn, nhất thiết triển khai việc biên giới cho đúng, rồi xin sức cho Thịnh Kinh tướng quân hội họp để xử trí tận gốc việc khám xét của bọn Diên Hú. Vua lập tức phái Diên Hú, Dịch Dung chạy ngựa trạm tới Phụng Thiên trước, họp cùng với Đô Hưng A xuất biên để tra biện. [Vua] xuống dụ: “Sự việc mới bắt đầu, tất phải nắm lấy những cái cốt yếu rồi mới đi vào những cái chi tiết. Huống chi trong việc giao thiệp với ngoại phiên, càng nên dùng chính lệnh để tuân theo cho rõ, thì mới có thể truyền tới các phương xa. Lần trước Diên Hú tiếp kiến sứ thần Triều Tiên, xử lý ứng đối đều rất minh bạch, cho đến việc gặp gỡ Quốc vương nước ấy đại thể cũng tỏ ra rất hiểu biết. Lập tức nêu lên cho bộ Lễ chuyển lời tới để Triều Tiên quốc vương được biết, chờ sau khi nghị bàn khám xét định xong, sửa sang nghiêm sức cho quan lại biên giới, nhất thể tuân thủ”.

Tháng chín năm thứ chín, Triều Tiên quốc vương báo rằng dân xã Nông Phố, phủ Khánh Nguyên nước ấy là Lý Đông Cát trốn sang địa phận Hồn Xuân, xây nhà khai khẩn ruộng đất, hô hào tụ tập bọn vô lại, nay khẩn xin truy nã để tra xét. Vua dụ Mẫn Phúc bí mật sức cho bọn Hiệp lĩnh [các địa phương] liên hệ với nhau, đuổi theo lùng bắt; bắt được toàn bộ, giải về giao cho nước họ trừng trị. Năm ấy, Triều Tiên có mưa đá to, trong nước mất mùa đói kém, người chết đầy đường, trong dân có kẻ mạo phạm trọng cấm, vượt sông Đồ Môn tới các địa phương thuộc đất Hồn Xuân để khất thực cầu sinh, [vua Triều Tiên] mới khẩn xin giúp đỡ cho lưu dân Triều Tiên vượt biên. Vua dụ Triều Tiên quốc vương, đốc thúc việc dẫn tất cả dân chúng quay về nước, tự mình thiết trí luật pháp để kêu gọi vỗ yên, nghiêm răn cấm lệnh, không được để đi theo thói cũ. Lại có thương thuyền nước Mỹ mắc cạn ở vùng phụ cận sông Đại Đồng nước Triều Tiên, người Triều Tiên gặp họ, tưởng nhầm là thuyền nước Pháp, liền mặc sức cướp bóc. Năm thứ mười một, Hy sai sứ dâng biểu mừng lễ Đại hôn và việc dâng thêm huy hiệu cho Lưỡng cung Hoàng thái hậu, cống phương vật. Năm ấy, thủy sư đề đốc nước Mỹ là Lao Trực Nhĩ Ty (61) dẫn hai hạm đội thiết giáp tới đảo Giang Hoa Triều Tiên bắn phá hai pháo đài, để báo thù vụ cướp bóc thương thuyền trước đấy. Năm thứ mười hai, Hy sai sứ dâng biểu mừng vua thân chính và việc dâng thêm huy hiệu cho Lưỡng cung Hoàng thái hậu, cống phương vật.

Năm Quang Tự thứ nhất, đội thuyền của nước Triều Tiên giúp đỡ quan binh của ta rút lui an toàn, [vua] thưởng cho Hy vải đoạn, Hy sai sứ sang tiến hương, mừng vua lên ngôi, xin cống phương vật, [vua] đều cho lưu lại vào chính cống. Trả lại Triều Tiên cống vật đã tiến dâng trong lễ Vạn thọ thánh tiết của Mục Tông Nghị hoàng đế, Đông chí, Nguyên đán các tiết, chiếu cho lưu lại vào chính cống [lần sau]. Hy lại xin phong Thế tử, cống phương vật. Vua y lời xin, nhưng lễ vật tiến hiến, chuẩn cho lưu lại vào chính cống. Lại sai sứ đem sắc sang phong Lý Chích là Triều Tiên quốc Vương thế tử. Lại ban dụ rằng: “Tá lĩnh Ân Bổng, Kiêu kỵ hiệu Tháp Long A tỉnh Phụng Thiên tiếp lĩnh việc áp giải cống vật lễ tiến hương của Triều Tiên vào ngày mùng ba tháng năm, tới ngày mùng năm tháng sáu mới bắt đầu khởi hành, tự tiện đổi sang đi bằng đường thủy, đã qua hai tháng mà chưa tới kinh, khó lòng đảm bảo không có sự gian trá. Nay tiến hành cách chức Ân Bổng, Tháp Long A, nêu lên cho bọn Sùng Thực tra xét rõ ràng, nghiêm túc tham biện”. Năm [Quang Tự] thứ hai, Hy dâng biểu mừng việc tôn thụy cho Mục Tông Nghị hoàng đế và Hiếu Triết Nghị hoàng hậu, lại dâng biểu mừng việc tôn huy hiệu cho Lưỡng cung Hoàng thái hậu, xin cống phương vật, [vua] đều cho lưu lại vào chính cống.

Năm ấy, Triều Tiên và Nhật Bản lập điều ước thông thương với nhau. Trước đấy vào năm Đồng Trị thứ mười một, Ngoại vụ khanh Nhật Bản là Phó Đảo Chủng Thần (62) tới Bắc Kinh bàn việc lập điều ước, mới thừa dịp cật vấn Tổng lý các quốc sự vụ nha môn (63) rằng: “Triều Tiên có phải là thuộc quốc [của quý quốc] hay không? [Nếu có thì] nên đại diện mà chủ trì việc thông thương này”. [Phía ta] trả lời: “Triều Tiên tuy là phiên thuộc [của Trung Quốc], song việc nội chính, ngoại giao, [Trung Quốc] đều để họ tự chủ lấy, bản triều xưa nay không dự biết”. Năm [Quang Tự] thứ nhất, Nhật Bản bèn dùng binh lực uy hiếp Triều Tiên, đột ngột phái quân hạm xâm nhập đảo Giang Hoa, bắn phá pháo đài, đốt cháy thành Vĩnh Tông (64), giết quân Triều Tiên, cướp đi nhiều khí giới. Lại biệt phái quân hạm trú đóng ở Phủ Sơn (65) để bức bách, cùng với phái trưởng quan khai thác sứ là Hắc Điền Thanh Long (66) làm Toàn quyền đại thần, nghị quan là Tỉnh Thượng Hinh (67) làm phó, sang Triều Tiên bàn lập điều ước. Tới nơi, định xong điều ước mười hai khoản, trong đó đại lược gồm các việc công nhận Triều Tiên là nước độc lập tự chủ, lễ nghị giao tiếp bình đẳng với Nhật Bản, phái sứ thần đi lại với nhau, mở hai cảng Nguyên Sơn, Nhân Xuyên (68) thông thương, và cho phép hạm đội Nhật khai thác đo đạc ở bờ biển Triều Tiên.

Năm thứ ba, Triều Tiên do vi phạm giao ước với người Pháp trong vấn đề với người Thiên Chúa giáo, mới nhờ [lực lượng] Nhật Bản trú đóng ở Phủ Sơn làm trung gian đứng ra điều đình, trong thư gọi Trung Quốc là “thượng quốc”, từ ngữ có chỗ dùng “thượng quốc Lễ bộ”, “nghe theo thượng quốc chỉ huy”. Nhật Bản hết sức trách cứ, nói rằng “Đã giao tiếp bình đẳng với nhau, hà cớ lại độc tôn Trung Quốc? Nếu Triều Tiên lệ thuộc Trung Quốc, ắt làm tổn hại đến quốc thể của Nhật Bản”. Triều Tiên báo lên việc ấy, Tổng lý nha môn gửi thư biện luận với Nhật Bản, đại lược rằng: “Triều Tiên lệ thuộc Trung Quốc đã lâu, nhưng mọi chính lệnh vẫn quy về tự xử lý lấy. Trước nước ấy vốn thuộc Trung Quốc, cả thiên hạ đều biết, nay là nước tự chủ, cả thiên hạ cũng đã biết, Nhật Bản sao lại cho là chỉ một mình mình biết?

Tháng bảy năm thứ năm, các Quân cơ đại thần giao dụ [của vua] cho Bắc Dương đại thần kiêm Tổng đốc Trực Lệ Lý Hồng Chương bí mật khuyên Triều Tiên nên cùng với các nước Thái Tây thông thương. Dụ rằng: “Tấu chương của Tổng lý các quốc sự vụ nha môn có đoạn nói: “Các nước Thái Tây muốn cùng Triều Tiên thông thương, việc ấy liên quan đến đại cục”. Nhật Bản và Triều Tiên, [hai nước] lâu ngày không được hòa thuận. Về sau Nhật Bản ỷ mình có trá lực, ép Triều Tiên phải nhượng bộ, các nước Tây dương khởi phát nối gót theo sau, đều nằm trong mưu tính cả. Các nước liên tục muốn Triều Tiên thông thương, ví phỏng [Triều Tiên] mượn cớ ấy để thông hiếu, lập ước, ngõ hầu có thể yên chuyện mà khỏi phải lo tính bên ngoài. Chỉ hiềm là nước ấy chính trị, giáo hóa luật lệnh nghiêm ngặt, gặp tình cảnh khó khăn lại không muốn vượt lên. Căn cứ theo tấu chương của Tổng lý nha môn, [mệnh] Lý Hồng Chương và sứ thần Triều Tiên là Lý Dụ Nguyên tăng cường trao đổi thông tin, trù tính xử lý công việc với nhau. Nếu có thể thừa lúc thuận lợi mà khai thông mở lối, khiến cho “vị vũ trù mâu” (69), ngầm yên được mối hại bên ngoài vậy”. Tháng chín năm thứ sáu, Hồng Chương tuân chỉ trù nghị việc võ bị Triều Tiên, cho phép Triều Tiên phái người tới Thiên Tân học tập chế tạo và thao luyện, mệnh Hải quan đạo Thiên Tân là Trịnh Tảo Như cùng với quan Triều Tiên là Biện Nguyên Khuê soạn thảo chương trình học cụ thể, làm thành tấu báo lên.

Tháng hai năm thứ bảy, Hồng Chương dâng tấu nói: “Ủy viên của Triều Tiên quốc vương là Lý Dung Túc đi theo đoàn cống sứ kỳ này tới kinh, nhằm ngày hai mươi tháng giêng đến Thiên Tân xin yết kiến, căn cứ theo tin tức, thì lần này tập trung vào việc học tập võ bị, lại đệ trình việc nước ấy xin một bản đề cương được phê chuẩn, có chép lại tấu chương của Lĩnh nghị chính là Lý Hạ Ứng, trong đó bắt đầu cho rằng việc kiên quyết cự tuyệt sứ nước Mỹ vào tháng sáu năm vừa rồi không phải là biện pháp tốt, cuối cùng nhận định: “Tình thế bây giờ, tốt hơn là nên vỗ về người phương xa để mà yên xã tắc”. Lại cùng Trung Quốc với các nước kết mối hòa hảo, lập điều ước, chương trình thông thương, chiếu theo quy định thu hồi thuế má. Quân ngạch nước ấy [chỉ Triều Tiên] toàn là số lượng khống, mà tiền lương cũng rất thiếu thốn, phải nói là không thể tự lập. Mà căn cứ vào hình thế [của Triều Tiên], thực [ở vào vị trí] án ngữ với Đông Tam Tỉnh (70), quan hệ hết sức quan trọng. Hiện tại vua quan nước ấy mặc dù đột nhiên thay đổi chính sách, có ý liên lạc với ngoại quốc, nhưng người trong nước nghị luận còn phân hóa, khó mà quyết định nhanh được, nên phải thừa dịp mở lòng thành mà hiểu dụ dân chúng, mới có thể mong phá được thành kiến ấy, giữ vững phên giậu cho nước ta. Chỉ có điều nước ấy việc ngoại giao ở vào lúc sơ khởi, đã cùng với Nhật Bản thông thương được năm năm, còn chưa đặt quan thu thuế, nên không biết thuế ngạch nặng nhẹ ra sao. Nay tái thiết cùng các nước phương Tây kết thành giao ước, thế tất bị chèn ép, không được ích gì chỉ thêm tổn hại. Thần nhận lệnh sang Tây dương học tập giao thiệp, cùng với bọn Đạo viên là Mã Kiến Trung, Trịnh Tảo Như, tham khảo, xem xét thời thế hiện nay cùng với thông lệ các nước đông tây, mới khởi soạn bản thảo chương trình thông thương giữa Triều Tiên với các nước, để làm kế giữ cái lợi phòng cái hại trước, giao cho Lý Dung Túc mang về, cho nước ấy biết mà căn cứ làm theo. Bên cạnh việc tuân thủ các điều lệ có trong đề cương, duy chỉ có việc xưng vị trong phúc đáp quốc thư Nhật Bản, nếu hàm ý có chút hỗn loạn, tức là phương hại đến thể lệ nước ấy [chỉ Nhật Bản] vậy. Thần xem các nước Tây dương xưng đế xưng vương, không dựa theo phép tắc nào, quan trọng là bình đẳng tương giao. Triều Tiên quốc vương nhận sách phong của ta từ lâu, nay trong việc hồi đáp thư từ của Nhật Bản và các nước khác, nên lệnh vẫn dùng phong hiệu như cũ. Việc nước tuy do họ tự chủ lấy, nhưng vẫn không làm mất cái tiếng là thuộc quốc của Trung Quốc vậy”. Bộ Lễ nghị bàn, chuẩn các việc học tập chế tạo khí giới và luyện binh của Triều Tiên, cấp phát chứng từ, theo đường biển trực tiếp đến Thiên Tân, nhanh chóng tiến hành theo kỳ hạn; còn cống sứ tới kinh, vẫn theo định lệ như cũ mà xử lý. Trước kia vào những năm đầu niên hiệu Quang Tự, ở Ngạc Đa Lý (71) thuộc Cát Lâm khai khẩn ruộng hoang, các địa phương nằm giữa đất Lục Đạo Câu với đất Mậu Sơn của Triều Tiên đối diện qua biên giới có người Triều Tiên giả mạo lệnh cấm khai khẩn ruộng đất, dần dần lan truyền ra. Tới đây, Cát Lâm tướng quân Minh An, Đốc biện biên phòng là Ngô Đại Trừng dâng tấu nói: “Căn cứ vào việc ủy viên Triều Tiên Lý Kim Dung bẩm báo chuyện chiêu mộ khai khẩn ruộng đất, ở bờ phía bắc sông Thổ Môn, từ dưới sông Kiết Nha (72) tới các trấn của Triều Tiên (73) ước chừng hai trăm dặm, qua tám địa phương đều bỏ hoang cả, trước có sông nước, sau có núi non bao bọc, xưa nay đều không có người sinh sống, cách đất Triều Tiên chỉ qua một con sông. Dân vùng biên nước ấy thường xuyên bị thủy tai, nhiều năm liên tiếp mất mùa đói kém, đất đai không thể trồng trọt canh tác được, nên họ liên tục vượt sông [vào nội địa] khai khẩn ruộng đất, tới nay đã dưới hai nghìn thưởng (74), tính ra tới mấy nghìn người bần cùng đến nhờ cậy để kiếm sống. Thứ sử đạo Hàm Kính của Triều Tiên đã cấp phát giấy phép, thông báo việc phân loại, đăng ký [trong dân chúng]. Bọn thần xét thấy Cát Lâm nằm liền sát với Triều Tiên, xưa nay đều lấy sông Thổ Môn làm ranh giới. Nay dân nghèo Triều Tiên khai khẩn đất bỏ hoang ở bờ bắc [sông Thổ Môn], là vì Cát Lâm quản lý việc biên cảnh không cương quyết. Đất đai khoáng sản ở biên giới, há lại có thể dung túng cho ngoại phiên tự tiện xâm chiếm? Chỉ hiềm nỗi những hộ dân Triều Tiên sang nhờ cậy cư trú, khai khẩn trồng trọt đã mấy năm, số người cũng đã tới mấy nghìn rồi. Nếu chiếu theo luật lệ, nghiêm việc thực hiện trục xuất họ khỏi biên giới, e rằng sẽ làm những kẻ khốn cùng không nơi nương tựa đồng thời thất vọng. Thực rất đáng thương xót, [vì vậy bọn thần] dự tính xin sức cho bộ Lễ, gửi công văn báo rõ cho Triều Tiên quốc vương, phái quan viên họp cùng với ủy viên Cát Lâm tra khám xác minh, hoạch định rõ ràng ranh giới. Nhân dân nước ấy, có hộ khẩu cư trú tạm thời, vì mục đích khai khẩn ruộng hoang, khẩn xin gia ơn, cho phép kiểm tra, chiếu theo quy định cũ của Cát Lâm, mỗi thưởng ruộng bỏ hoang sẽ phải ký nộp hai nghìn một trăm đồng tiền, mỗi năm mỗi thưởng phải hoàn lại cho chủ đất sáu trăm sáu mươi đồng tiền tô, do thần Minh An sức các ty cấp lĩnh giấy phép, hạn lệnh vào cuối mùa đông mỗi năm ứng giao tiền tô, về các vùng phụ cận cho tới Hồn Xuân, sẽ do một ủy viên phụ trách việc khẩn hoang, chiếu lệ thu nạp. Nếu nước ấy đang vào lúc đúc tiền, không thể xuất [tiền] khỏi biên cảnh [cho dân tị nạn], [bọn thần] nghị bàn nên lệnh dùng trâu bò để nộp tô, cũng là để tỉnh Cát Lâm có thể chi dùng vào việc khẩn hoang. Còn về giấy phép do Thứ sử đạo Hàm Kính đã cấp [khi trước], nay sức lệnh thu hồi tiêu hủy”. Vua nghe theo.

Tháng mười hai, Hồng Chương dâng tấu nói: “Tháng giêng năm nay, Tổng lý nha môn nhiều lần nhận công hàm của đại thần xuất sứ sang Nhật Bản là Hà Như Chương, thuật lại việc Triều Tiên mấy ngày vừa qua dần dần biết thay đổi chính sách, lập điều ước thương mại với nước Mỹ, thỉnh cầu Trung Quốc đại diện chủ trì. [Thần] dự định nhân đó linh hoạt thay đổi chế độ cũ, từ nay về sau nếu Triều Tiên có việc trọng yếu trong quan hệ với các nước Tây dương, sẽ do Bắc Dương đại thần và đại thần xuất sứ Nhật Bản cùng với nước ấy chuyển giao văn hàm qua lại, xem xét thời cơ khai thông đường lối, phụng chỉ hồi báo. Thần thấy Triều Tiên làm ngoại phiên từ lâu, hình thế thực án ngữ Đông Tam Tỉnh, khác hẳn với Lưu Cầu xa xôi cô lập ngoài biển. Nay Nhật Bản đã diệt Lưu Cầu, nước Pháp lại chiếm lấy Việt Nam (75), sáu tỉnh ven biển (76) Trung Quốc ở vào cái thế roi dài không đánh tới bụng ngựa (77). Nay phiên thuộc của ta, chỉ còn Triều Tiên là thân thiết nhất. Nhật Bản ép buộc [Triều Tiên] thông thương, lại không cho định lệ thu thuế, là vì khi trước [Triều Tiên] không chịu ký kết một điều ước thỏa đáng với nước Mỹ, để bây giờ Triều Tiên thế khó cô lập, các nước yêu sách không ngừng. Sự an nguy của phương đông, quan hệ với đại cục vậy. Trung-Triều ngày nay không cần nhất thiết lộ rõ thái độ, vì thế nên thôi việc thân gần lẫn nhau, song tùy vào thời thế, cũng không thể không duy trì che chở, giúp đỡ nhiều mặt được”.

Tháng ba năm thứ tám, Triều Tiên bắt đầu cùng nước Mỹ bàn lập điều ước, xin [Trung Quốc] cùng tham gia kết minh. Hồng Chương dâng tấu phái Đạo viên Mã Kiến Trung, Đề đốc thống lĩnh thủy sư là Đinh Nhữ Xương, dẫn ba tàu Uy Viễn, Dương Uy, Trấn Hải, vượt biển sang phía đông hội cùng với Toàn quyền đại thần nước Mỹ là Tiết Bùi Nhĩ (78). Ngày mùng sáu tháng tư, định xong điều ước, sứ Mỹ Tiết Bùi Nhĩ cùng với quan Triều Tiên đến nghị ước là Thân Táp, Kim Hoành Tập kết minh ở Tế Vật Phố (79), Nhữ Xương, Kiến Trung đứng ra thị sát. Ngày mười bốn, bồi thần Lý Ứng Tuấn đem văn bản điều ước Mỹ-Triều cùng với thư tín gửi nước Mỹ trình đại biểu các đại thần bộ Lễ và Bắc Dương đại thần. Không lâu sau, sứ nước Anh là thủy sư đề đốc Vi Lực Sỹ (80), lãnh sự Pháp trú ở Thiên Tân là Địch Long (81), sứ nước Đức là Ba Lan Đức (82) nối nhau sang Triều Tiên, Kiến Trung đều giúp đỡ, theo lệ đã làm với nước Mỹ mà lập điều ước. Chiến tranh nổ ra, Nhật Bản lại sai quân lũ lượt tới thăm dò việc lập ước, công sứ Nhật trú ở Triều Tiên là Hoa Phòng Nghĩa Chất (83) thường truy hỏi về văn bản điều ước, Triều Tiên không hồi đáp việc ấy; [người Nhật] bèn gạn hỏi Kiến Trung, Kiến Trung giữ kín không cho biết, người Nhật mới sinh lòng bất mãn.

Tháng sáu, quân phiến loạn của Đại viện quân nước Triều Tiên là Lý Hạ Ứng xâm nhập vương cung, giết hại đại thần chấp chính, lại giết cả Vương phi là Mẫn thị (84), ép vua Triều Tiên cùng Thế tử không được phép giao tiếp với quan lại trong triều, đốt cháy sứ quán Nhật Bản, làm chết người huấn luyện quân đội Triều Tiên là Quật Bản Lễ Tạo (85) cùng bảy người dưới quyền. Sứ Nhật Hoa Phòng Nghĩa Chất khó khăn lắm mới quay về được nước. Lúc đó Kiến Trung, Nhữ Xương đều về nước, Hồng Chương lo lắng, cử Trương Thụ Thanh tạm giữ chức Bắc Dương đại thần, đánh điện lệnh Kiến Trung hội cùng Nhữ Xương dẫn ba tàu Uy Viễn, Siêu Dũng, Dương Uy sang phía đông theo dõi sự biến. Ngày hai mươi mốt, đến Nhân Xuyên, đóng ở đảo Nguyệt Vĩ, đã thấy thiếu tướng Nhật Bản là Nhân Cảnh Lễ Phạm (86) dùng Kim cương hạm (87) vượt lên trước. Thần dân Triều Tiên hoảng sợ, mong mỏi viện binh Trung Quốc tới gấp. Kiến Trung báo thư cho Thụ Thanh, xin quân trợ giúp: “Nhanh chóng tiến vào vương kinh [Triều Tiên] bắt giữ bọn đầu nghịch, để trì hoãn lâu ắt càng khiến người Nhật được thế lấn lướt, làm tổn hại đến quốc uy, thất thố trước phiên thuộc sách phong”. Nhữ Xương cũng vượt biển về xin thêm quân.

Ngày mùng ba tháng bảy, hạm đội quân Nhật nối nhau tới Nhân Xuyên, lục quân cũng đổ bộ lên bờ biển, chia ra chiếm đóng Nhân Xuyên, Tế Vật Phố (88), Hoa Phòng Nghĩa Chất lại dẫn quân xâm nhập vương kinh [Triều Tiên]. Ngày mùng bảy, quân hạm Trung Quốc là Uy Viễn, Nhật Tân, Thái Tây, Trấn Đông, Củng Bắc kế tiếp nhau hai lần chở quân, gồm tất cả bảy tàu. Bởi vì Thụ Thanh nghe tin Triều Tiên xảy ra biến loạn, mới mệnh Đề đốc Ngô Trường Khánh cùng quân bản bộ ba nghìn người viện trợ, cho phép tùy nghi hành sự, quân chuyển đến kinh sư, tới ngày này thì đổ bộ. Ngày thứ mười ba, Trường Khánh, Nhữ Xương, Kiến Trung vào thành chờ Lý Hạ Ứng, giảm bớt tùy tùng hộ vệ, Hạ Ứng tới báo yết, bèn bắt lấy, giải về Thiên Tân, nhưng còn bọn loạn đảng vẫn chiếm giữ sào huyệt. Rạng sáng ngày mười sáu, doanh quan là bọn Trương Quang Tiền, Ngô Triệu Hữu, Hà Thừa Ngao đánh úp Uổng Tầm Lý thuộc Thành Đông, bắt giữ hơn một trăm năm mươi người, Trường Khánh lại tự [dẫn quân] tới Thái Lợi Lý (89), truy bắt được hơn hai mươi người nữa, loạn đảng đến đây được bình.

Sứ nước Nhật là Hoa Phòng Nghĩa Chất vào vương kinh [Triều Tiên], nói việc [Triều Tiên] đốt sứ quán, trục xuất sứ thần, thực là bức bách quá đáng, cho rằng không thể cùng quan hệ được nữa. Nghĩa Chất lại dùng lời nói xúc phạm, [triều đình] hồi đáp, cương quyết cự tuyệt. Triều Tiên sợ hãi, giúp Kiến Trung lưu lại Nhân Xuyên, phái Lý Dụ Nguyên làm Toàn quyền đại thần, Kim Hoành Tập làm phó, tới Nhân Xuyên họp bàn, cuối cùng đồng ý bồi thường năm mươi đồng tiền vàng, mở điểm giao thương ở trấn Dương Hoa, mở rộng đường đi tới các khu vực Nguyên Sơn, Phủ Sơn, Nhân Xuyên, đóng quân ở vương kinh, cả thảy tám điều, bí mật lập thành giao ước. Từ đấy bộ thuộc của Trường Khánh liền ở lại trấn giữ Triều Tiên.

Đương khi Lý Hạ Ứng bị bắt đưa về Thiên Tân, vua mệnh [Hạ Ứng] đợi Lý Hồng Chương tới Thiên Tân, hội cùng với Trương Thụ Thanh, tiến hành tra rõ đối với Lý Hạ Ứng về nguyên nhân việc biến loạn và ghi lại danh sách loạn đảng, thuật lại vào tấu báo lên. Việc xong, mới rõ Lý Hạ Ứng là sinh phụ của [Triều Tiên] quốc vương, cầm quyền chính trong mười năm. Tới lúc [Triều Tiên quốc] vương lớn tuổi thân chính, Vương phi Mẫn thị trọng dụng ngoại thích, mới bớt đi quyền của Hạ Ứng, Hạ Ứng sinh lòng oán vọng. Đầu tháng sáu, Mẫn Khiêm Hạo (90) nắm việc phân phát tiền lương cho quân đội, gạo không đủ hộc, binh lính cùng với sai dịch ai nấy đều ca thán, Khiêm Hạo lại bắt giam binh sĩ năm người, đem ra chính pháp, bọn quân lính chạy đến tố cáo với Hạ Ứng, rốt cục sinh biến. Ngày mùng chín, [Hạ Ứng] giết bọn Mẫn Khiêm Hạo, Kim Phụ Huyền, Lý Tối Ứng, Hạ Ứng vào cung hiểu dụ các quân, tự xưng là Quốc thái công, nắm hết quyền chính cả nước, nhưng lại không truy bắt trừng trị bọn loạn đảng kia. Hồng Chương dâng tấu nói: “Biến loạn lần này, tuy do binh lính hết lương mà ra, song bọn loạn quân đều thân chạy tới chỗ Hạ Ứng tố cáo, nếu quả thật dùng lời chính ngôn mà mở lối, thì biết đâu lại yên được đại nạn. Đình thần Triều Tiên cũng đều chịu để cho Hạ Ứng kích động mà gây biến. Ví thử không có kẻ đứng ra bảo đảm thì làm sao loạn quân vây đánh cung cấm, Vương phi gặp nạn mà đại thần cũng bị hại, khí thế hung bạo không gì ngăn nổi. Lý Hạ Ứng nếu đã có khả năng ổn định chính sự sau loạn, chẳng lẽ lại không biết một việc trừ bỏ mầm loạn ở đâu? Huống chi lại thừa dịp nguy ngập mà chiếm giữ quyền bính đã hơn một tháng. Cái nghĩa Xuân Thu, không ở việc dẹp giặc, mà ở chỗ một lời nói ra muốn nên việc lớn (91), thì khó tránh cảnh trăm miệng đua tranh. Nếu phóng thích [Hạ Ứng] trở về bản quốc (92), chẳng bao lâu gian đảng lại cấu kết xúi giục, gây thành oán ác, mầm loạn nảy nở, tất thành hậu hoạ. Xem lại sử lược Triều Tiên, vua Cao Ly thời Nguyên nhiều đời cha con đều có tranh chấp. Vào những năm Diên Hựu (93), vua Cao Ly là [Vương] Nguyện đã lên làm Thượng vương, truyền ngôi cho con là [Vương] Đảo, vẫn nghe lời xúi giục mà làm loạn, hoàng đế nhà Nguyên phải đày Nguyện đến Thổ Phiên (94), an trí ở đấy, đã có tiền lệ. Lại vào những năm Chí Nguyên (95), con của Đảo là Trung Huệ vương tên là [Vương] Trinh, cũng bị hoàng đế nhà Nguyên đày đi huyện Yết Dương (96), lúc ấy Cao Ly trong nước bình yên vô sự, mà [Trinh] phải chịu sống trong cảnh lén lút trốn tránh, bị đày đến nơi xa xôi hoang địa. Nay Lý Hạ Ứng không chịu tôn phù thống nghiệp truyền đời, cơ hồ có tội làm nguy hại đến xã tắc, so với Nguyện, Trinh tình tiết còn nặng hơn. Vậy mới nghĩ rằng trong quan hệ người người, cha con, nước nhà, không thể không trù tính xem xét. Nếu được gia ơn, xin ban sắc cho bọn hạ thần đem Lý Hạ Ứng an trí tại tỉnh thành Bảo Định (97) gần kinh sư, vĩnh viễn không được quay về bản quốc, ưu đãi cấp cho bổng lộc, ra vào đều phải kiểm tra, nghiêm cấm lơi là canh gác, nhưng cho phép phái viên của [Triều Tiên] quốc vương đến thăm hỏi, để tỏ lòng an ủi vỗ về. Nguyên nhân hai lần nước ấy gặp họa loạn, cũng bởi vì trong kỷ cương luân thường có biến vậy”. Vua đồng ý với lời ấy, bèn giam Hạ Ứng tại dinh sở đạo Thanh Hà (98) thuộc Bảo Định.

Năm ấy, Hồng Chương dâng tấu định chương trình thông thương với Triều Tiên, gồm tám điều: Thứ nhất, do Bắc Dương đại thần gửi công văn phái ủy viên thương vụ tới trú đóng, phía Triều Tiên cũng phái đại diện trú tại Thiên Tân để quản lý thương vụ; Thứ hai, các vụ án phạm tội liên quan đến tài sản của thương nhân Triều Tiên tại Trung Quốc, đều do quan địa phương thẩm đoán, tuân theo lệ cũ trong hội điển; Thứ ba, các đạo Bình An, Hoàng Hải cùng với các địa phương ven biển thuộc các tỉnh Sơn Đông, Phụng Thiên, giám sát thuyền cá hai nước qua lại đánh bắt, không được buôn bán hàng hóa trái phép, kẻ nào vi phạm phải giao nộp thuyền và hàng cho quan sở tại; Thứ tư, cho phép thương nhân hai nước vào nội địa chọn lựa và buôn bán thổ sản, chiếu theo quy định mà nộp thuế theo lãi suất; Thứ năm, sửa sang lại rào chắn ở bờ sông Áp Lục đối diện với hai xứ Hồn Xuân và Hội Ninh, giám sát biên dân giao dịch qua lại, lập trạm thu thuế, bãi trừ các loại phí liên quan đến lương thực, nhà cửa quán xá; Thứ sáu, định rõ các mặt hàng nghiêm cấm, trong đó hồng sâm là hạng nhất, chiếu theo lệ cho phép tiêu thụ, tùy theo tình hình mà tiến hành thu thuế; Thứ bảy, phái thuyền của cục Chiêu thương đi lại giữa hai bên, định kì mỗi tháng một lần, phí tổn không quy định mà sẽ cùng với chính phủ Triều Tiên thương lượng; Thứ tám, nếu [Triều Tiên] dự tính gặp phải hoàn cảnh phát sinh tổn hại, có thể tùy thời điểm mà xử lý thương vụ. Bộ Lễ tấu lên, chuẩn cho đình chỉ việc giám sát giao dịch ở các địa phương Khánh Nguyên, Hội Ninh, nếu luân chuyển kỳ hạn giao dịch của Hội Ninh tới năm nay, e rằng thương nhân xứ ấy không có quan lại đôn đốc, dễ sinh sự lạ, nên do phái viên thân cận của Thịnh Kinh tướng quân, Phủ doãn Phụng Thiên, Cát Lâm tướng quân họp cùng với quan Triều Tiên, kinh lý cho thỏa đáng. Hy dâng biểu mừng việc rước thần chủ của Hiếu Trinh Hiển hoàng hậu vào Thái miếu, cung tiến cống vật cho Từ Hy Hoàng thái hậu. Năm thứ chín, Hy dâng biểu mừng việc dâng tôn thụy cho Hiếu Trinh Hiển hoàng hậu, lại cung tiến cống vật cho Từ Hy Hoàng thái hậu, lại tạ ơn việc [triều đình] xuất binh viện trợ dẹp trừ loạn đảng và phái binh bảo vệ [Lý Hạ Ứng] mà xin cống phương vật, [vua] cho lưu lại vào chính cống.

Năm thứ mười, đảng Duy tân của Triều Tiên làm loạn. Ban đầu, từ sau khi Triều Tiên tự lập điều ước thông thương, trong nước tân tiến thường sinh lắm việc nhiễu động, có tổ chức hiệu là “đảng Duy tân”,  còn chính phủ [Triều Tiên] gọi là “đảng Thủ cựu”,  thủy hỏa khắc nhau. Thủ lĩnh đảng Duy tân là Kim Ngọc Quân, Hồng Anh Thực, Phác Vịnh Hiếu, Từ Quang Phạm, Từ Tái Bật, tiến hành mưu sát đại thần chấp chính. Năm người đó thường sang Nhật Bản, gần gũi với người Nhật, có ý muốn dựa vào ngoại viện [từ Nhật Bản]. Tháng mười một năm thứ mười, [Triều Tiên] mời Tổng biện thương vụ Trung Quốc, công sứ các nước cùng quan Triều Tiên ăn uống ở sở bưu chính, đó là nhằm vào lúc Anh Thực đang làm chức Tổng bưu chính [Triều Tiên]. Ngày hôm đó, quân Nhật đóng ở Triều Tiên vận chuyển súng pháo đạn dược vào sứ quán Nhật. Đến buổi chiều, khách đều tới đủ, duy chỉ có mỗi sứ Nhật là Trúc Thiêm Tiến Nhất Lang (99) là không tới. Tiệc vừa xong liền phát nổ, loạn đảng xâm nhập, làm thương Đại tướng quân cấm vệ nước ấy là Mẫn Vịnh Dực và chết một số người Triều Tiên tại chỗ, khách nước ngoài đều cả kinh chạy trốn. Nửa đêm, quân đội Nhật Bản xếp hàng trước cổng vào cung Cảnh Hựu, Kịm Ngọc Quân, Phác Vịnh Hiếu, Từ Quang Phạm vào thẳng tẩm điện, bắt giữ vua [Triều Tiên], nói thác là quân đội Trung Quốc đang tới, đổi lệnh nhanh chóng mời Nhật Bản vào hộ vệ. Sáng ngày mười tám, giết phụ quốc [đại thần] là Mẫn Đài Hạo, Triệu Ninh Hạ, Tổng quản hải phòng là Mẫn Vịnh Mục, Tả doanh sứ Lý Tổ Uyên, Tiền doanh sứ Hàn Khuê Tắc, Hậu doanh sứ là Doãn Thái Tuấn; còn loạn đảng tự mình sắp đặt quan chức, Anh Thực làm Hữu tham chính, Ngọc Quân làm Hộ tào Tham phán, Vịnh Hiếu làm Tiền doanh sứ, Quang Phạm làm Tả hữu doanh sứ, Tái Bật làm Tiền doanh chính lĩnh quan, rồi nghị việc phế lập.

Việc nghị bàn chưa quyết, đã có quân cần vương nổi lên. Ngày mười chín, thần dân Triều Tiên xin Trường Khánh bình loạn. Trường Khánh đòi sứ Nhật triệt quân, tới chiều vẫn không đáp. Thần dân nước ấy cố sức thỉnh cầu Trường Khánh đem quân vào vương cung. Tới cửa khuyết, quân Nhật tập trung ở cửa Phổ Thông nổ súng. Trường Khánh nghi ngờ [Triều Tiên] quốc vương đang ngụ trong cung, Quốc vương hoảng sợ, chưa kịp đánh trả lại thì quân Nhật dùng súng liên thanh bắn chết quân Trung Quốc rất nhiều, rồi tiến lên giao chiến ở ngoài cửa cung. Quốc vương thừa dịp trốn vào sau miếu Bắc Quan, bị quân Trung Quốc tìm thấy, liền đem Quốc vương về giữ ở trong quân doanh, chém Hồng Anh Thực cùng đồ đảng bảy người chết theo, Vịnh Hiếu, Quang Phạm, Tái Bật chạy sang Nhật Bản. Sứ nước Nhật tự hủy dinh thự, trốn về Tế Vật Phố, dân Triều Tiên càng thêm thù ghét người Nhật. Trường Khánh lại bảo vệ các quan lại, thương nhân cùng vợ con rời khỏi vương kinh.

Triều Tiên thảo sớ thông báo về sự biến, vua mệnh Ngô Đại Trừng làm Triều Tiên biện sự đại thần, Tục Xương làm phó, giao nhiệm vụ trù tính việc Triều Tiên sao cho tốt. Nhật Bản cũng phái Toàn quyền đại thần Tỉnh Thượng Hinh tới Triều Tiên, sáu chiếc quân hạm, lại mang theo lục quân đổ bộ lên Tế Vật Phố, yêu cầu Triều Tiên thực hiện năm điều: Thứ nhất, soạn thư tạ tội [với Nhật Bản]; Thứ hai, bồi thường hai mươi vạn đồng tiền cho các nạn nhân Nhật Bản bị thiệt hại; Thứ ba, xử cực hình đối với hung thủ sát hại đại úy Ki Lâm Chân Tam (100); Thứ tư, xây dựng lại sứ quán Nhật Bản, Triều Tiên phải xuất hai vạn quan tiền chịu làm phí tổn; Thứ năm, Nhật Bản tăng cường quân đội đóng tại vương kinh, Triều Tiên đảm nhiệm việc bố trí cho quân Nhật phòng vệ. Triều Tiên tất cả đều theo mệnh, lập thành điều ước.

Tháng giêng năm thứ mười một, Nhật Bản phái Cung nội đại thần Y Đằng Bác Văn (101), Nông thương vụ đại thần Tây Hương Tùng Đạo (102) tới Thiên Tân, nghị bàn về điều ước của Triều Tiên. Vua mệnh Lý Hồng Chương làm Toàn quyền đại thần, Ngô Đại Trừng làm phó, cùng tham gia nghị bàn. [Vua] xuống dụ rằng: “Sứ thần Nhật Bản tới Thiên Tân, Lý Hồng Chương đã quen thuộc tình hình giao thiệp với nước ngoài, tất biết cách tùy nghi mà trù tính thỏa đáng. Lần này loạn đảng Triều Tiên sinh sự, bọn Đề đốc Ngô Triệu Hữu xử trí không có gì là không hợp lý. Trước căn cứ vào công điện của Từ Thừa Tổ có nói, người Nhật muốn dùng vũ lực áp chế ta ở Triều Tiên, quyết không thể miễn cưỡng tuân theo ý họ. Các lễ tiết, sự vụ thương nghị tới đây, phải châm chước thời cơ mà ứng biến, cùng họ biện luận, tùy thời điểm mà lĩnh chỉ tuân hành”. Tháng ba, điều ước làm xong, Hồng Chương dâng tấu nói: “Sứ Nhật là Y Đằng Bác Văn vào ngày mười tám tháng hai đến hành quán hội nghị, liền đòi gặp mặt Ngô Đại Trừng và Tục Xương. Sứ thần yêu cầu ba việc: Thứ nhất, rút hết quân đội Trung Quốc về nước; Thứ hai, nghị xử tướng lĩnh cầm quân; Thứ ba, bồi thường cho nạn dân. Thần thấy trong ba việc chỉ có một việc rút quân là có thể chấp nhận hơn cả. Quân ta vượt biển viễn chinh, vốn không phải tính kế lâu dài, mà thực ra là muốn đợi loạn ở Triều Tiên cơ bản được dẹp yên, sẽ tấu xin rút về. Huống chi quân Nhật trú đóng ở Hán Thành, danh nghĩa là hộ vệ sứ quán, nay lại vào lúc này tới xin, chính là có thể nhân dịp này mà lệnh rút quân vậy. Song Nhật Bản từ lâu đã xem Triều Tiên là nước tự chủ, không muốn Trung Quốc can thiệp, cho nên ý muốn của họ không phải ở việc tạm thời bỏ việc phòng vệ [Triều Tiên] mà là muốn rút quân vĩnh viễn. Nếu vĩnh viễn không phái quân trú tại Triều Tiên, gặp lúc vô sự thì vẫn có thể yên ổn, vạn nhất người Triều Tiên hoặc có nội loạn, hoặc bị láng giềng ức hiếp xâm đoạt mà Trung Quốc khi đó không thể không can thiệp, lại không thể không cân nhắc xử trí cho cẩn thận được. Y Đằng [Bác Văn] vào ngày hai mươi mốt tự định năm điều đưa cho thần duyệt khán, điều thứ nhất là tuyên bố rõ hai nước từ nay về sau đều không được phép phái quân, lập trại bên trong nước Triều Tiên, phải nghiêm túc tuân thủ việc ấy. Thần thêm chú ý vào điều thứ hai, nếu nước họ (Nhật Bản) và Triều Tiên, hoặc có chiến tranh, hoặc Triều Tiên có sự tình phản loạn, thì không tính vào điều khoản trước. Y Đằng [Bác Văn] thấy có nói đến phản loạn, kiên trì không chấp nhận, cuối cùng cũng miễn cưỡng bỏ qua. [Thần] lại phụng điện chỉ ngày mùng một tháng ba: “Việc rút quân có thể cho phép, nhưng không phái quân sang thì không thể cho phép”. Vạn bất đắc dĩ, từ việc ở điều thứ hai thêm câu: “Hai nước gặp lúc Triều Tiên có sự biến trọng đại, có thể phái quân, thông báo lẫn nhau” cho tới việc huấn luyện binh bị đều sửa câu chữ thành hai nước cùng không phái quan viên làm đoạn kết”. Thần lại kính cẩn tuân theo ý chỉ, cùng với Y Đằng thương lượng lại bốn lần, mới đem năm điều trước khi bàn nghị đổi thành ba điều. Điều thứ nhất, quyết định thời điểm hai nước rút quân; Điều thứ hai, Trung-Nhật cùng nhau không phái quan viên sang Triều Tiên huấn luyện [quân sự]; Điều thứ ba, Triều Tiên có sự kiện biến loạn trọng đại, hai nước hoặc một nước có thể yêu cầu phái quân sang, nhưng phải làm văn bản thông báo cho nhau trước, tới lúc việc được định xong, lập tức rút quân, không tái diễn việc lưu lại phòng thủ.  [Thần] châm chước câu chữ, kiểm tra rà soát lại đã bốn lần, tới đây mới định xong việc nghị bàn. Triều đình đoái nghĩ tới cõi Đông phiên, gặp cảnh người Nhật ngầm cất quân tập kích Triều Tiên, như sét đánh không kịp che tai, cho nên mới không tiếc tổn thất mà chu cấp úy lạo quân sĩ, vượt biên cương chinh chiến nơi xa. Nay đã có giao ước tuyên bố giữa hai bên, nếu về sau Nhật Bản dùng binh, ta sẽ tùy theo tình thế mà có sự chuẩn bị. Nếu các nước phương Tây xâm đoạt đất đai của Triều Tiên, ta cũng có thể phái quân viện trợ đến hội nghị thương lượng, việc ấy không tổn hại đến lòng yêu thương, che chở nước nhỏ của Trung Quốc, mà cũng có ích cho đại cục của Triều Tiên vậy. Về hai việc nghị xử tướng lĩnh cầm quân và bồi thường nạn dân, đều không hợp tình lý gì, lại chẳng có chứng cứ, vốn có thể bỏ qua, không xử lý đến. Chỉ hiềm là Y Đằng nói điều thứ hai không định biện pháp, thì không lấy gì để về chịu mệnh vua, lại không lấy gì để xoa dịu sự phẫn nộ của công chúng, sự việc liên quan cũng xem như thực tình. Song quân ta bảo hộ phiên thuộc, danh chính ngôn thuận, lòng thành như trong thánh dụ truyền xuống có nói: “đề đốc xử trí không có gì là không hợp lý…quyết không thể miễn cưỡng tuân theo ý họ”. Nhân đây nghĩ tới Khánh quân trú ở Triều Tiên, vốn là bộ thuộc của thần (103), xin hãy cứ để cho thần truyền hịch răn bảo, để làm sáng rõ việc bản thân xuất quân, đối với nước khác không hề can thiệp. Ví như con em trong nhà tranh đấu với nhau, thì phụ huynh phải ra mặt điều đình, xưa nay là chuyện thường tình. Việc Y [Đằng Bác Văn] trình báo các khẩu cung, nói rằng quân Trung Quốc giết hại cướp bóc dân Nhật Bản, khó lòng đảm bảo không có chuyện lời lẽ vay mượn [từ chỗ khác]. Song nước ấy đã lấy xong khẩu cung, thì [ta] có thể chính thức thu thập lại để truy xét điều tra. Nếu tra rõ ra sự thật có doanh, có quân trên đường sinh sự, có chứng kiến xác nhận, sẽ định chiếu theo quân pháp nghiêm trị, nếu rõ là vô tư, tuyệt không thể bàn chuyện bồi thường. Hai điều nói trên, tức do thần đối chiếu với Y Đằng [Bác Văn], mới khiến sự việc xoay chuyển như bây giờ. Cuối cùng vào giờ Thân ngày mùng bốn, hai bên đều tề tựu ở công sở, đem từng điều một lần lượt rà soát lại kỹ lưỡng, cùng nhau đem ấn đóng dấu, mỗi bên một bản làm căn cứ. Nay cẩn thận đem văn bản điều ước niêm phong đưa đến Quân cơ xứ, tiến trình ngự lãm, cung kính chờ phê chuẩn. Bọn thần phụng theo kế hoạch của triều đình, nhiều lần tranh biện, may mắn không làm hỏng việc lớn. Sau này hai bên triệt binh, vĩnh viễn ngừng sự tranh giành, để Triều Tiên sửa sang võ bị, chỉnh đốn quân sự, đường lối dần dần củng cố, ắt không còn làm tổn hại đến mối hòa hảo hai nước Trung-Nhật, hi vọng toàn cục thêm tiến triển vậy”, vì thế mà quân đội Trung Quốc trú đóng Triều Tiên đều rút hết về nước. Năm ấy, tỉnh Cát Lâm lập cục thông thương ở Hòa Long Dục, lại chia lập các trạm thu thuế ở Quang Tễ Dục và Tây Bộ Giang (104), chuyên quản lý việc thông thương giữa Cát Lâm và Triều Tiên. Lại lập cục Việt khẩn, quy hoạch khu vực bờ bắc sông Đồ Môn dài chừng bảy trăm dặm, rộng chừng bốn mươi lăm dặm, làm nơi khai khẩn cho dân Triều Tiên ở vùng biên.

Đương vào năm Kỷ Mão niên hiệu Quang Tự (105), người Nga vì việc cũ ở Y Lê, phá vỡ hòa ước, đưa quân hạm tới Liêu hải (106), người Anh lại đưa quân hạm tới chiếm đảo Cự Văn (107) của Triều Tiên, ngăn trở người Nga. Đến khi điều ước Y Lê ký xong, người Anh toan tính nhiễu loạn đại cục phương đông, mong muốn Trung Quốc trước sau bảo hộ Triều Tiên, thường nói lại với Tổng thự (108) như vậy. Năm thứ mười hai, đại thần xuất sứ các nước Anh, Pháp, Đức, Nga là Lưu Thụy Phân gửi thư cho Lý Hồng Chương, có nói: “Triều Tiên tiếp giáp ba tỉnh Liêu Đông, quan hệ hết sức quan trọng. Nước ấy gian đảng phản trắc, hoành hành đã lâu, lại toàn tự mình uống rượu độc (109), để rồi thành bệnh khó chữa. Trung Quốc có thể thu lấy toàn bộ đất đai nước ấy mà đổi thành tỉnh cai trị, đó là thượng sách vậy. Lần này giao ước với các nước Anh, Mỹ, Nga, cùng nhau bảo hộ [Triều Tiên], không cho kẻ khác xâm chiếm một tấc đất, thì Triều Tiên mới có thể may mắn tồn tại được”, Hồng Chương cho là phải, trình lên Tổng thự, [xét thấy] không theo được, cuối cùng bèn thôi. Năm ấy, phóng thích Lý Hạ Ứng trở về nước, Hy dâng biểu tạ ơn, xin cống phương vật, [vua] cho phép lưu lại vào chính cống.

Năm thứ mười ba, Hồng Chương tuân chỉ trù nghị thể chế các nước thông sứ với Triều Tiên, dâng tấu nói: “[Thần] đánh điện quyết định chức vụ Trú trát Triều Tiên biện lý giao thiệp thông thương sự nghi, sẽ đề bạt và bổ nhiệm Tri phủ Viên Thế Khải, và nước ấy (Triều Tiên) muốn thương lượng qua lại [với nước ngoài], có thể phái công sứ tới trú, không nhất thiết phải dùng chữ “toàn quyền” [bên cạnh chữ “công sứ”]. Lại vào ngày hai mươi ba tháng chín kế tiếp, căn cứ vào điện bẩm của Viên Thế Khải: “Dựa theo thông báo của cơ quan ngoại giao Triều Tiên có nói: “Phụng Quốc vương truyền đạt, trước phái các sứ thần sửa soạn hành lý đã lâu, nay chờ văn bản trù nghị việc thương lượng hồi đáp tới, e rằng phải trì hoãn ngày giờ, xin được đánh điện trước cho Bắc Dương đại thần xem xét lại”. Lại căn cứ vào lời bàn của [Triều Tiên] quốc vương có nói: “Mấy năm gần đây, các nước Thái Tây nhiều lần xin phái sứ qua lại, [thần thấy] các nước cương thổ, quyền lực gấp mười Triều Tiên, không thể không phái công sứ đại diện. Chỉ hiềm nỗi ban đầu trong việc phái sứ (110) [Triều Tiên] chưa am tường thể chế, chưa đem ra thương nghị, trình báo với Trung Quốc trước, lại sau khi định việc phái sứ, đã lập tức sức cho cơ quan ngoại giao thông báo với các nước, chuẩn bị tiếp đãi. Nay đột ngột thay đổi như vậy, thực rất sợ bị [Trung Quốc] nghi ngờ. Vậy nên xin được cho phép phái công sứ toàn quyền sang [các nước] trước, đợi việc giao hảo báo về xong xuôi, hoặc các viên tham tán đại diện xử lý, ngõ hầu có thể tiết kiệm được kinh phí; cùng với sức cho sứ thần sau khi sang nước Tây, phải cùng với đại thần Trung Quốc kính cẩn tuân theo thể chế cũ”, câu từ ý tứ rất mực khiêm tốn cung thuận. Thần lại thêm việc hoạch định phép tắc, trước hết quan sát thể chế mà ước định làm ba điều: Thứ nhất, sứ Hàn ban đầu tới các nước, nên để đại thần Trung Quốc dẫn đầu phái bộ; Thứ hai, nếu gặp hội họp yến tiệc, [chỗ ngồi] nên xếp theo sau đại thần Trung Quốc; Thứ ba, nếu gặp đại sự giao thiệp có quan hệ khẩn yếu, phải bí mật thương nghị với đại thần Trung Quốc trước để thấy mà sát hạch lại, cùng với nêu rõ cho các thuộc quốc đều biết thể chế phân chia bên trong, đối với các nước khác không dính líu, các nước khác cũng không được can thiệp. [Thần] lập tức sức cho Viên Thế Khải truyền đạt đến quốc vương xem xét mà xử trí. Nay lại dựa theo lời vương có nói: “Vào cuối tháng mười, [thần] sức cho công sứ trú ở nước Mỹ là Phác Định Dương, công sứ trú ở các nước Anh, Đức, Nga, Ý, Pháp là Triệu Thần Hi trước sau đều đến trước, án theo ba điều đã định mà dặn lại tuân hành”. Thần tra thấy Triều Tiên phái sứ sang trú các nước Thái Tây, trong giao ước vốn có điều khoản là [Triều Tiên cùng các nước] sai sứ sang trú lẫn nhau, đều không thương nghị và xin phép Trung Quốc trước, rồi đột nhiên cho công sứ toàn quyền thông báo cho các nước. Xét ra khi đó họ thay đổi trong việc phái sứ mà phải thất tín, có thể xem là thực tình. Không lâu sau họ lại nói sau khi việc phái sứ xong xuôi, sứ thần Trung-Triều cùng kính cẩn tuân theo thể chế cũ, thần dự định thành ba điều trên mà tiến hành tuân thủ, đối với trường hợp của thuộc quốc cũng xem như không vi phạm gì”.

Năm ấy, tỉnh Cát Lâm tiến hành điều tra vấn đề biên giới với Triều Tiên. Năm thứ mười sáu, Tổng lý nha môn dâng sớ nói: “Cát Lâm tướng quân dâng tấu nói rằng: “Lưu dân Triều Tiên chiếm cứ khai khẩn đất đai ở biên giới tỉnh Cát Lâm, năm Quang Tự thứ bảy đã thông qua tấu văn của [Cát Lâm] tướng quân Minh An, Đốc biện biên phòng Ngô Đại Trừng, đem lưu dân tra rõ hộ tịch, phân chia quy về Hồn Xuân cho tới huyện Đôn Hóa quản hạt. Từ đó về sau, nhân việc Triều Tiên quốc vương khẩn xin trao trả lưu dân, mới gửi công văn qua bộ Lễ chuyển tấu. Lại thông qua [Cát Lâm] tướng quân phê chuẩn, định hạn là một năm, do quan địa phương nước ấy theo luật mà thu hồi. Lại do lưu dân mãn hạn chưa được trao trả, vẫn mặc sức làm trái, vượt sông xâm chiếm, nay qua [Cát Lâm] tướng quân Hy Nguyên gửi công văn cho Tổng lý nha môn tấu lên, chuẩn cho phái viên tới hội khám. Nguyên do nước ấy khi trước nhầm sông Đậu Mãn, sông Đồ Môn là hai sông khác nhau (111), rồi nhầm sông Hải Lan (112) trong nội địa là các sông ngòi phân chia ranh giới, cuối cùng lại nhầm chỗ bắt nguồn của sông Tùng Hoa ở Tùng Câu Tử thuộc Thông Hóa có gò đất trông giống như cái cửa, rồi cho đó là ý nghĩa của tên gọi “Thổ Môn”, bám giữ cái lẽ ấy mà ra sức tranh biện. Qua phái viên của Hy Nguyên tiếp tục khám nghiệm, thì thấy rõ Thạch Ất Thủy mới là nguồn chính của sông Đồ Môn, mới nghị bàn lấy sông dài để phân chia ranh giới, vẽ thành bản đồ để giải thích, vào ngày mười ba tháng mười một tấu lên, phụng theo chỉ dụ, gửi công văn báo cho Quốc vương, tuân theo việc đã định mà xử trí. Quốc vương không khảo chứng tường tận, đột nhiên tin lời cố chấp thiên lệch của Khám giới sứ là Lý Trọng Hạ, cố sức xin lập ranh giới ở Hồng Thổ Sơn Thủy, hai bên xung khắc khó hợp, rồi cho việc phân định ranh giới ngày xưa là không đúng, để thỏa ý đồ trì hoãn cho lưu dân vượt biên khai khẩn. Hiện tại phủ Mậu Sơn của Triều Tiên đối diện sang phía đông là các địa phương Quang Tễ Dục, Lục Đạo Câu, Thập Bát Uy Tử, dân Hàn vượt biên khai khẩn ước tính tới mấy nghìn, đất ước tính tới mấy vạn thưởng. Toàn bộ xứ ấy có giới hạn tự nhiên là sông Đồ Môn, có thể không cần tái khám. Đến nay nước ấy kéo dài thời gian, tuyệt không thể dừng việc trao trả lưu dân, nên gấp sức lệnh lĩnh chiếu nộp thuế, quy về hộ tịch gốc, trước tiên phái viên đo đạc cẩn thận, xếp thành từng giáp (113), làm phép thăng khoa (114), để vỗ yên dân chúng vùng biên”. Bọn thần xét thấy việc biên giới giữa Cát Lâm với Triều Tiên, trước qua hai lần hội khám, đều chưa thể lập tức phân định, đặc biệt phần nằm trực tiếp trên hơn hai trăm dặm từ đầu nguồn của sông Đồ Môn ở Tam Cấp Bào đến Mậu Sơn. Qua Mậu Sơn, sông Đồ Môn đã vào đoạn có dòng chảy lớn, mới làm giới hạn tự nhiên. Bờ nam của sông là địa phương sáu phủ Mậu Sơn, Hội Ninh, Chung Thành, Khánh Nguyên, Khánh Hưng thuộc đạo Hàm Kính nước Triều Tiên, bờ bắc của sông là các địa phương từ huyện Đôn Hóa đến Hồn Xuân thuộc tỉnh Cát Lâm, Khám giới sứ Triều Tiên cũng không có ý kiến gì khác. Dân Hàn vượt biên khai khẩn nhiều năm, đều mong về nhà cửa mồ mả, ví như có một ngày đem họ trao trả hết, mấy nghìn người sẽ trở nên thất nghiệp, không nơi nương tựa, thực tình có thể nói là đáng thương xót. Nhưng nếu cứ để cho những kẻ dị tịch chiếm trụ lâu ngày, chủ khách bất phân, tuyệt không phải chính sách lâu dài. Hơn nữa mấy năm gần đây, quan lại Hàn quốc ở biên giới tới tấp thu thuế của dân đi khẩn hoang, sinh ra lắm sự hà nhiễu, [trong dân có kẻ] chạy tới Cát Lâm tố cáo, qua Bắc Dương đại thần Lý Hồng Chương gửi công văn báo án tới nha môn bọn thần. Hiện tại chỗ đầu nguồn của sông rất khó hoạch rõ ngay được, thì có thể không cần khám xét xử trí gì, tự để tới lúc thích hợp mà vỗ về an phủ. Nay dự định xin sức cho [Cát Lâm] tướng quân chọn lựa người hiền phái đi đo đạc cho rõ, thi hành phép thăng khoa, lĩnh chiếu nộp thuế, quy về quan địa phương quản hạt, chương trình cụ thể nhất thiết tấu rõ để xử trí”.  Do đó [Cát Lâm] tướng quân là Trường Thuận cấp phát giấy phép, dân Hàn kẻ nào muốn về thì cho phép tự đi, kẻ nào muốn ở lại phải cắt tóc đổi y phục, cùng với dân Trung Quốc nhất loạt đăng ký hộ tịch vùng biên, khai khẩn đất đai, nộp tô thuế.

Năm ấy, mẫu phi của Hy là Triệu thị hoăng, sai sứ dâng biểu tới cáo phó: “Triều Tiên quốc vương thần Lý Hy xin có lời rằng: Mẹ thần là Triệu thị vào ngày mười một tháng tư năm Quang Tự thứ mười sáu hoăng thệ, kính cẩn dâng biểu cáo phó. Thần Lý Hy thành tâm sợ hãi, cúi đầu sát đất. Kính nghĩ thần nước nhỏ không có lộc, nên gặp cảnh mất mẹ, rất mực bi thương, nay đang trong lúc tang, cung kính làm lễ cáo phó. Thần không dám ngẩng mặt lên trời, kinh động đến thánh ý nên hết sức do dự, kính cẩn dâng biểu cáo phó báo lên”. Chính sứ sang cáo phó là Hồng Chung Vĩnh cũng khẩn xin gia ơn: “Thiết nghĩ nước thần chăm giữ chức phiên thuộc, đời đời thấm nhuần hoàng ân, giữa những năm Nhâm Ngọ, Giáp Thân, cương thường được chỉnh đốn, quốc thổ may được yên định, thực gọi là ơn sâu tái tạo vậy. [Nước thần] trải qua họa loạn, lại gặp mất mùa, người vật ly tán, sáu bảy năm qua, quả thực gian nan. Gần đây lại chịu sự bất hạnh, Khang Mục vương phi hoăng thệ, cả triều ai oán, không cách gì bớt đi được. Chúa thượng (115) nghĩ [tang sự của] Vương phi ở vào lúc binh lửa, gặp cảnh bi thương, tám cõi (116) khốn cùng, nay hướng theo điển lệ mà hoãn việc tang tế, là xuất phát từ [lòng thương] trăm họ cả, nay không thể không đại lược miễn giảm, để thư sức dân, cho nên phàm việc tang tế đều theo kiệm ước. Kính nghĩ Đại hoàng đế khâm sai ban sắc, từ trước đã ưu ái, chỉ sợ lúc ấy Thiên sứ tới nơi, lễ tiết ngẫu nhiên có phần không chu đáo, thì thực là sinh thêm tội vậy. Để sau này phải ôm nỗi hổ thẹn, lúc đấy sao có thể trần tình việc cũ? Huống chi ân điển Thiên triều cao hậu, vốn dĩ tất phải báo đền dài lâu, như con đỏ (117) hướng về cha mẹ hiếu kính vậy. Nay đặc biệt kính cẩn cúi xin bộ đường (118) chứng giám thực tình, thụ tấu lên bệ rồng Thiên tử. Ví phỏng có chỉ dụ ôn hòa ban xuống, ti chức sẽ kính cẩn tuân theo đem về, không phiền đến Thiên sứ xử trí, để thành ra càng trở ngại đến việc thi ân, nay hết sức sợ hãi mà gấp rút [có lời]”.

Đình thần bộ Lễ dâng tấu báo lên, vua xuống dụ rằng: “Sứ thần Triều Tiên tới cáo phó, trình bày cụ thể, một mực khẩn xin miễn việc sai sứ sang ân tế, trần thuật tình hình khốn khổ, vốn không phải là giả bộ lấp liếm gì. [Trẫm] nghĩ [Triều Tiên] quốc vương đời đời giữ phận Đông phiên, nhận đủ ân lễ, việc sai sứ đi điếu tế, đã thành điển thường, phải tuân hành mà chớ bỏ, Thiên triều đoái nghĩ, an ủi phiên thuộc ưu hậu như vậy, là quan hệ tới thể chế, sao có thể dung túng coi nhẹ mà sửa đổi? [Trẫm] đặc biệt nghĩ tới Triều Tiên mấy năm gần đây, trong nước khó khăn thiếu thốn dị thường, nhưng không thể không noi theo nội dung điển chương cũ, mà gượng xót thương. Việc sai sứ sang [Triều Tiên], trước kia đều theo đường bộ tới biên giới phía đông, sau khi nhập cảnh, còn phải qua hơn mười trạm quán, trên đường bày biện, thực lắm phiền hà.  Lần này [trẫm] phái đại thần sang, đổi sang đi bằng tàu thủy Bắc Dương tới Thiên Tân, thẳng tới bờ biển Nhân Xuyên, lễ xong, sẽ theo đường cũ mà trở về kinh. Ví thử sinh biến mà phải đi đường bộ, ắt phải chọn đường nào thật gần, cung ứng cấp phát không được để nhiều, trên đường nếu bày biện cần dùng nhiều tiền, tất thảy đều phải thi hành tiết kiệm. Sau khi khâm sứ tới nước, cần dùng điển lễ, phàm những phí tổn thừa thãi không liên quan, vẫn nên kính tuân theo lệ cũ, không được cho là việc nhỏ mà giản lược. Nay đem dụ này do bộ Lễ truyền dụ tới để Quốc vương được biết”. Tháng chín, sai Tả thị lang bộ Hộ là Tục Xương, Hữu thị lang bộ Hộ là Sùng Lễ đem dụ đến tế.

Năm thứ mười chín, Triều Tiên trả vàng cho Nhật Bản để đổi lấy gạo. Trước đó, mùa thu năm thứ mười lăm, Triều Tiên có nạn đói, Quan sát sứ đạo Hàm Kính là Triệu Bỉnh Thức lệnh cấm bán thóc gạo, tới mùa hạ năm sau thì bỏ lệnh cấm. Người Nhật nói khi buôn bán gạo ở khu vực Nguyên Sơn đã chịu thiệt hại hơn bốn mươi bốn vạn đồng tiền vàng, đòi Triều Tiên trả lại, Triều Tiên bãi chức Bỉnh Thức, hứa trả sáu vạn đồng, người Nhật ba lần tranh biện qua lại với công sứ [Triều Tiên], tới đây rốt cục phải trả mười một vạn đồng, việc mới xong.

Ban đầu, Đạo viên Trung Quốc trú ở Triều Tiên là Viên Thế Khải làm Quân doanh vụ xứ cho Ngô Trường Khánh đang đóng quân ở Triều Tiên, rồi được sung chức Thương vụ tổng biện kiêm lý giao thiệp sự nghi. Khi ấy Triều Tiên dựa vào Trung Quốc, [đại thần] chấp chính nước ấy là Mẫn Vịnh Tuấn có mối quan hệ tốt với Viên Thế Khải. Vịnh Tuấn là họ hàng với Mẫn phi, xưa nay vẫn căm ghét Nhật Bản, mà Tân đảng trong nước lại liên kết sâu sắc cùng người Nhật. Biến loạn Triều Tiên năm Giáp Thân, bọn Kim Ngọc Quân, Phác Vịnh Hiếu đem tiền chạy sang Nhật Bản, sau bị Lý Dật Thực, Hồng Chung Vũ chia nhau tới ám sát. Chung Vũ là con của [Hồng] Anh Thực, thù Ngọc Quân vì giết cha mình, để đạt mục đích mới giả cách kết giao với Ngọc Quân. Tháng hai năm thứ hai mươi, [Chung Vũ cùng Ngọc Quân] theo tàu buôn thuốc từ Tây Kinh (119) Nhật Bản về Thượng Hải, cư ngụ ở lữ quán Đông Hòa của Nhật Bản. Ngày hai mươi hai, Chung Vũ dùng súng tay bắn chết Ngọc Quân, Trung Quốc truy nã Chung Vũ, đem việc ấy cật vấn Triều Tiên. Người Triều Tiên xem Ngọc Quân là nghịch đảng, còn Chung Vũ là quan chức, xin quy về nhà tù trong nước để luận tội, [triều đình] đồng ý việc ấy. Triều Tiên thưởng vượt cho Chung Vũ lên quan ngũ phẩm, phanh thây Ngọc Quân lấy đầu ngâm muối. Nhật Bản huyên náo xôn xao, giả cách phát tang, an táng cho Ngọc Quân, người đi theo tống táng tới mấy trăm. Gặp lúc Dật Thực cũng ám sát Vịnh Hiếu ở Nhật Bản, việc không thành, người Nhật xử Dật Thực tội cực hình. Nhật-Triều kết oán với nhau, [Nhật Bản] lại tức giận Trung Quốc trước đó trả xác Ngọc Quân [về nước].

Tháng tư, đảng Đông Học ở Triều Tiên làm loạn. Tên gọi Đông Học, do Thôi Phúc Thành sáng lập đầu tiên, tìm nhặt từ các thuyết Nho, Phật, Đạo rồi chuyển biến suy diễn, đem đi truyền dạy, khởi phát từ huyện Từ Nhân đạo Khánh Thượng, lan rộng ra các đạo Trung Thanh, Toàn La. Đương vào năm Đồng Trị thứ tư, Triều Tiên cấm đoán đạo Thiên Chúa, tín đồ bị tróc nã lùng bắt, đem về trị tội, lại bắt cả thủ lĩnh đảng Đông Học họ Kiều đem giết đi, nhưng đảng ấy rốt cục vẫn không hề suy bại. Cho tới năm trước, [người đảng ấy] bèn tới vương cung kêu oan cho Kiều, xin được chiêu tuyết, [vua Triều Tiên] không cho. Lại bắt giữ mấy người đảng ấy đem trị tội, vội cho là có ý phóng túng làm càn. Triều Tiên thuế má hà khắc nặng nề, dân chúng phần nhiều oán ghét, người đảng [Đông Học] thừa cơ ấy xướng loạn ở huyện Cổ Phụ thuộc đạo Toàn La. Vua Triều Tiên cử đình thần Hồng Khải Huân làm Chiêu thảo sứ, mượn quân hạm Bình Viễn của Trung Quốc, tàu vận tải Thương Long, chở tám trăm lính từ Nhân Xuyên tới bờ biển Trường Sơn Phố, tới Toàn Châu. Ban đầu chiến sự rất thuận lợi, người đảng ấy trốn vào Bạch Sơn, quân Triều Tiên đuổi theo, [người đảng ấy] trúng mai phục, đại bại, quân chết mất quá nửa. Giặc từ Toàn La xâm lấn hai đạo Trung Thanh, quân đều hội đủ, bèn vây hãm Toàn Châu, Hội Thành, thu được súng ống đạn dược không đếm xuể. [Đảng ấy] dán cáo thị ở thành Toàn Châu, lấy danh nghĩa vì dân cứu nước, truyền hịch trong ngày, tiến đánh Công Châu, Hồng Châu, thẳng tới vương kinh.

Triều Tiên đại chấn, gấp rút điện cho Bắc Dương [đại thần] xin viện quân. Hồng Chương dâng tấu, phái Đề đốc Trực Lệ là Diệp Chí Siêu, Tổng binh trấn Thái Nguyên là Nhiếp Sĩ Thành, dẫn Lư Du phòng quân (120) sang Triều Tiên viện trợ, đóng quân trên núi thuộc huyện Nha Sơn, cách vương kinh Triều Tiên một trăm năm mươi dặm về phía tây nam, cạnh Miện Giang Khẩu bên trái bờ biển Nhân Xuyên. Tháng năm, [vua] điện dụ công sứ trú ở Nhật Bản là Uông Phượng Tảo, án theo điều ước năm Quang Tự thứ mười bảy, thông báo với bộ ngoại giao Nhật Bản, nay vì Triều Tiên xin quân, Trung Quốc đoái nghĩ tới phiên thuộc, mới phái quân đại diện bình định phản loạn. Ngoại vụ khanh Nhật Bản Lục Áo Tông Quang (121) trả lời Phượng Tảo: “Quý quốc tuy vì Triều Tiên là phiên thuộc, nhưng Triều Tiên chưa chắc đã tự xưng là phiên thuộc của quý quốc”, bèn phái quân đổ bộ lên phía Bắc [Triều Tiên], mệnh công sứ trú ở kinh sư là Tiểu Thôn Thọ Thái Lang (122) chiếu theo điều ước, thông báo cho Tổng thự Trung Quốc. [Tổng thự] trả lời lại có nói: “Bản triều an phủ phiên thuộc, nhân vì [Triều Tiên] xin quân, nên mới mệnh đem binh bình định nội loạn nước ấy, quý quốc không cần phải đặc phái trọng binh. Vả lại Triều Tiên cũng chưa hướng về quý quốc xin quân, quân đội quý quốc cũng không cần phải vào trong nội địa làm gì”. Sứ Nhật đáp lại: “Bản quốc thấy rằng Triều Tiên không thừa nhận mình phụ thuộc vào Trung Quốc. Nay chiếu theo điều ước Tế Vật Phố giữa Nhật-Triều, cùng với điều ước Thiên Tân giữa hai nước Trung-Nhật, phái quân tới Triều Tiên, quân đội tiến vào Triều Tiên, cũng không định hạn”. Loạn đảng Triều Tiên nghe tin quân Trung Quốc tới, tinh thần trở nên hoảng sợ. Ngày mùng chín quân đội Triều Tiên thắng lợi, [loạn đảng] bỏ Toàn Châu chạy trốn, Triều Tiên thu lấy Hội Thành.

Loạn bình xong, quân Nhật lại không chịu rời đi. Công sứ Nhật là Đại Điểu Khuê Giới (123) dẫn bốn trăm lính vào vương kinh trước, các quân khác nối tiếp theo sau, cùng với ước tính có hơn tám nghìn quân đổ bộ lên bờ biển Nhân Xuyên, đều tới vương kinh. Triều Tiên kinh ngạc, nhưng không thể ngăn cản được. Trung Quốc thấy Triều Tiên loạn đã bình xong, mới buộc Nhật Bản rút quân, nhưng người Nhật đòi thay đổi nội chính Triều Tiên. Bộ ngoại giao nước ấy (Triều Tiên) thông báo cho sứ thần trú ở Nhật, giao ước hai nước (124) cùng kén chọn đại thần làm đại diện tới Triều Tiên, để bàn việc cải cách. Phượng Tảo trả lời lại: “Việc chỉnh đốn nội trị, Triều Tiên phải tự làm lấy, tức là Trung Quốc chúng tôi vốn không can dự. Hơn nữa quý quốc đã thừa nhận Triều Tiên là nước tự chủ, sao có thể can dự vào nội chính của họ? Về việc rút quân, Trung-Nhật (125) đã cùng hòa ước ban đầu ký kết đã có điều khoản đề cập cụ thể, nay không cần thiết phải bàn lại”, nhưng người Nhật vẫn giữ ý ấy, một mực cương quyết. Lúc ấy quân Nhật đều chiếm những chỗ trọng yếu của vương kinh, còn Trung Quốc vẫn một mình đóng quân ở Nha Sơn. [Viên] Thế Khải nhiều lần điện xin thêm quân, Hồng Chương trước sau vẫn muốn dựa vào điều ước mà yêu cầu Nhật rút quân, sợ tăng thêm quân chỉ là do [Thế Khải] viện cớ. Sứ thần các nước Anh, Nga ở giữa điều đình, cũng đều không thể bàn xong. Hồng Chương muốn dùng tiền bồi thường để ngưng việc binh, mà Nhật đòi ba trăm vạn lượng bạc, trong triều bàn tán xôn xao, vì vậy sách lược hòa hay chiến cũng không định được, Nhật Bản sau đó lại dùng binh ức hiếp Triều Tiên.

Sứ Nhật Đại Điểu Khuê Giới bắt đầu đòi Triều Tiên phải độc lập. Tháng sáu, Khuê Giới yêu cầu năm việc: Thứ nhất, chọn những người có năng lực; Thứ hai, chế định việc tài chính quốc gia; Thứ ba, thay đổi lại luật pháp; Thứ tư, đổi binh chế; Thứ năm, chấn hưng việc học hành giáo dục. Triều Tiên lập ra Hiệu chính sảnh (126), tuyên bố chịu mệnh. Ngày mười bốn, Triều Tiên thông báo với sứ Nhật, trước phải rút quân rồi mới dần dần cải cách chính sự, [Nhật] không đồng ý. [Nhật] lại trách việc cắt đứt quan hệ phiên thuộc với Trung Quốc. Triều Tiên thờ Trung Quốc đã lâu, không muốn bỏ lời ước trước, nên sứ Nhật trú ở kinh sư gửi thông báo cho Tổng thự, lời lẽ đại lược rằng: “Loạn của Triều Tiên, nằm ở việc không sửa sang nội trị. Nếu Trung-Nhật hai nước đồng tâm hiệp lực, thay mặt thương lượng, thì việc đã không tệ như vậy. Thật không ngờ Trung Quốc lại đều gạt bỏ, không chịu thương lượng, mà ngày nay lại còn xin nước tôi lui binh. Hai nước mà mở mối tương tranh, thì thực đúng là bởi lỗi của Trung Quốc vậy”, bèn thả thủy lôi khắp cửa sông Hán, cho quân chặn kín các cửa ra vào vương cung. Ngày mười bảy, Viên Thế Khải tới Nhân Xuyên lên tàu trở về nước. Ngày hai mươi mốt, Đại Điểu Khuê Giới dẫn quân vào vương cung Triều Tiên, giết chết vệ binh, rồi ép Quốc vương Lý Hy lệnh Đại viện quân Lý Hạ Ứng làm chủ việc nước. Lại giả lệnh của vương lệnh đem bọn Mẫn Vịnh Tuấn đi đày ra hoang đảo, triều thần phàm kẻ nào không chịu quy phụ đều đuổi đi. Mọi việc lớn nhỏ, đều do người Nhật quyết định.

Ngày hai mươi hai, Hồng Chương điện lệnh tới Nha Sơn (127) gấp rút chuẩn bị chiến đấu, rồi tấu xin lấy Tổng binh trấn Đại Đồng là Vệ Nhữ Quý dẫn mười ba doanh Thịnh quân (128) xuất phát từ Thiên Tân, Phó đô thống Thịnh Kinh là Phong Thân A thống lĩnh quân Thịnh Kinh xuất phát từ Phụng Thiên, Đề đốc Mã Ngọc Côn thống lĩnh Nghị quân (129) xuất phát từ Lữ Thuận, Tổng binh trấn Cao Châu là Tả Bảo Quý thống lĩnh Phụng quân (130) xuất phát từ Phụng Thiên. Bốn cánh đại quân phụng mệnh xuất sư của triều đình, ngại vì đường biển cản trở, mới nghị bàn tất cả đều theo đường bộ từ Liêu Đông khởi hành, vượt sông Áp Lục vào đất Triều Tiên. Lúc ấy ở Nha Sơn quân đóng cô lập, không biết tin tức của bốn cánh đại quân, mới theo đường lớn từ Thành Hoan Dịch (131) cách Nha Sơn năm mươi dặm về phía đông bắc, xuống phía nam tới vương kinh, lại theo hướng nam xuống tiếp tới Công Châu. [Nhiếp] Sĩ Thành xin với [Diệp] Chí Siêu, vào giữ thế thủ, bèn dẫn Vũ Nghị Phó Trung doanh, Lão Tiền doanh cùng Hữu doanh luyện quân (132) ngày hai mươi bốn đóng ở Thành Hoan. Hồng Chương thuê tàu buôn nước Anh là Cao Thăng chở hai doanh Bắc Đường phòng quân, cùng với tàu vận tải Thao Giang hỗ trợ chở vũ khí viện trợ cho Nha Sơn, cả thảy ba tàu chở quân đi về phía đông. Quân Nhật biết trước, bèn chặn đường, ba tàu phải về Uy Hải, còn tàu Thao Giang treo cờ trắng xin hàng, bị [Nhật] đoạt mất. Hạm đội Nhật là Cát Dã, Lãng Tốc dùng ngư lôi bắn chìm tàu Cao Thăng, hai doanh đều bị diệt cả. Ngày hôm sau, quân Nha Sơn nghe tin, biết viện binh đã bị cắt đứt, lại bị đại đội quân Nhật đến vây bức. Sĩ Thành xin Chí Siêu chi viện, ngày hai mươi sáu, Chí Siêu đuổi tới, nghênh chiến thất lợi. Ngày hai mươi bảy, quân Nhật chiếm Thành Hoan, pháo kích vào quân ta, thế không cản được, rốt cục thất bại. Chí Siêu bỏ Công Châu chạy, Sĩ Thành đuổi kịp tới, hợp quân [với Chí Siêu] mà chạy về phía bắc, vòng qua phia đông vương kinh, lần theo các châu Thanh Trấn, Trung Châu, Hòe Sơn, Hưng Đường, vượt sông Hán qua Đê Xuyên, Nguyên Châu, Hoành Xuyên, Lang Xuyên, Kim Hóa, Bình Khang, Y Xuyên, Toại An, Tường Nguyên, vượt sông Đại Đồng tới Bình Nhưỡng, hợp với đại quân, mất một tháng mới tới.

Ngày mùng một tháng bảy, [vua] xuống dụ rằng: “Triều Tiên làm phên giậu che chắn cho Đại Thanh ta đã hơn hai trăm năm, hằng năm lo giữ chức cống, trong ngoài đều biết. Mười năm gần đây nước ấy thường lắm nội loạn, triều đình lấy lòng yêu thương với nước nhỏ mà vỗ về an phủ, nhiều lần phái binh tới trước khám định, lại cho phái viên trú đóng đô thành nước ấy, tùy theo thời thế mà làm việc bảo hộ. Trong tháng tư năm nay, Triều Tiên xảy ra biến loạn thổ phỉ, Quốc vương xin binh sang chi viện tiễu trừ, trần tình sự việc, lời lẽ cấp thiết, đương lúc ấy lập tức xuống dụ lệnh Lý Hồng Chương phát binh đến chi viện, vừa tới Nha Sơn, giặc phỉ đã vội tan rã. Rồi người Nhật vô cớ thêm quân, đột nhập Hán Thành, từ đó về sau lại tăng quân hơn vạn người, bức bách lệnh cho Triều Tiên cải cách chính sự trong nước. Triều ta lại phủ dụ phiên thuộc, việc nội chính nước ấy hướng lệnh mà tự xử lý; Nhật Bản cùng Triều Tiên lập giao ước ràng buộc nước ấy, lại càng đem trọng binh ra sức lệnh [Triều Tiên] thực hiện cải cách chính sự. Các nước cùng bàn luận, đều thấy Nhật Bản xuất binh phi nghĩa, không hợp tình lý, khuyên lệnh triệt binh, thương lượng hòa bình. Nhưng cuối cùng vẫn ương ngạnh tùy tiện, không thể giải thích, lại càng liên tục thêm quân, trăm họ Triều Tiên cùng với thương nhân Trung Quốc, ngày ngày chấn động, đều mong [Trung Quốc] thêm quân tới trước bảo hộ. Không ngờ trên đường đi tới, bị nhiều thuyền địch đột kích, thừa lúc ta không chuẩn bị, khai pháo oanh kích vùng biển ngoài cửa Nha Sơn, bắn chìm tàu vận tải của ta, thực nằm ngoài liệu tính vậy. Nhật Bản không tuân thủ điều ước, không noi theo phép chung, tự mình gây hấn, công luận đều thấy rõ. Nay đặc biệt bố cáo với thiên hạ, thông báo như vậy cho triều đình biết mà biện lý việc ấy, thực đã tới tận cùng nhân nghĩa, tình thế khó khăn, không thể tiếp tục gắng gượng mà chấp nhận nữa. Nêu lên cho Lý Hồng Chương nghiêm sức phái xuất các quân, nhanh chóng tiến quân tiêu diệt, tập trung quân đông mạnh, liên tục tiến phát, để cứu dân Hàn khỏi cảnh đồ thán”. Đại để Trung Quốc tới đây mới bắt đầu tuyên chiến cùng Nhật Bản vậy.

Quân đội Trung Quốc đều đóng ở Bình Nhưỡng làm kế cố thủ. Đầu tháng tám, quân Nhật vây bức, các tướng phân chia giữ việc phòng thủ. Mặt bắc thành là bộ thuộc Phụng quân của Tả Bảo Quý, Thịnh quân của Phong Thân A, hai doanh hiệu chữ Giang của Giang Tự Khang trấn giữ; mặt nam thành, góc tây nam có Thịnh quân của Vệ Nhữ Quý trấn giữ; mặt đông thành, trông ra bờ đông sông Đại Đồng là Nghị quân của Mã Ngọc Côn trấn giữ, lại phân bộ tướng của Tả Bảo Quý là Nhiếp Quế Lâm chống giữ hai mặt đông và nam, còn Chí Siêu trú ở trong thành điều động, Bảo Quý trú ở đỉnh núi phía bắc thành, giữ cửa Huyền Vũ, các tướng phòng thủ các mặt đều trú ở ngoài thành. Ngày mười sáu, quân Nhật phân thành các đạo tới đánh, dùng pháo lớn công bức, các lũy liên tiếp bị phá vỡ, thành rốt cục bị hãm, Bảo Quý vì lực chiến mà trúng pháo chết. Chí Siêu dẫn các tướng chạy về phía bắc, vũ khí tích trữ cùng toàn bộ công văn mật điện đều bỏ lại cả. Nhiếp Sĩ Thành cho rằng ở An Châu sông núi hiểm yếu có thể cố thủ, Chí Siêu không nghe, chạy hơn năm trăm dặm, vượt sông Áp Lục qua khỏi biên giới mới ngừng. Từ đó trong địa giới Triều Tiên không còn một lính Trung Quốc, việc của Triều Tiên cũng không thể can thiệp được nữa.

Tháng ba năm thứ hai mươi mốt, điều ước Mã Quan được ký kết, trong đó điều khoản thứ nhất Trung Quốc xác nhận Triều Tiên hoàn toàn là nước độc lập tự chủ, phàm mọi điển lễ cống hiến trước đó [cho Trung Quốc] đều bị bãi bỏ. Tính từ năm Sùng Đức thứ hai, Lý Tông quy phụ, Triều Tiên là thuộc quốc của nhà Thanh cả thảy hai trăm năm mươi tám năm, tới đây cuối cùng trở thành nước độc lập tự chủ vậy.

Bản tiếng Nhật của Hiệp ước Shimonoseki (Trung Quốc gọi là điều ước Mã Quan) ký kết ngày 17/4/1895 sau thất bại của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Giáp Ngọ, chính thức thừa nhận Triều Tiên độc lập và từ bỏ quan hệ chư hầu với Trung Quốc trong hơn 490 năm qua hai triều Minh - Thanh (nếu kể từ lúc nhà Minh phong vua Triều Tiên danh vị Triều Tiên quốc vương). Bên cạnh đó, trong hiệp ước này, nhà Thanh phải cắt cho Nhật đảo Đài Loan, quần đảo Bành Hồ, cảng Đại Liên ở Liêu Đông và mở cửa các thành phố Sa Thị, Trùng Khánh, Tô Châu, Hàng Châu; dành quyền ưu đãi thương mại cho Nhật. Nhà Thanh sau những thất bại liên tiếp về quân sự, ngoại giao, chính quyền thủ cựu tham nhũng, cuối cùng sụp đổ trước Cách mạng Tân Hợi năm 1911. Còn về phần Triều Tiên, sau khi thoát khỏi Trung Quốc, dù trên danh nghĩa độc lập, song ngày càng lệ thuộc vào Nhật Bản, cuối cùng tới năm 1910 thì trở thành thuộc địa của Nhật Bản cho đến năm 1945. Có thể thấy trong hình trên, ở 2 dòng bên trái ngoài cùng của trang bên phải ghi “ngày 17 tháng 4 năm Minh Trị thứ 18 tức ngày 23 tháng 3 năm Quang Tự thứ 21” (Nhật Bản đã chuyển sang dùng dương lịch sau cải cách Minh Trị). Nguồn ảnh: https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Japan_China_Peace_Treaty_17_April_1895.jpg

Chú thích:

(1) Nay thuộc huyện tự trị dân tộc Mãn Hoàn Nhân, tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc.

(2) Tức là Nhật Bản. Người Trung Quốc và Triều Tiên dùng chữ (oa - nghĩa cổ là lùn, thấp) để chỉ người Nhật, nước Nhật, mang hàm ý xấu.

(3) Toyotomi Hideyoshi, người cầm quyền trên thực tế của Nhật Bản giai đoạn 1585-1598.

(4) Hành chính nhà Triều Tiên, cả nước chia thành tám tỉnh gọi là “đạo”.

(5) Nguyên văn: 遼民 (Liêu dân). Liêu là cách gọi tắt chỉ các khu vực quanh sông Liêu Hà chảy ra biển Bột Hải, gần tương ứng với tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc ngày nay.

(6) Tức là đảo Ka, nay thuộc Bắc Triều Tiên.

(7) Tiếng khiêm xưng của nước mình với nước khác, thường là với nước lớn hơn, trong hoàn cảnh cần đến sự nhún nhường, khôn khéo trong quan hệ ngoại giao; hoặc tự hạ mình để giữ lễ. 

(8) Nay là thành phố Kaeseong, Bắc Triều Tiên.

(9) Nay là huyện Chunggang, phía bắc tỉnh Chagang, Bắc Triều Tiên, đối diện với Trung Quốc qua sông Áp Lục.

(10) Kiến trúc thành trì đặc trưng ở Triều Tiên, thường dựa vào núi mà xây đắp thêm, có nhiều ở khu vực quanh Bạch Mã sơn, gần biên giới Bắc Triều Tiên-Hàn Quốc ngày nay.

(11) Thanh Thái Tông đổi niên hiệu từ Thiên Thông thành Sùng Đức, lấy năm Thiên Thông thứ mười (dương lịch 1636) làm năm đầu niên hiệu Sùng Đức. Do vậy, từ tháng 1 đến tháng 4 âm lịch nguyên văn vẫn chép là năm thứ mười, bắt đầu từ tháng 5 âm lịch trở đi, ta hiểu là thuộc về năm Sùng Đức thứ nhất.

(12) Chỉ quân đội do Thiên tử thống lĩnh. Sách Chu lễ 周禮 - thiên Hạ quan 夏官 - phần Tự quan 序官 viết: 凡制軍,萬有二千五百人為軍。王六軍,大國三軍,次國二軍,小國一軍 (Phàm việc quân chế, cứ 12500 người gọi là một quân. Vương (chỉ Thiên tử) 6 quân, nước lớn 3 quân, nước vừa 2 quân, nước nhỏ 1 quân).

(13) Từ đời Đường, các chức Thị ngự sử, Điện trung thị ngự sử, Giám sát ngự sử thường gọi là Đài quan; phân biệt với các chức Gián nghị đại phu, Thập di, Bổ khuyết, Chính ngôn thường gọi là Gián quan, song tất cả đều có chức trách can gián nhà vua, đàn hặc quan lại, nên gọi chung là Đài gián, thuộc vào Gián viện. Cơ chế này tồn tại đến đầu đời Minh thế bị phế trừ, thay bằng chức Cấp sự trung sáu khoa kiêm lĩnh việc giám sát. Sang đời Thanh, các chức năng của Đài gián quan được nhập vào Đô sát viện.

(14) Lễ mừng sinh nhật của nhà vua thì dùng chữ Vạn thọ, của hoàng hậu, hoàng tử thì gọi là Thiên thu, ngụ ý thiên (nghìn) thấp hơn vạn. Chữ vạn chỉ dùng cho nhà vua.

(15) Chỉ hoàng hậu.

(16) Nguyên văn: 青黍皮三百張, trong đó 黍 (thử) có nghĩa là cây kê, cây lúa nếp nhưng lại đi với 皮 () có nghĩa là da hoặc vỏ, lại thêm phần lượng từ là 張 (trương) vốn dùng để chỉ những vật có mặt phẳng. Nếu hiểu 青黍皮 có nghĩa là vỏ lúa nếp xanh có phần đã không hợp lý, mặt khác là đi với lượng từ trên lại càng không hợp lý hơn. Ở đây ngờ rằng người viết nhầm với chữ thử có nghĩa là con chuột, và 青皮 được hiểu là da một giống chuột có sắc xanh, sắc xám thì sẽ đúng hơn. Tuy nhiên cũng cần biết là hai chữ thử này không hề giống nhau, nên cũng chưa thể kết luận nguyên nhân là do viết nhầm mà ra.

(17) Một loại đoản đao dùng để hộ thân.

(18) Nay là thành phố Phượng Thành, tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc.

(19) Tức là đảo Ungdo, thuộc vào địa phận huyện Geumya, tỉnh Hamgyeong Nam, Bắc Triều Tiên. Đông Hải ở đây được hiểu là biển Nhật Bản nằm phía đông Triều Tiên.

(20) Trước đó, theo lệ cống hằng năm mà nhà Thanh đưa ra đối với phía Triều Tiên, số lượng gạo là một vạn bao.

(21) Nay là huyện Hamyang thuộc tỉnh Gyeongsang Nam, Hàn Quốc.

(22) Vua Triều Tiên được nhắc đến trong câu này là Nhân Tổ không có người con nào có tên dùng chữ 橑(Liêu) này cả. Nếu loại trừ khả năng nguyên văn chép nhầm, thì có lẽ đây là một thủ pháp ngoại giao của phía Triều Tiên, cho người giả thực hiện hoặc dùng tên giả nhằm tránh phương hại đến công việc nội bộ của quốc gia. Điều này tương tự như ở Việt Nam, các vua cũng sử dụng tên giả khi giao thiệp với các triều đại Trung Quốc, ví dụ như Trần Thái Tông có tên giả là Trần Nhật Cảnh (陳日煚).

(23) Nguyên văn: 進香. Theo lễ chư hầu nhận chiếu, dâng biểu cho thiên tử phải bày án, thắp hương rồi mới tiến hành. 

(24) Vua chư hầu chết gọi là hoăng (薨). Từ sách Lễ ký, thiên Khúc lễ hạ: 天子死曰崩, 諸侯曰薨 (Thiên tử chết gọi là băng, chư hầu thì gọi là hoăng). 

(25) Đời Chu, mỗi dịp năm mới, chư hầu đều hướng về Thiên tử mà vái lạy chúc mừng, gọi là triều chính.

(26) Thời Thanh sơ, lập ra chức Khải tâm lang trong nha môn sáu bộ, Lý phiên viện, Đô sát viện, Tông nhân phủ cùng nha môn Đô thống Bát kỳ, lấy một người Mãn, một người Hán đảm nhiệm, có chức năng hiệp trợ các vương, bối lặc quản lý sự vụ các cơ quan đó.

(27) Chỗ này nguyên văn khuyết chữ. Nay theo Hoàng triều văn hiến thông khảo - Tứ khố toàn thư bản, dùng chữ 㬅 mà chép thành Lý Mạn (xem thêm tại 皇朝文獻通考 (四庫全書本)/卷293). Chữ 㬅 theo Khang Hy tự điển giải thích, tục dùng như chữ mạn .

(28) Nay là quận Dongnae phía nam tỉnh Busan, Hàn Quốc, nằm trên bờ biển gần với Nhật Bản.

(29) Nguyên văn: 清文(Thanh văn), tức là văn tự Mãn Châu; Hán triện: chữ Hán theo lối triện thư xuất phát từ kim văn đời Chu, thịnh hành đời Tần Hán. Triện thư hình dáng ngoằn nghèo phức tạp, độ bảo mật tốt nên thường dùng khắc lên ấn tín.

(30) Chỉ người Nga. Bấy giờ nước Nga mới khai phá vùng Siberia, thường có xung đột với nhà Thanh ở biên giới Đông Bắc, quanh khu vực sông Hắc Long Giang.

(31) Mộc miên tức là cây gạo, sợi dùng để nhồi vào chăn, gối, áo chống lạnh để giữ ấm.

(32) Nay là quần đảo Okinawa của Nhật Bản. Bắt đầu từ đời Minh được liệt vào hàng chư hầu triều cống cho Trung Quốc, cùng với Triều Tiên và Việt Nam được xem là những nước văn minh giáo hóa hơn cả.

(33) Nay là sông Đồ Môn, là biên giới tự nhiên giữa ba nước Trung Quốc, Nga và Bắc Triều Tiên. Trong tiếng Mãn sông này có tên là tumen sekiyen, đọc theo âm Hán là Thổ Môn Sắc Cầm, vì vậy mà thời Thanh mới gọi là Thổ Môn giang. Tiếng Mãn tumen vạn, sekiyen nguồn nước, Thổ Môn Sắc Cầm có thể hiểu thành “nguồn của vạn sông”.

(34) Nhà Thanh trước khi vào Trung Nguyên đóng đô ở Thẩm Dương ngày nay, gọi là Thịnh Kinh, sau khi định đô Bắc Kinh, Thịnh Kinh trở thành kinh đô dự bị, đến năm 1657 (Thuận Trị năm thứ 14), lập phủ Phụng Thiên bên trong thành Thịnh Kinh, đặt Phủ doãn cai trị.

(35) Nay là thành phố Hồn Xuân, châu tự trị Diên Biên, tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc, gần biên giới với Bắc Triều Tiên và Nga.

(36) Tức là malachit hay đá khổng tước (CuCO3.Cu(OH)2), một loại khoáng vật cacbonat chứa đồng, là sản vật vùng Cát Lâm, Liêu Ninh, Nội Mông. Sách Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân đời Minh có nói đây là vị thuốc chữa các bệnh về mắt và chứng á khẩu do trúng gió.

(37) Vua Triều Tiên trong câu này là Anh Tổ (Lý Khâm), Ngư thị tức là Vương phi của vua trước đó (Cảnh Tông Lý Quân). Cảnh Tông là anh của Anh Tổ, do đó nguyên văn dùng chữ tẩu phi.

(38) Mặc dù ở Trung Quốc có thành phố Hải Ninh thuộc tỉnh Chiết Giang, đời Nguyên là châu Hải Ninh thuộc Giang Chiết hành tỉnh, đời Minh đổi thành huyện Hải Ninh thuộc phủ Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, sang đời Thanh không đổi đến năm Càn Long thứ 38 mới nâng lên cấp châu, song ở câu này sẽ rất vô lý khi nói thuyền đánh cá Triều Tiên gặp bão dạt tới tận Hải Ninh, Chiết Giang được vì khoảng cách rất xa về địa lý, mặt khác đây lại là tấu sớ do Thịnh Kinh thị lang trình lên, nên Hải Ninh ở đây không thể nằm ở Chiết Giang mà hẳn là một địa danh nào đó thuộc vào tỉnh Liêu Ninh ngày nay.

(39) Nay là xã Hunyung-ri, huyện Gyeongwon, tỉnh Hamgyeong Bắc, Bắc Triều Tiên.

(40) Kampaku (關白 – Quan bạch) cùng với Sessho (攝政 Nhiếp chính) là các chức vụ nắm giữ quyền lực trên thực tế ở Nhật Bản. Sau khi chế độ Mạc phủ ra đời (1192) thì Tướng quân nắm quyền nhân danh Thiên hoàng, Nhiếp chính và Quan bạch chỉ còn mang tính nghi thức cho đến năm 1867. Năm Càn Long thứ 13 là năm 1748, ở Nhật Bản lúc đó không có Quan bạch mà chỉ có Nhiếp chính là Ichijo Michika nhậm chức từ năm 1747, và Tướng quân là Tokugawa Ieshige từ năm 1745, có thể trong câu chỉ tới hai nhân vật này.

(41) Nhà Thanh sau khi định đô Bắc Kinh, đặt ra chế độ Ngang bang chương kinh, thống lĩnh quân đội Bát kỳ đóng ở các địa phương ngoài Kinh sư; năm Khang Hy thứ 1 (1662), đổi gọi Ngang bang chương kinh thành Trú phòng tướng quân, đặt ra chức Liêu Đông tướng quân quản lý khu vực xung quanh Thịnh Kinh; Năm Càn Long thứ 12 (1747), tên gọi đầy đủ là Trấn thủ Thịnh Kinh đẳng xứ tướng quân, gọi tắt là Thịnh Kinh tướng quân, mà cũng gọi là Phụng Thiên tướng quân, do trước đó có đặt phủ Phụng Thiên trong thành Thịnh Kinh (xem thêm Chú thích 34). Địa bàn quản lý tương ứng với tỉnh Liêu Ninh ngày nay và một số vùng phụ cận. Cơ chế này tồn tại đến năm Quang Tự thứ 33 (1907) thì bãi bỏ, ba tỉnh Phụng Thiên, Cát Lâm, Hắc Long Giang dưới quyền quản lý của Tổng đốc Đông Tam Tỉnh, tỉnh Phụng Thiên do Tuần phủ quản lý.

(42) Chủ khách ty hay đầy đủ là Chủ khách thanh lại ty (主客清吏司) là một thiết chế bên trong bộ Lễ, phụ trách việc quản lý cung ứng đồ dùng sinh hoạt, tiếp đãi đối với hậu duệ triều trước và lễ tiết tiếp đãi tân khách ngoại quốc, các dân tộc thiểu số, sứ giả các nước phiên thuộc. 

(43) Nguyên văn: 縱軍歇役, hiểu là buông bỏ, trễ nải việc quân.

(44) Ban đầu khi mới định ra chế độ Bát kỳ, phân tráng đinh thành ba bậc: Kỳ đinh, tức là người tự do; Phi giáp là tù binh đến quy hàng (sau này một số gia nhập tầng lớp gia nô phục vụ hoàng thất vương công tách ra gọi là Bao y) và A cáp là nô bộc. Khi tầng lớp Bao y được định hình, Phi giáp chuyển sang dùng để chỉ những thành phần còn lại và tính thêm những người Bát kỳ phạm tội, đưa đến cư trú truyền đời ở biên giới làm nhiệm vụ phòng thủ.

(45) Đời Thanh sau khi diễn ra các phiên tòa xét xử ở các cấp địa phương hoặc trung ương, nếu tình tiết vụ án xét kĩ thuộc vào loại ít gây nguy hại hoặc có vấn đề cần cân nhắc, phạm nhân sẽ được hoãn quyết (緩決), tức là tạm hoãn thi hành án để chờ tới phiên tòa phúc thẩm sang năm diễn ra mới xử lý. Các vụ án được hưởng chế độ này thường thuộc loại trảm giam hậu (giam lại chờ xử chém) hoặc giảo giam hậu (giam lại chờ xử thắt cổ) và sẽ qua một hội đồng giữa bộ Hình và Đại lý tự để thẩm tra lại và tấu lên hoàng đế phán quyết. Trên thực tế, đại đa số các trường hợp bị hoãn quyết đều được miễn tử hình.

(46) Ý nói việc diễn ra trong những đời vua trước của nước Triều Tiên.

(47) Thiên tẩu yến (千叟宴) là buổi ngự yến được tổ chức nhằm thể hiện truyền thống kính lão theo đạo lý Khổng Mạnh cũng như khoa trương sự thịnh vượng của nhà Thanh tới nhân tâm, theo đó mời tất cả các người cao tuổi trong cả nước, tuổi từ 60-65 trở lên, không phân biệt từ văn võ đại thần đã về hưu trí sĩ cho đến thường dân kỳ lão, diễn ra vào những năm cuối Khang Hy và Càn Long.

(48) Đoàn sứ thần của nước ta (nhà Tây Sơn) do vua “Quang Trung giả” Phạm Công Trị, Nguyễn Quang Thùy (con thứ Quang Trung) cùng bồi thần là Ngô Văn Sở, Phan Huy Ích,… cũng sang Trung Quốc nhân dịp này, do đó có gặp gỡ và giao tiếp với đoàn Triều Tiên. Phó sứ Từ Hạo Tu (Seo Ho-su) trong tập ký Yên hành kỷ cũng ghi chép lại diện mạo, phục sức của sứ ta khi đó (Xem thêm Ngàn năm áo mũ – Trần Quang Đức, Nhà xuất bản Thế giới, 2013).

(49) Nguyên văn dùng chữ 遺(di) có nghĩa là từ bỏ, dời đi, để lại, tuy nhiên ở đây những nghĩa này đều không phù hợp. Có lẽ nguyên văn chép lầm chữ 遣(khiển) có nghĩa là sai phái, do hai chữ này có tự dạng gần giống nhau.

(50) Chính cống là lệ cống hằng năm của chư hầu đối với Thiên tử, diễn ra và ba thời điểm trong năm: Nguyên đán, Đông chí và Vạn thọ (sinh nhật của hoàng đế).

(51) Một hòn đảo nằm ở phía nam quần đảo Trường Sơn trong biển Hoàng Hải (Trung Quốc) phía đông bắc thành phố Đại Liên, tỉnh Liêu Ninh.

(52) Chỉ đại thần nắm giữ chức vụ đứng đầu trăm quan.

(53) Du quan là tên gọi khác của Sơn Hải quan, cửa ải nằm ở cực đông Vạn lý trường thành. Sứ Triều Tiên sang Trung Quốc phải đi theo ngả này.

(54) Chỉ cơ quan biên soạn quốc sử và các ấn phẩm của triều đình.

(55) Nguyên văn: 恭申起居(cung thân khởi cư). Khởi cư có nghĩa là sinh hoạt thường ngày, thân được dùng trong lời người dưới nói với bề trên, do đó ở đây lược dịch thành “tỏ ý cung kính chầu hầu”.

(56) Sở dĩ có dụ này là vì trước đó (năm Hàm Phong thứ 10, tức dương lịch 1860), liên quân Anh-Pháp tiến đánh Bắc Kinh, vua Hàm Phong cùng hoàng tộc phải rời Tử Cấm thành để tới Tị Thử sơn trang ở Nhiệt Hà để lánh nạn.

(57) Từ An thái hậu và Từ Hi thái hậu, đích mẫu và sinh mẫu của Đồng Trị đế, gọi chung là Lưỡng cung Hoàng thái hậu.

(58) Xem thêm Chú thích 32.

(59) Pierre-Gustave Roze (1812-1883), tướng lĩnh hải quân Pháp, từng tham gia các cuộc đổ bộ vào Triều Tiên, Nhật Bản và Đông Dương. Năm 1866 chỉ huy quân Pháp can thiệp vào Triều Tiên lấy cớ bảo vệ người Pháp và tín đồ Công giáo bị đàn áp bởi triều đình Triều Tiên lúc bấy giờ, nhưng không thành công. Triều Tiên gọi vụ việc này là Byeong-in yangyo (Canh Dần Dương nhiễu, tức là vụ người Tây dương quấy nhiễu năm Canh Dần).

(60) Tức là franc, đơn vị tiền tệ của Pháp, phiên âm thành phật lăng.

(61) Năm 1871, đô đốc hải quân John Rodgers và Frederick Low, đại sứ Mỹ ở Trung Quốc chỉ huy 5 tàu chiến mở cuộc đổ bộ vào đảo Ganghwa, mượn cớ đáp trả vụ cướp tàu buôn General Sherman của Mỹ để ép phía Triều Tiên nhượng bộ một số đặc quyền kinh tế, tuy nhiên phía Triều Tiên tiếp tục từ chối như với người Pháp trước đó. Người Triều Tiên gọi sự kiện này là Shin-mi yangyo (Tân Mùi Dương nhiễu, hay vụ người Tây dương quấy nhiễu năm Tân Mùi). Nguyên văn chỉ chép lại phiên âm tên hai người này một cách không chính xác như vậy.

(62) Soejima Taneomi (1828-1905), chính khách, nhà ngoại giao Nhật Bản đầu thời kỳ Minh Trị.

(63) Trước kia, việc ngoại giao chỉ diễn ra giữa Trung Quốc với các nước chư hầu triều cống, sẽ do bộ Lễ chủ trì. Trong bối cảnh các cường quốc thực dân phương Tây có những can thiệp ngày càng sâu rộng vào Trung Quốc, nhà Thanh cho thành lập một cơ quan mới đặc trách các vấn đề ngoại giao là Tổng lý các quốc sự vụ nha môn gọi tắt là Tổng lý nha môn, đứng đầu là một Thân vương, bổ nhiệm Quân cơ đại thần, Đại học sĩ, Thượng thư và Thị lang các bộ vào tham dự.

(64) Nay thuộc đảo Yeongjong ở bờ biển phía tây thành phố Incheon, Hàn Quốc, nơi đặt sân bay quốc tế Incheon.

(65) Phủ Sơn: tức thành phố Busan của Hàn Quốc.

(66) Kuroda Kiyotaka (1840-1900), chính khách Nhật Bản, từng làm công sứ Triều Tiên năm 1875, tham gia đàm phán điều ước Ganghwa năm 1876 và thủ tướng Nhật từ năm 1888-1889, quyền thủ tướng năm 1896.

(67) Inoue Kaoru (1836-1915), chính khách Nhật Bản, bộ trưởng bộ Ngoại giao giai đoạn 1885-1887.

(68) Nguyên Sơn: tức thành phố Wonsan, tỉnh Kangwon, đông nam Bắc Triều Tiên; Nhân Xuyên: thành phố Incheon của Hàn Quốc.

(69) Vị vũ trù mâu (未雨綢繆), lấy từ điển trong Kinh Thi 詩經, phần Bân phong 豳風, thiên Si hào 鴟鴞, nói con cú lúc trời chưa đổ mưa đã biết sửa lại cái tổ của nó. Ám chỉ việc phòng xa, tương tự như thành ngữ Cư an tư nguy.

(70) Phụng Thiên, Cát Lâm và Hắc Long Giang, gọi chung là Đông Tam Tỉnh. Xem thêm Chú thích 41.

(71) Cũng phiên âm thành Oát Đóa Liên, nay là huyện Đôn Hóa thuộc châu tự trị Diên Biên, tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc.

(72) Sông Kiết Nha là một phụ lưu của sông Đồ Môn, bắt nguồn từ huyện Uông Thanh tỉnh Cát Lâm chảy xuống phía nam và đổ vào sông Đồ Môn tại thành phố Đồ Môn, châu tự trị Diên Biên.

(73) Nguyên văn dùng chữ Cao Ly. Mặc dù tên gọi Triều Tiên đã xuất hiện sớm nhất trong Sử ký của Tư Mã Thiên, nhưng vì ở Triều Tiên từ thế kỷ I CN có quốc gia Cao Câu Ly (Kokuryeo), gọi tắt là Cao Ly, là nước lớn mạnh và có quan hệ với Trung Quốc nhiều hơn cả, nên người Trung Quốc từ đó về sau vẫn dùng Cao Ly để phiếm chỉ Triều Tiên.

(74) Một thưởng được tính bằng 7 mẫu đất (chừng 14000 mét vuông) hoặc bằng diện tích đất khai thác trong một ngày.

(75) Ở vào thời điểm này (đầu năm 1882), thực dân Pháp đã chiếm xong Nam Kỳ và cơ bản ép nhà Nguyễn thừa nhận quyền bảo hộ ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Sang năm 1883-1884, với hai hòa ước Harmand và Patenôtre, Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn Pháp thuộc.

(76) Sáu tỉnh ven biển: Sơn Đông, Giang Tô, Chiết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông và Quảng Tây.

(77) Nguyên văn: 鞭長莫及 (tiên trường mạc cấp), lấy từ điển trong sách Tả truyện - Tuyên công thập ngũ niên, nói ngọn roi rất dài nhưng vẫn không thể đánh tới bụng của một con ngựa, ý nói ở những nơi cách trở xa xôi, lực bất tòng tâm, không có khả năng làm được việc gì.

(78) Robert Wilson Shufeldt (1822–1895), sĩ quan hải quân Mỹ, từng làm tổng lãnh sự Mỹ ở Cuba. Điều ước Shufeldt chính là điều ước chính thức đầu tiên mà Triều Tiên ký kết với một quốc gia phương Tây.

(79) Thành phố Incheon, Hàn Quốc, trước năm 1910 còn có tên là Jemulpo (Tế Vật Phố).

(80) Sir George Ommanney Willes (1823-1901), đô đốc hải quân Anh.

(81) Charles Dillon (1842-1889), lãnh sự Pháp ở Thiên Tân giai đoạn 1870-1883.

(82) Max von Brandt (1835-1920), nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu các vấn đề Đông Á, sứ thần đế quốc Đức tại Trung Quốc từ 1875-1893.

(83) Hanabusa Yoshitada (1842-1917), chính khách và nhà ngoại giao Nhật Bản, tham gia các hiệp ước Saint Petersburg năm 1875 với Nga, điều ước Giang Hoa năm 1976 với Triều Tiên, và đại sứ Nhật tại Nga (1882-1887). Ông là người đầu tiên thiết lập trụ sở cơ quan ngoại giao của Nhật Bản tại Seoul.

(84), (85) Horitomo Reizo (1848-1882), trung úy lục quân đế quốc Nhật Bản. Chết trong vụ đảo chính năm 1882 của Đại viện quân Yi Ha-eung (Lý Hạ Ứng), cha đẻ của Triều Tiên Cao Tông, đại diện cho phái thủ cựu bài ngoại trong triều đình Triều Tiên, nhằm sát hại Vương hậu của Cao Tông (nhưng không thành) và những quan lại có tư tưởng cải cách. Vương hậu Mẫn thị sau đó đề nghị nhà Thanh mang quân sang dẹp, người Triều Tiên gọi đây là Imo Gunlan (Nhâm Ngọ quân loạn). Nhà Thanh khẳng định vị thế nước bảo hộ Triều Tiên, song bắt đầu căng thẳng trong quan hệ với Nhật Bản là nước đế quốc mới nổi, đang muốn tranh giành ảnh hưởng lên Triều Tiên với Trung Quốc.

(86) Nire Kagenori (1831-1900), đô đốc, bộ trưởng bộ Hải quân Nhật Bản 1892-1893.

(87) Kim cương hạm tức là Kongou, lớp tàu chiến thiết giáp được xếp vào loại corvette, của hải quân Nhật đưa vào sử dụng trong những năm 1870, tới năm 1910 thì ngừng sử dụng để thay thế bằng lớp tàu khác hiện đại hơn.

(88) Ở Chú thích 79 có nói Tế Vật Phố là tên cũ của Incheon, nhưng trong câu này ta hiểu Nhân Xuyên ở đây dùng với nghĩa hải cảng, còn Tế Vật Phố là nội thành.

(89) Uổng Tầm Lý: nay là phường Wangsimni-dong, quận Seongdong-gu, Seoul, Hàn Quốc; Thái Lợi Lý: nay là khu Itaewon gồm phường Itaewon-dong và lân cận, quận Yongsan-gu, Seoul, Hàn Quốc.

(90) Min Gyeom-ho, anh họ của Vương phi Mẫn thị.

(91) Nguyên văn: 片言可折 (phiến ngôn khả chước). Từ sách Luận ngữ  - Nhan Uyên: ([Chỉ nghe] lời một bên có thể xử xong vụ án).

(92) Nước của người được nói đến, ở đây là Triều Tiên.

(93) Diên Hựu (延祐): niên hiệu của Nguyên Nhân Tông (giai đoạn 1314-1320).

(94) Tức Tây Tạng ngày nay.

(95) Chí Nguyên (至元): niên hiệu của Nguyên Huệ Tông (giai đoạn 1335-1340).

(96) Nay là huyện Yết Dương, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Quảng Đông nằm trong đất Lĩnh Nam xưa, vốn là nơi cư trú của các tộc Bách Việt, đối với Trung Nguyên vẫn coi là nơi Di Địch, do đó đi đày đến đây vẫn bị coi như một khổ hình.

(97), (98) Phủ Bảo Định thời Thanh, trực thuộc đạo Thanh Hà (hành chính nhà Thanh về cơ bản dưới cấp tỉnh là cấp đạo, dưới nữa là phủ-châu và huyện), nay là thành phố Bảo Định, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc. 

(99) Takezoe Shinichiro (1842-1917), nhà ngoại giao, nhà Hán học Nhật Bản. Năm 1882, làm công sứ Nhật tại Triều Tiên thay cho Hanabusa Yoshitada. Sự kiện năm 1882 được thực hiện bởi nhóm các quan lại Triều Tiên thân Nhật gọi là “đảng Khai hóa” (nguyên văn viết là “đảng Duy tân”) do Kim Ok-gyun (Kim Ngọc Quân) đứng đầu, do nhận thấy sự suy yếu của nhà Thanh sau chiến tranh Pháp-Thanh phải rút quân khỏi Việt Nam, nhường quyền bảo hộ cho Pháp, nên đã chuyển sang dựa vào Nhật Bản. Những người này sau khi nắm quyền đã ép Triều Tiên Cao Tông phải từ bỏ quan hệ với Trung Quốc, xóa bỏ quyền thống trị của quý tộc và thi hành một số cải cách, tuy nhiên chính phủ mới này chỉ tồn tại vài ngày đã bị lật đổ bởi lực lượng quân đội Trung Quốc đang đóng ở Triều Tiên do Viên Thế Khải chỉ huy, do Vương hậu Mẫn thị cầu cứu. Kim Ok-gyun và cộng sự đều phải lưu vong sang Nhật cùng với Takezoe. Người Triều Tiên gọi sự kiện này là Gapsin jeongbyeon (Giáp Thân chính biến).

(100) Nguyên văn: 太尉林磯 (Thái úy Lâm Ki). Theo sách Thanh quý ngoại giao sử khoa của Vương Ngạn Uy - Vương Lượng, tập hợp các ghi chép của Quân cơ xứ và bộ Ngoại vụ nhà Thanh hai triều Quang Tự, Tuyên Thống, thì đây là một quân nhân người Nhật có tên là Isobayashi Shinzo (Ki Lâm Chân Tam, 1853-1884), là tùy tùng của công sứ Nhật Hanabusa Yoshitada ở Triều Tiên, bị chết trong chính biến Giáp Thân khi đang trên đường trở về Nhật Bản. Thanh sử cảo lại chép nhầm chữ đại ra chữ thái 太, vì đến thời kỳ này (sau cải cách Minh Trị) Nhật Bản đã áp dụng hệ thống quân đội kiểu phương Tây, và ngay cả trong lịch sử Nhật Bản cũng chưa từng có chức vụ Thái úy. Từ những lý do trên, nay viết lại thành “đại úy Ki Lâm Chân Tam”.

(101) Ito Hirobumi (1841-1909), chính khách Nhật Bản, từng trải qua các chức vụ bộ trưởng bộ Ngoại giao (1887-1888), chủ tịch Khu mật viện (1888-1889), toàn quyền Triều Tiên (1905-1909) và 4 lần làm thủ tướng Nhật. Chết năm 1909 do bị nhà cách mạng Triều Tiên Ahn Jung-geun ám sát.

(102) Saigo Judo (1843-1902), chính khách, 2 lần làm bộ trưởng bộ Hải quân Nhật (1885-1890, 1893-1898).

(103) Khánh quân: quân đội của Ngô Trường Khánh. Ngô Trường Khánh khi trước đi theo Tổng đốc Lưỡng Giang Tăng Quốc Phiên trấn áp khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc, dưới quyền có 500 quân, được ban cho chữ Khánh làm doanh hiệu (phép nhà Thanh cứ 500 quân tính là 1 doanh), nên gọi là Khánh quân. Năm 1862, chuyển sang trực thuộc biên chế Hoài quân của Lý Hồng Chương.

(104) Hòa Long Dục: nay thuộc thành phố Hòa Long; Quang Tễ Dục: nay thuộc thành phố Long Tỉnh, đều thuộc châu tự trị Diên Biên tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc; Tây Bộ Giang: nay thuộc hương dân tộc Mãn Tam Gia Tử, thành phố Hồn Xuân tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc.

(105) Tức là năm 1879 (năm Quang Tự thứ 5). Trước kia, những năm Hàm Phong, Đồng Trị, nhân lúc nhà Thanh có loạn Thái Bình Thiên Quốc, lại liên tiếp ký kết các điều ước bất bình đẳng với phương Tây, người Nga tự ý tiến quân vào khu vực Y Lê (nay thuộc Tân Cương) tuyên bố tạm chiếm, đợi khi nhà Thanh đủ sức thống trị sẽ trả lại. Đại học sĩ Tả Tông Đường trấn áp xong người Duy Ngô Nhĩ nổi loạn, bình định Tân Cương, nhà Thanh đòi lại Y Lê song bị Nga cự tuyệt, lại phải ký điều ước năm 1879 bồi thường chiến phí và cắt gần hết đất Y Lê cho Nga.

(106) Liêu hải: tức biển Bột hải, nằm ngay dưới bán đảo Liêu Đông, do sông Liêu đổ vào đây nên cũng gọi là Liêu hải.

(107) Nay là quần đảo Geomun-do nằm giữa bờ biển đông nam của Hàn Quốc và đảo Jeju.

(108) Tổng thự là biệt xưng của Tổng lý nha môn (xem thêm Chú thích 63).

(109) Nguyên văn: 飲鴆自甘 (ẩm trậm tự cam). Ám chỉ trạng thái chỉ lo giải quyết khó khăn tạm thời mà không nghĩ đến hậu họa.

(110) Ở đây cần hiểu việc phái sứ là bổ nhiệm các công sứ Triều Tiên sang các nước phương Tây làm việc. Triều Tiên bị kẹt ở giữa hai đầu là phương Tây với Trung Quốc, do đó họ dù phải ký các điều ước với phương Tây, tự do trong ngoại giao với họ, song đối với Trung Quốc vẫn giữ lễ phiên thuộc, xin cáo lỗi và cho phép Trung Quốc can thiệp trong các vấn đề với phương Tây.

(111) Đậu MãnĐồ Môn đều do phiên âm chữ Hán mà ra. Về nguồn gốc tên sông Đồ Môn, xem thêm Chú thích 33.

(112) Sông Hải Lan ở Cát Lâm, bắt nguồn từ thành phố Hòa Long, chảy theo hướng tây nam-đông bắc qua thành phố Long Tỉnh và hội lưu với sông Bố Nhĩ Cáp Thông tại phía đông thành phố Diên Cát.

(113) Giáp là một đơn vị đo diện tích đất.

(114) Thăng khoa: Ruộng đất khai hoang sau khi mãn hạn định chỉ phải trả theo thuế đất thông thường, không tính thêm tiền.

(115) Chúa thượng: bề tôi Triều Tiên gọi vua là chúa thượng, điện hạ, vì Triều Tiên tự cho mình là phiên thuộc Trung Quốc, dùng các danh xưng dành cho Thiên tử là tội lớn.

(116) Tám cõi: tức tám đạo của nước Triều Tiên, ở đây dụng ý chỉ cả nước.

(117) Con đỏ: Chỉ bách tính trăm họ, ví tình cảm yêu thương dân chúng của vua chúa như bậc cha mẹ đối với con mới ra đời.

(118) Bộ đường: Tiếng gọi các quan chức đứng đầu một bộ trong sáu bộ thời Minh-Thanh (Thượng thư và Thị lang). Tổng đốc, Tuần phủ mang hàm Thượng thư hay Thị lang cũng tự xưng là bộ đường. Cụ thể ở đây dùng chỉ bộ Lễ của nhà Thanh.

(119) Tây Kinh: Sau khi lật đổ Mạc phủ, thu hồi hoàng quyền, Thiên hoàng dời đô từ Kyoto về Edo, đổi gọi là Tokyo (Đông Kinh), còn Kyoto gọi là Saikyo, hay Tây Kinh.

(120) Lư Du phòng quân: Bắt đầu từ năm Quang Tự thứ sáu (1880), Lý Hồng Chương phân phái Hoài quân (quân bản bộ của Lý Hồng Chương) sáp nhập với các đội “luyện quân” (lực lượng vũ trang của tầng lớp địa chủ các địa phương thời Thanh mạt lập ra, chiến đấu cho triều đình trên danh nghĩa, còn thực tế chỉ theo lệnh tướng soái) khác trú phòng các địa phương Sơn Hải quan (tục gọi là Du quan) và Lư Đài (thời Thanh thuộc huyện Ninh Hà, đạo Thông Vĩnh, tỉnh Trực Lệ, nay thuộc quận Ninh Hà, thành phố Thiên Tân) gọi chung là Lư Du phòng quân, đảm nhiệm trực tiếp việc phòng thủ bờ biển phía đông. 

(121) Mutsu Munemitsu (1844-1897), làm bộ trưởng bộ Ngoại giao Nhật Bản từ 1892-1896.

(122) Komura Jutaro (1855-1911), công sứ Nhật tại Triều Tiên năm 1895, 2 lần làm bộ trưởng bộ Ngoại giao (1901-1906, 1908-1911).

(123) Otori Keisuke (1833-1911), công sứ Nhật tại Trung Quốc từ năm 1889, tới năm 1893 kiêm nhiệm công sứ tại Triều Tiên.

(124) Hai nước: Trung Quốc và Nhật Bản.

(125) Nguyên văn dùng chữ Trung Đông hòa ước..., nay theo văn cảnh mà sửa lại là Trung-Nhật...

(126) Ngày 13/7/1894, Triều Tiên lập ra cơ quan lấy tên là Hiệu chính sảnh, căn cứ vào yêu cầu đề xuất của đảng Đông Học mà tiến hành cải cách nội chính.

(127) Ở đoạn trên đã có nói Lý Hồng Chương phái quân đến đóng tại Nha Sơn (nay là thành phố Asan, tỉnh Chungcheong Nam, Hàn Quốc).

(128) Năm Quang Tự thứ 17, Lý Hồng Chương tấu lên triều đình nhà Thanh xin cho bộ tướng là Vệ Nhữ Quý lập quân riêng lấy tên là Thịnh quân, gồm khoảng 8000 người, chia làm 12 doanh bộ binh và 5 doanh kỵ binh.

(129) Nghị quân vốn là quân đội của Tống Khánh, tướng lĩnh nhà Thanh có công tham gia trấn áp loạn Thái Bình Thiên Quốc và loạn Niệp, được phong hiệu “Nghị Dũng Ba Đồ Lỗ”, nhân đó mà bộ thuộc gọi là Nghị quân. Ban đầu gồm 3 doanh (hơn 1500 người), sau lên 10 doanh phân 2 cánh tả hữu. Mã Ngọc Quân trước phục vụ dưới quyền Tống Khánh trong lúc bình định dân Hồi ở Thiểm Tây, Cam Túc, tới năm 1890 được điều về làm Bắc Dương quân tùy biện doanh vụ kiêm quản Nghị quân hậu quân, đóng ở Lữ Thuận.

(130) Phụng quân tiền thân là lực lượng luyện quân đóng ở Cố Bắc Khẩu tỉnh Trực Lệ, sau được điều đi trấn áp các cuộc khởi nghĩa ở vùng Nhiệt Hà, rồi năm 1878 được điều về Phụng Thiên trú phòng. Năm 1880, triều đình điều 300 quân về Cố Bắc Khẩu, số còn lại vẫn ở lại Phụng Thiên, gọi là Phụng quân, do Tả Bảo Quý chỉ huy. Thành phần gồm 5 doanh kỵ binh, 1 doanh bộ binh.

(131) Nay là vùng ngoại ô thành phố Cheonan, tỉnh Chungcheong Nam, Hàn Quốc.

(132) Xem thêm Chú thích 120.

Bài viết được chuyển ngữ từ nguyên văn có trong 清史稿/卷526.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến