Vài nét về tước hiệu Khả hãn
Khả hãn (可汗), chữ Hán cũng dùng các cách gọi khác như Đại hãn (大汗), Hợp hãn (合罕), Hãn vương (汗王), gọi tắt là Hãn (汗), là xưng vị của thủ lĩnh tối cao các thực thể chính trị của các dân tộc du mục trên cao nguyên Mông Cổ từ thế kỷ thứ tư trở đi. Khả hãn xuất hiện sớm nhất vào thế kỷ III ở bộ lạc người Tiên Ti, ban đầu được dùng làm từ ngữ xưng hô đối với tù trưởng của bộ lạc, cũng viết thành Khả hàn (可寒), và trở thành xưng hiệu của vua chúa một nước sớm nhất từ năm 402 khi thủ lĩnh người Nhu Nhiên là Xã Luân thống nhất Mạc Bắc (phía bắc sa mạc Gobi) sử dụng. Về mặt phân loại trong Hán ngữ, Khả hãn tương đương với Quốc vương; các dân tộc thuộc ngữ hệ Altai như Nhu Nhiên, Turk (người Hán gọi là Đột Quyết), Uyghur (Hồi Hột, ngày nay thường gọi là Duy Ngô Nhĩ), Thổ Cốc Hồn, Kyrgyz, Mông Cổ, Mãn Châu đều dùng Khả hãn để chỉ thủ lĩnh. Sau khi đế quốc Mông Cổ diệt vong, bởi tiếp thu ảnh hưởng mà vua chúa các nhà nước thuộc giai đoạn lịch sử kế tiếp dù đã bị Hồi giáo hóa hoặc Turk hóa như đế quốc Timur ở Trung Á, hãn quốc Kazak, hãn quốc Bukhara, hãn quốc Crimea, ban đầu vẫn gọi là Khả hãn.
Nguyên thủy, Khả hãn là từ ngữ tôn xưng của
người trong bộ lạc đối với thủ lĩnh bộ lạc ấy. Tại di chỉ hang động Kiết Tiên thuộc
kỳ tự trị Ngạc Luân Xuân, Nội Mông, Trung Quốc, trong văn bản Thái Bình Chân
Quân tứ niên thạch khắc chúc văn (tạm dịch Văn khấn khắc trên đá năm Thái
Bình Chân Quân thứ tư) trên hiện vật tìm thấy ở đó, thì Khả hàn nguyên
ý biểu thị là Quốc vương. Khác với xưng hiệu Thiền vu của thủ lĩnh người
Hung Nô trước đó, các bộ lạc Tiên Ti dùng Khả hãn trong xưng hô, nhưng dường
như lúc này thân vương, quý tộc, đại thần, đều có thể dùng. Trong Thổ Cốc Hồn
truyện, trưởng sử Ất Na Lâu, tùy khẩu đã gọi các trưởng huynh, thứ huynh của
vua nước mình là Khả hàn, như vậy lúc này Khả hãn chưa chính thức dùng để biệt
xưng đối với vua chúa, mà vẫn chỉ là một dạng từ ngữ tôn xưng đối với thân vương
tông thất. Thời kỳ Mộ Dung Thổ Cốc Hồn làm thủ lĩnh, trong phong tục của người
Tiên Ti, Khả hãn dùng để chỉ vua chư hầu, hoặc tù trưởng các bộ lạc nhỏ, hay
vua của phiên thuộc được phong, phân biệt danh xưng Hoàng đế chuyên chế một cõi.
Hơn nữa, Mộ Dung Ma Kế kiến lập bộ lạc Mộ Dung, tự xưng mình là Đại thiền vu
Tiên Ti, chứ không phải là Mộ Dung bộ khả hãn, như vậy có nghĩa là
Khả hãn mới dùng để chỉ vua chúa các bộ lạc nhỏ khác ở khu vực Liêu Đông, chứ
không như Thiền vu hay Hoàng đế đương thời. Sử liệu của các triều đại Trung Nguyên
ghi chép, xưng hiệu Khả hãn sớm nhất là ở họ Thác Bạt thị từ năm 261, Tư trị
thông giám có viết: Cảnh Nguyên (niên hiệu của Tào Ngụy Nguyên đế) năm thứ hai (tức
năm Tân Tỵ, dương lịch 261 CN), năm ấy, người Tiên Ti đòi thủ lĩnh Thác Bạt
Lực Vi trước phải cho con là [Thác Bạt] Sa Mạc Hãn vào cống, nhân đó lưu lại làm
con tin. Đời trước của Lực Vi cư trú ở cõi xa phía bắc, không giao tiếp với phương nam, tới đời Khả hãn Mao Thủy thì cường thịnh, thống nhất được ba mươi sáu nước,
chín mươi chín họ lớn. Năm đời sau tới Khả hãn Thôi Dần, dời xuống phía nam Đại
Trạch (tức hồ Baikal). Lại tới đời thứ bảy là Khả hãn Lân, sai anh em mình
bảy người cùng tộc nhân là Ất Chiên thị, Xa Côn thị, chia ra thống quản bộ chúng
làm mười tộc. Còn Khả hãn được ghi chép là xưng hiệu dành cho vua chúa sớm
nhất vào năm 402 khi thủ lĩnh người Nhu Nhiên là Xã Luân thống nhất Mạc Bắc tự
xưng, Ngụy thư – Liệt truyện 91 chép lại: [Xã Luân] lấy tự hiệu
là Khâu Đậu Phạt khả hãn. Tống thư của Nam triều có chép Khả hãn
trong tiếng Tiên Ti gọi là Khả hàn, nguyên ý chỉ vua một nước. Cựu Đường
thư chép: Khả hãn, giống như Thiền vu thời cổ; Vợ [của Khả hãn] hiệu Khả
hạ đôn, giống như Yên chi thời cổ vậy (Yên chi là hiệu của vợ Thiền vu).
Trong Mộc Lan từ (nói về nhân vật Hoa Mộc Lan, được cho là sống vào thời
Bắc Ngụy) có câu Khả hãn đại điểm binh, thì Khả hãn ở đây chỉ Hoàng đế của
Bắc triều (nhà Bắc Ngụy). Đỗ Hựu nhà Đường nói Khả hãn giống như nói Hoàng đế. Thổ Cốc Hồn
truyện của Tống thư: Giặc nói rằng: Chữ Khả hàn, như người Tống họ gọi Quan gia
(Hoàng đế) vậy. Cách biểu đạt như vậy cũng xuất hiện nhiều
trong các thiên Thổ Cốc Hồn truyện của các sách Ngụy thư, Bắc sử. Còn chữ Khả
hàn viết thành Khả hãn, quyển 112 sách Tư trị thông giám Hồ Tam Tỉnh
có chú giải rằng: Chữ "hãn" 汗 có âm đọc là "hàn" 寒, còn chữ "khả" 可 âm đọc là "khan" 刊. Tại di chỉ khảo cổ hang động Kiết Tiên phát hiện văn khắc năm 443 CN Thái Bình Chân Quân tứ niên thạch khắc chúc văn ghi lại: Đương vào năm thứ tư Thái Bình Chân Quân, tức năm Quý Mùi,
tháng bảy nhằm ngày mùng năm, Thiên tử (chỉ Bắc Ngụy Thái Vũ đế) thần cầu đảo,
dẫn sáu quan Bộc xạ khố Trung thư thị lang là Lý Xưởng, Phó Nâu, Dụng Tuấn Túc,
Nhất Nguyên Đại Vũ, Nhu Mao Chi Sinh làm yết giả, thành khẩn chiếu cáo với đấng
Hoàng thiên rằng: … Bởi, Hoàng tổ [thần] trước gọi là Khả hàn, Hoàng tỉ [thần]
trước gọi là Khả đôn. Kính mong [các vị] hưởng thụ [lễ vật]. Nay dâng hiến vật
phẩm mùa xuân, sai sứ đọc lên cho rõ.
Trong quan niệm của người Nữ Chân, Hãn là
xưng hiệu của người thống trị tối cao một quốc gia, đối với Hán ngữ tương tự như
Hoàng đế, tuy nhiên trong ngôn ngữ văn tự giữa Hãn và Hoàng đế có một chút khác
biệt. Dựa vào âm nghĩa, Hãn là sự rút gọn từ Khả hãn trong tiếng Mông Cổ. Song căn
cứ theo tư liệu lịch sử ghi chép, người Nữ Chân sớm đã sử dụng xưng hiệu này, thời
nhà Kim (1115-1234), người Nữ Chân đã gọi người thống trị tối cao là Hãn, đồng
thời cũng dịch sang Hán ngữ thành Hoàng đế để sử dụng. Chuyên gia nổi tiếng về
ngữ văn Nữ Chân là Kim Phóng Tông tiên sinh chỉ rõ: Chữ Nữ Chân viết “xua’q-di”
tức là mô tả trực tiếp âm đọc “Hoàng đế” trong Hán ngữ; Trên bia chùa Vĩnh Ninh, từ “Hoàng đế “ viết thành “xa-an”, âm Hán đọc là Hãn hoặc Hợp hãn, đó
là cách thức xưng hô đặc trưng của bản tộc Nữ Chân. Lại căn cứ vào Ngự
chế Thanh văn giám xuất bản thời Khang Hy, mục từ Hãn có giải thích:
gurun beuherilehe ejen be,manju,monggo han seme tukiyembi, có nghĩa là Vua
chúa một nước, Mãn Châu, Mông Cổ gọi là Hãn. Sách Ngự chế tăng đính
Thanh văn giám thời Càn Long nói, chữ hãn, ứng với chữ quân
(vua) trong Hán văn, cũng tương đồng với sách Ngự chế
Thanh văn giám thời Khang Hy.
Hoàng đế Bắc Ngụy được các bộ lạc thảo
nguyên gọi là Khả hãn. Trong Ô Hoàn Tiên Ti truyện của Mã Trường Thọ có
thống kê về việc nhà Bắc Ngụy đã thống nhất ít nhiều các bộ lạc phương bắc: 10
bộ lạc có huyết thống Thác Bạt thị (Đại Bắc Tiên Ti), 6 bộ lạc Hung Nô, 6 bộ lạc
Đinh Linh, 3 bộ lạc Nhu Nhiên có nguồn gốc Tiên Ti, 9 bộ lạc Ô Hoàn và Đông bộ
Tiên Ti, 10 bộ lạc khác. Nếu theo tường thuật trên, tổng cộng có 41 bộ lạc, như
vậy có thể xem nhà Bắc Ngụy trước khi tiến vào Trung Nguyên đã có khả năng khống
chế hữu hiệu đối với các bộ lạc phương bắc. Các triều đại Trung Nguyên thường sử
dụng minh ước nhập cống như một thủ đoạn chính trị truyền thống đối với các nhà
nước du mục, theo đó có 35 bộ lạc khác nhau chịu sự ràng buộc theo hình thức ki
mi của nhà Bắc Ngụy. Căn cứ vào ghi chép của Ngụy thư, đương thời Bắc Ngụy khống
chế được 75 dòng họ, đó là vì đã chuyển sang dùng hình thức ki mi, và con số này
cũng chỉ nên xem là số lượng đại khái. Ở vào thời kỳ quốc lực Bắc Ngụy cường thịnh,
thường xuyên giao chiến với nhà Lưu Tống ở phía nam, Ngụy Thái Vũ đế khi ra chiến
thư có nói: Nay ta sai quân lớn sang, đều không phải người trong nước. Phía đông
bắc thành có người Đinh Linh và người Hồ, phía nam là người Đê, người Khương. Ví
thử người Đinh Linh chết, thì giặc ở Thường Sơn, Triệu Quận có thể giảm; người
Hồ chết, thì giặc ở Tịnh Châu giảm; người Đê và người Khương chết, thì giặc ở Quan Trung
giảm. Vào thời kỳ niên hiệu Khai Hoàng, khi Tùy Văn đế Dương Kiên tại vị, về mặt quân
sự công diệt nước Trần của Nam triều, thống nhất Trung Quốc sau hàng trăm năm phân liệt, lại
kích phá Đột Quyết, được vua chúa các nước tôn xưng làm Thánh nhân khả hãn;
Nhà Đường năm Trinh Quán thứ tư sau khi đánh bại Đông Đột Quyết, vua chúa các
quốc gia Tây Vực tại Trường An cũng tôn Đường Thái Tông Lý Thế Dân làm Thiên
khả hãn; cho đến tận thời Đường Huyền Tông sau khi dẹp xong loạn An Sử. Thời Ngũ
đại, người Hồi Hột cũng gọi Hoàng đế Trung Nguyên là Khả hãn, như trong Tống
sử - Hồi Hột truyện: Trước đấy, nhà Đường [các đời] nối nhau lấy công chúa
hạ giá (gả cho người Hồi Hột), cho nên Hồi Hột các đời đều xưng là “Trung
triều vi cữu”, Trung triều mỗi lần ban chiếu hồi đáp, cũng gọi [Hồi Hột] là ngoại
sanh (tức thông gia, nhà ngoại). Từ Ngũ đại trở về sau đều noi theo việc
đó. Khả hãn vương triều họ Lý ở Vu Điền (nay thuộc Tân Cương, Trung Quốc, được xem như là nhà nước kế tục của Hồi Hột) cũng đều
gọi Hoàng đế nhà Tống là Hán gia a cữu đại quan gia (theo Tống sử -
Vu Điền truyện). Sách Tùng mạc kỷ văn chép: Hồi Hột từ thời Đường
mạt dần dần suy vi, lúc ấy triều ta (chỉ nhà Tống) cường thịnh mới nhập
cư vào đất Tần (Thiểm Tây), đất Xuyên (Tứ Xuyên), thành ra người ở
đất đấy. Con gái chưa chồng trước giờ qua lại với người Hán, sinh vài đứa con đến
khi tuổi gần ba mươi mới kết hôn với người cùng tộc. Lúc bà mối tới bàn việc cưới
xin, cha mẹ liền hỏi, thì người nữ đáp từng ăn ở với người này người kia, coi đó
là việc tốt, phong tục đều cho là mặc nhiên. Nhà Liêu thống quản khu vực Tây
Bắc, Hoàng đế Liêu cũng được các bộ lạc trên thảo nguyên gọi là Khả hãn, cấm chỉ
hoàn toàn các bộ lạc Trở Bốc (tên gọi thời Liêu dùng để chỉ người Mông Cổ) tự ý
xưng Khả hãn. Thời kỳ Liêu-Tống, ở Tây Vực xuất hiện vương triều Khách Lạt hãn,
thủ lĩnh đứng đầu đều dùng chữ Đào Hoa Thạch hãn (Temahaj
Khan) làm xưng hiệu, như Đào Hoa Thạch hãn Y Bất
Lập Hân, Đào Hoa Thạch hãn Hồ Tái Âm,…Trung Hoa hay nước Tần, theo quan niệm của
họ được chia làm ba phần: Thượng Tần ở phía đông là Đào Hoa Thạch, Trung
Tần tức là Khiết Đan (tức nhà Liêu) và Hạ Tần là Bát Nhĩ hãn; có thể
là Ba Nhĩ hãn gần Khách Thập Cát Nhĩ (Kashgar, Tân Cương, Trung Quốc). Đương thời
(tức là thời của Khách Lạt hãn quốc) gọi Đào Hoa Thạch là Mã Tần còn Khiết
Đan chỉ gọi là Tần. Học giả người Nga Vasily
Vladimirovich Bartold nhận định: Tần ở đây chỉ phía bắc
Trung Quốc, Mã Tần chỉ phía nam Trung Quốc. Người Khách Lạt chỉ dùng từ Đào
Hoa Thạch để gọi Mã Tần, cũng gọi là Thượng Tần. Còn Trung Tần chỉ người
Khiết Đan đang thống trị miền trung của Trung Quốc, Hạ Tần là khu vực phía nam
Tân Cương ngày nay.
Năm 1206, Thiết Mộc Chân được các bộ
lạc trên thảo nguyên Mông Cổ ủng hộ lập làm Thành Cát Tư hãn, sau đó Oa Khoát Đài hãn
được các quần thần, đứng đầu là Gia Luật Sở Tài, kiến nghị xưng thành Hợp hãn
(mang ý Hãn của các hãn), trong tư liệu văn hiến thường dùng chữ Hợp hãn
hoàng đế để chỉ Oa Khoát Đài. Sau khi đế quốc Mông Cổ phân liệt, những nhà nước
kế tục trên lãnh thổ của bốn hãn quốc lớn của đế quốc Mông Cổ trước đó, bất luận
lớn nhỏ đều xưng Khả hãn như hãn Timur, hãn Crimea, hãn Kazan, hãn Siberia liên
tục cho đến tận thế kỷ XIX. Còn về phần lãnh thổ Mông Cổ sau khi đế quốc Mông Cổ
tan rã, Đài cát của các bộ lạc tự xưng Hãn không có thứ tự, trong văn tự Mông Cổ,
Mãn Châu gọi Hoàng đế nhà Minh theo ngữ cảnh là Thiên hoàng đế (tức Thiên
tử) và Hãn, như Hồng Vũ hãn, Vĩnh Lạc hãn, Cảnh Thái hãn,
Minh Thần Tông cũng được gọi thành Vạn Lịch hãn. Sa hoàng nước Nga cùng
thời mới khuếch trương thế lực, dần dần thôn tính các hãn quốc ở Đông Âu và
Trung Á, một số hãn quốc chịu thần phục cũng gọi Sa hoàng Nga là Tra Can khả
hãn (ngụ ý Hoàng đế da trắng).
![]() |
| Thành Cát Tư hãn, Khả hãn đầu tiên của đế quốc Mông Cổ |
Nỗ Nhĩ Cáp Xích sau khi kiến lập Hậu Kim tự xưng Hãn hiệu bằng tiếng Mông Cổ là Côn Đô Luân hãn, Hoàng Thái Cực kế vị vẫn tiếp tục xưng Hãn, trong Mãn văn phàm những lúc đề cập tới Hoàng đế của nước Hậu Kim thì vẫn dùng chữ hãn để biểu ý cho chữ đế. Thời kỳ Hoàng Thái Cực hòa hoãn cùng tướng lĩnh nhà Minh là Viên Sùng Hoán, trong thư tín Hán văn có dùng chữ Đại Kim quốc hoàng đế, do đó từng bị Viên Sùng Hoán chỉ trích đó là chướng ngại trong việc nghị hòa. Lẽ hiển nhiên là nếu dựa vào đó mà cho rằng Viên Sùng Hoán xem xưng hiệu Hoàng đế rõ ràng cao hơn so với xưng hiệu Hãn, thì đó thực là một quan niệm sai lầm và cũ kỹ. Người thời nay phiên dịch sử liệu Mãn văn, thường ngộ nhận về việc xưng Hãn, khi dịch văn hay dùng theo nghĩa không giống nhau, để tỏ cái ý còn tồn tại tôn ti. Theo đó, đối với Nỗ Nhĩ Cáp Xích, Hoàng Thái Cực, người phiên dịch đều dùng Hãn, còn đối với nhà Kim (ở đây là nhà Kim trước đó), nhà Minh đều dùng chữ đế hoặc hoàng đế, hơn nữa cũng không bổ sung chú thích, cơ hồ như không bao giờ dùng lẫn lộn giữa hãn và đế. Dựa theo kiểu dịch văn này, tuy chỉ nằm ở âm dịch và sự khác biệt trong ý dịch, song nếu không hiểu rõ về ngữ văn Nữ Chân (Mãn Châu) thì rất dễ sản sinh ngộ nhận mà sử dụng tùy tiện, vì trong tiếng Nữ Chân (Mãn Châu) cũng có hai đơn từ Hãn và Hoàng đế tự dạng khác nhau, người phiên dịch dựa vào đó mà suy diễn rồi thêm thắt, khiến cho sự sai lầm càng tiến xa. Hoàng Thái Cực về việc xưng hô ban đầu cũng tỏ ra nhượng bộ, từng nói rõ rằng chỉ xưng hãn mà không xưng đế, đó là vì trong quan niệm của người Minh và người Triều Tiên, chỉ có Hoàng đế nhà Minh mới đủ tư cách xưng Hoàng đế, còn Hãn đối với họ chẳng qua chỉ là từ tôn xưng không cùng đẳng cấp. Sử Triều Tiên cũng nói Nỗ Nhĩ Cáp Xích “tự xưng vương ở bên trong”. Tại thời kỳ Thiên Thông, nhiều quan lại người Hán khi dâng trình tấu sớ với Hoàng Thái Cực đều gọi Hoàng Thái Cực là Hãn. Tới khi thế lực quân sự và chính trị của nước Hậu Kim phát triển lớn mạnh, tôn xưng của Hoàng Thái Cực chuyển từ Đại hãn lên thành Hoàng đế là một việc tất yếu. Trong khái niệm của tộc Nữ Chân, tuy hãn tức là đế, song từ hoàng đế trong văn hóa Hán, so với hãn của các dân tộc du mục, là xưng vị cao quý hơn hẳn. Hoàng Thái Cực thống nhất Mạc Nam Mông Cổ, đánh bại Triều Tiên, phía nam đánh nhà Minh, phía bắc chinh phục người Sách Luân, sau khi thu được thắng lợi liên tiếp, tất nhiên không chỉ muốn làm Đại hãn của Hậu Kim, mà còn muốn làm Hoàng đế của cả thiên hạ. Hoàng Thái Cực đặt quốc hiệu Đại Thanh, đồng thời tiếp thu tôn hiệu của quần thần Mãn, Mông, Hán dâng lên là Khoan Ôn Nhân Thánh hoàng đế. Quân chủ đời Thanh xưng Hoàng đế, còn tước hiệu Hãn trong tiếng Mông Cổ lại đem ban phong cho số ít vương công ngoại phiên Mông Cổ như Khách Nhĩ Khách có 3 người, Ách Lỗ Đặc có 1 người được phong Hãn.
![]() |
| Hoàng Thái Cực, Đại hãn Hậu Kim, cũng là Hoàng đế đầu tiên của nhà Thanh |
Tại khu vực Kavkaz và Trung Á, vua chúa các nhà nước xưng Hãn trước sau đều bị đế quốc Nga thôn tính, cho tới sau cách mạng tháng Mười, vẫn còn tồn tại hãn quốc Khiva và hãn quốc Bukhara, kết cục bị chính quyền Xô viết xóa bỏ, đến đây xưng hiệu Khả hãn dành cho vua chúa cũng không còn. Tới những năm đầu Dân quốc, Jebtsundamba Bogd Gegeen, lãnh đạo Phật giáo Tây Tạng ở Mông Cổ được Viên Thế Khải phong làm Hô Đồ Khắc Đồ hãn (Khutuktu Khan), sau bản thân Viên Thế Khải xưng đế, xưng hiệu của Bogd Gegeen sau khi chết cũng bị chính quyền Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ xóa bỏ.
Bài viết được chọn lọc và chuyển ngữ
từ đường dẫn: https://baike.baidu.com/item/%E5%8F%AF%E6%B1%97/16402499




Nhận xét
Đăng nhận xét