Khái lược về Cấm quân trong lịch sử Trung Quốc trước năm 1912
Cấm quân 禁軍, là lực lượng vũ trang trực tiếp thuộc quyền thống lĩnh bởi
đế vương hoặc nguyên thủ quốc gia, đảm nhiệm việc hộ vệ nguyên thủ hoặc hoàng
cung, cũng như cảnh giới cho thủ đô.
1. Thời kỳ Tiên Tần
Ở vào thời Tam đại, nhà Hạ và nhà
Thương không có lực lượng vũ trang thường trực, vì vậy khi tiến hành các hoạt
động quân sự phải động viên bình dân và nô lệ tổ chức thành quân đội mang
tính chất lâm thời. Đến thời nhà Chu, mới thiết lập ra quân thường trực.
Sách Chu lễ - Hạ quan tư mã nói: “Phàm việc
quân chế, cứ một vạn hai nghìn năm trăm người gọi là một quân, vương (tức Thiên
tử nhà Chu) có sáu quân, nước (ở đây chỉ các nước chư hầu, hoặc các lãnh thổ
được phân phong cho các quý tộc công khanh có địa vị thấp hơn mức chư hầu) lớn
là ba quân, nước vừa là hai quân, nước nhỏ là một quân”. Thiên tử nhà Chu trực
tiếp thống lĩnh một lực lượng vũ trang gồm “sáu quân” (75000 người), các nước
chư hầu còn lại dựa vào quy mô lớn nhỏ đều sở hữu lực lượng vũ trang từ một đến
ba quân. Sáu quân có nhiệm vụ bảo vệ Thiên tử, thủ bị Vương kỳ (Kinh đô và vùng
đất phụ cận), chinh phạt các chư hầu và man di không chịu thần phục, tính chất
tương đương với cấm quân. Tướng lĩnh thống soái sáu quân theo phép tắc phân
biệt, do đại thần triều đình (khanh sĩ) đảm nhiệm. Về sau, hậu thế dùng chữ
“sáu quân” thành từ ngữ dùng để phiếm chỉ cấm quân.
2. Thời kỳ Tần – Hán
Nhà Tần đặt ra chức Vệ úy chưởng quản
quân binh đóng giữ các cửa hoàng cung, Trung úy quản quân binh đồn trú kinh đô.
Buổi đầu nhà Hán noi theo phép cũ nhà
Tần, chia thành Nam, Bắc hai quân. Nhà Hán dùng Vệ úy quản Nam quân, đảm nhiệm
việc thủ vệ cung thành, còn Trung úy quản Bắc quân, đảm nhiệm việc phòng bị
kinh đô.
Đến thời Hán Vũ đế, lập hai nhánh
“Thiên tử Thị vệ Cấm binh” tại Nam quân, một gọi là “Kiến Chương doanh kỵ”, hai
gọi là “Kỳ Môn kỵ”, sau đổi tên thành “Vũ Lâm” và “Hổ Bôn”. Lấy chức Trung lang
làm trưởng quan của mỗi nhánh Vũ Lâm, Hổ Bôn.
Kiến Chương doanh kỵ phụ trách thủ vệ
cung Kiến Chương, sau đổi là “Vũ Lâm kỵ” mang nghĩa “Vi quốc vũ dực, như lâm
chi thịnh” (“làm lông cánh của nước, như rừng mọc sinh sôi”). Hán Vũ đế lại giữ
con em tướng sĩ chết trận nuôi dưỡng trong Vũ Lâm kỵ, tạo thành một lực lượng
đặc biệt gọi là “Vũ Lâm cô nhi”.
Kỳ Môn kỵ mang nghĩa “Hoàng đế vi
hành, kỳ chư điện môn” (“Hoàng đế đi vi hành thì đứng trông ở các cửa điện”).
Thời Hán Bình đế đổi tên thành “Hổ Bôn kỵ” mang nghĩa “Nhược hổ bôn thú”
(“[Quân mạnh] như hổ đuổi thú”). Chữ 賁 giống như chữ 奔(cũng đọc là “bôn”), dùng ngôn từ sắc thái mãnh liệt, tả sĩ
khí quân binh mạnh như hổ săn mồi vậy.
Năm Nguyên Đỉnh thứ sáu thời Hán Vũ
đế, ở Bắc quân thiết lập tám nhánh cấm binh, lấy chức Hiệu úy thống lĩnh, bao
gồm: Trung Lũy, Đồn Binh, Bộ Binh, Việt Kỵ, Trường Thủy, Hồ Kỵ, Xạ Thanh, Hổ
Bôn, gọi chung là “Bát Hiệu úy”. Trong Nam Bắc hai quân, Nam quân thường theo
hầu bên cạnh hoàng đế, nên tương đối được xem trọng hơn.
Sang thời Đông Hán, hai nhánh Vũ Lâm,
Hổ Bôn thuộc Nam quân cùng với Bát Hiệu úy thuộc Bắc quân, đều giữ theo phép
cũ, nhưng lấy chức Trung hầu của Bắc quân làm võ quan tối cao phòng vệ cung
thành. Thời Hán Linh đế, do phải thảo phạt giặc Khăn Vàng và người Tây Khương,
năm Trung Bình thứ năm mới chiêu mộ tráng đinh ở Tây Viên thuộc Lạc Dương để
thành lập một lực lượng cấm quân xuất chinh để đối phó với tình hình chiến
tranh, gọi là “Tây Viên quân”, lấy Trung thường thị là Kiển Thạc nắm quyền
thống soái, lập tám chức Hiệu úy bao gồm:
·
Tây Viên Thượng quân Hiệu úy: Kiển
Thạc
·
Hổ Bôn Trung lang tướng – Trung quân
Hiệu úy: Viên Thiệu
·
Hạ quân Hiệu úy: Bào Hồng
·
Nghị lang – Điển quân Hiệu úy: Tào
Tháo
·
Trợ quân Hiệu úy: Triệu Dung, Phùng
Phương
·
Tả quân Hiệu úy: Thuần Vu Quỳnh
·
Hữu quân Hiệu úy: Hạ Mưu
Sử gọi đây là “Tây Viên Bát Hiệu úy”.
3. Thời kỳ Tam quốc
Ngụy Văn đế Tào Phi tổ chức lực lượng
thị vệ của mình gọi là “Vũ Vệ doanh”, dựa vào việc cải biên lực lượng tinh nhuệ
Hổ Báo kỵ do Tào Tháo sáng lập vào cuối thời Đông Hán.
4. Nhà Tùy
Cấm quân của nhà Tùy bao gồm mười hai
vệ, chia thành: Tả hữu Dực vệ, Tả hữu Kiêu vệ, Tả hữu Vũ vệ, Tả hữu Đồn vệ, Tả
hữu Hậu vệ, Tả hữu Ngự vệ. Ở Đông cung lập sáu “soái”: Thái tử Tả hữu vệ soái,
Thái tử Tả hữu ty ngự soái, Thái tử Tả hữu Thanh đạo soái. Mười hai vệ này giữ
hai nhiệm vụ song song, thứ nhất là tuần tra phòng vệ kinh sư, thủ hộ bên trong
cung cấm Thiên tử. Binh lực do các “Chiết xung phủ” ở các địa phương cung cấp
dân quân luân phiên lên kinh sư cấu thành. Tuy nhiên về mặt cơ cấu quản lý quân
sự, mười hai vệ phân biệt với các Chiết xung phủ ngoài kinh sư, lấy Tả hữu Dực
vệ làm đơn vị chỉ huy tối cao, thống hạt cả mười hai vệ và sáu “soái”.
5. Nhà Đường
a. Nam nha Thập lục vệ
Nhà Đường duy trì mười hai vệ của nhà
Tùy: Tả hữu Vũ Lâm đổi thành Tả hữu vệ; Tả hữu Kiêu vệ; Tả hữu Vũ vệ; Tả hữu
Đồn vệ đổi thành Tả hữu Uy vệ; Tả hữu Hậu vệ đổi thành Tả hữu Kim Ngô vệ; Tả
hữu Ngự vệ đổi thành Tả hữu Lĩnh quân vệ. Bên cạnh đó, lập thêm bốn vệ: Tả hữu
Thiên ngưu vệ, Tả hữu Giám môn vệ, tất cả gọi chung là “Nam nha Thập lục vệ”.
Thời Đường Huyền Tông, do sự suy thoái
của chế độ Phủ binh, không còn hữu hiệu trong việc kiểm soát các phiên trấn nổi
lên, nên vào năm Khai Nguyên thứ mười một, lệnh triệu tập phủ binh và bình dân
các đất Kinh Triệu (phụ cận Trường An), Bồ Châu (trị sở nay thuộc trấn Bồ Châu,
tây nam thành phố Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây), Đồng Châu (trị sở nay thuộc huyện Đại
Lệ, thành phố Vị Nam, tỉnh Thiểm Tây), Kỳ Châu (trị sở nay thuộc quận Phượng
Tường, thành phố Bảo Kê, tỉnh Thiểm Tây), Hoa Châu (trị sở nay thuộc quân Hoa
Châu, thành phố Vị Nam, tỉnh Thiểm Tây), sau tăng thêm Lộ Châu (trị sở nay
thuộc thành phố Trường Trị, tỉnh Sơn Tây) để bổ sung vào quân số của Thập lục
vệ, tòng quân dài hạn, tất cả gồm mười hai vạn quân, gọi là “Trường tòng Túc
vệ”, đến năm Khai Nguyên thứ mười hai đổi gọi là “Khoách kỵ”, năm Khai Nguyên
thứ mười ba, lại đem binh lực Khoách kỵ thuộc vào mười hai vệ cũ (ngoại trừ Tả
hữu Giám môn vệ và Tả hữu Thiên ngưu vệ). Từ sau niên hiệu Thiên Bảo trở đi,
quân Khoách kỵ bị phế trừ, các phủ binh ở địa phương cũng không còn khả năng
cung cấp quân cho triều đình, quan ngạch của Thập lục vệ tới đây gần như chỉ
còn tồn tại hư danh, còn về mặt võ bị không còn tồn tại.
b. Bắc nha Thập quân
Quân đội đi theo Đường Cao Tổ từ lúc
khởi nghĩa ở Thái Nguyên được tuyển chọn ra ba vạn làm cấm quân, phụ trách việc
thủ vệ hoàng cung, gọi là “Nguyên tòng Cấm quân”, do trú thủ ở mặt bắc hoàng
thành, nên cũng gọi là “Bắc nha”. Thời Đường Thái Tông, kén chọn thanh niên sức
khỏe tráng kiện từ các gia đình lớn, bổ sung vào cấm quân, lấy hiệu là “Phi
kỵ”, lại tuyển những người giỏi tài cưỡi ngựa bắn cung, lấy hiệu là “Bách kỵ”.
·
Tả hữu Vũ Lâm quân: Thời Đường Cao
Tông, lấy các phủ binh Việt Kỵ, Bộ Xạ bố trí thành Tả hữu Vũ Lâm quân, cầm đồ
nghi trượng đứng giữ hai bên cạnh bệ rồng trong các buổi đại triều hội, cũng như cầm nghi
trượng tùy giá hai bên đường theo sau khi hoàng đế lâm hạnh.
·
Tả hữu Long Vũ quân: Thời Võ Tắc
Thiên, mở rộng đội Bắc nha Bách kỵ, đổi gọi là “Vạn kỵ”. Đường Huyền Tông dùng
đội Vạn kỵ để phát động chính biến Đường Long lật đổ thế lực của tập đoàn Vi
hoàng hậu, sau khi lên ngôi bèn đổi tên Vạn kỵ thành Tả hữu Long Vũ quân.
·
Tả hữu Thần Vũ quân: Khi phát sinh
loạn An Sử, Huyền Tông phải chạy đi Tứ Xuyên, binh sĩ cấm quân tùy giá hộ vệ
chỉ có hơn một nghìn người, Đường Túc Tông tới Linh Vũ cũng chỉ có hơn một trăm
cấm quân tùy giá. Tới khi Túc Tông lên ngôi, dần dần chuyển những người này
điều bổ sung cho Bắc quân. Năm Chí Đức thứ hai, Túc Tông triệu tập con em quan
viên tùy tòng khi trước, thu lấy quân binh của họ bố trí vào hai đội Tả hữu
Thần Vũ quân, cũng gọi là “Thần Vũ Thiên kỵ”, biên chế giống với Tả hữu Vũ Lâm
quân, hợp cùng với Tả hữu Vũ Lâm quân và Tả hữu Long Vũ quân, gọi chung là “Bắc
nha lục quân”. Năm Nguyên Hòa thứ hai, giảm bớt quân số của Tả hữu Thần Vũ
quân.
·
Tả hữu Thần Uy quân: Bên cạnh việc bố
trí Tả hữu Thần Vũ quân, Túc Tông đồng thời cho chọn hơn nghìn binh sĩ giỏi
cưỡi ngựa bắn cung lập thành đội “Nha tiền Xạ sinh thủ”, cũng gọi là “Cung
phụng Xạ sinh quan” hoặc “Điện tiền Xạ sinh thủ”, phân thành Tả hữu sương, gọi
chung là “Tả hữu Anh Vũ quân”. Năm đầu niên hiệu Bảo Ứng, Trương hoàng hậu muốn
giết Thái tử Lý Dự để đổi lập Việt vương Lý Hệ, hoạn quan Lý Phụ Quốc mệnh
Trình Nguyên Chấn soái lĩnh Xạ sinh quân vào cung bình loạn, giết Trương hoàng
hậu, Việt vương, Túc Tông vì thế sợ hãi mà băng hà, Lý Phụ Quốc ủng lập Thái tử
lên ngôi trước linh cữu Túc Tông, tức là Đường Đại Tông. Sau đó Đại Tông ban
cho Xạ sinh quân danh hiệu “Bảo Ứng công thần”, vì vậy mà Xạ sinh quân còn gọi
là “Bảo Ứng quân”. Năm Trinh Nguyên thứ năm, đổi tên Xạ sinh quân Tả hữu sương
thành Tả hữu Thần Uy quân. Tới năm Nguyên Hòa thứ ba, gộp hai đội Tả hữu Thần
Uy quân thành một đội duy nhất gọi là “Thiên Uy quân”. Năm Nguyên Hòa thứ tám,
lại phế trừ Thiên Uy quân, binh sĩ đều đổi sang phân vào Thần Sách quân.
·
Tả hữu Thần Sách quân: Thần Sách quân
nguyên là đội quân được thành lập bởi tướng Ca Thư Hàn trong những năm Thiên
Bảo thời Đường Huyền Tông dùng để chống Thổ Phồn, sau do hoạn quan Ngư Triều Ân
lợi dụng khống chế, dần dần nâng lên hàng cấm quân, tồn tại năm 903, khi quân
phiệt Chu Ôn tiến vào Trường An, Thần Sách quân chính thức giải tán và thay
bằng quân lính của Chu Ôn. Nhà Đường mất không lâu sau đó.
6. Thời kỳ Ngũ đại và nhà Tống
Trong thời Ngũ đại, lực lượng trọng
yếu nhất của cấm quân được gọi là Thị vệ Thân quân, nguyên vào thời Đường mạt,
là thân binh có nhiệm vụ bảo vệ Tiết độ sứ, đồng thời cũng dùng để đối kháng với
lực lượng “nha binh” của các thế lực khác. Theo thời gian phiên trấn các địa
phương nổi dậy cát cứ, uy hiếp triều đình, thân quân của phiên trấn dần chuyển
hóa thành cấm quân. Hậu Lương Thái Tổ Chu Ôn ban đầu thiết lập Thị vệ Thân quân
ty, tới Hậu Đường Minh Tông tiến hành chỉnh đốn đối với Thị vệ Thân quân: Thứ
nhất, quy định lại cụ thể rõ ràng quân hiệu lúc bấy giờ đang tạp loạn; Thứ hai,
đối với kiêu binh hãn tướng khó kiểm soát, đều đem tru diệt để tuyệt hậu hoạn.
Thời Hậu Hán, xuất hiện thiết chế “Điện tiền ty” để xử lý, thanh tra các chức
vụ trong quân. Thời Hậu Chu, Điện tiền ty thường xuyên trở nên ngang ngược, khó
bề kiểm soát, vì vậy Chu Thế Tông thiết lập ra chức Điện tiền ty Đô điểm kiểm
để quản lý Điện tiền ty.
Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dận từng làm
Điện tiền ty Đô điểm kiểm cho nhà Hậu Chu, trải qua binh biến Trần Kiều, do cấm
quân ủng hộ mà trở thành hoàng đế khai quốc. Sau khi lên ngôi, Thái Tổ nhận
được nhiều sự ủng hộ từ các đại thần mà tiến hành thu lấy binh quyền của các võ
quan cao cấp, lại kế thừa quân chế dưới thời Hậu Chu để lại, cải cách lại binh
quyền ở các địa phương, dần dần thống hợp lực lượng thân quân của Tiết độ sứ
các trấn vào lực lượng cấm quân chỉ duy nhất phục tùng mệnh lệnh Hoàng đế. Tới
Tống Thái Tông tái phân bố, thiết trí ra nhiều chức vụ để chế ước lẫn nhau, đều
nghe theo hiệu lệnh của Hoàng đế, nhờ đó tránh được họa phiên trấn cát cứ địa
phương của nhà Đường trước đó.
Qua cải cách dưới hai triều Thái Tổ,
Thái Tông, cấm quân nhà Tống không chỉ đảm nhiệm việc tuần tra thủ vệ kinh sư
cho Thiên tử mà còn được phân bố ra toàn quốc để làm nhiệm vụ như quân đội
chính quy, nhằm chỉ ra và kế thừa việc sử dụng danh xưng “Cấm quân” có nghĩa là
nhấn mạnh vào nguyên tắc quản lý trung ương tập quyền bằng cách điều động quân
đội trực thuộc Thiên tử thực hiện các chức năng như quân đội chính quy. Theo đó
chỉ phân cấm quân lệ thuộc hai nhánh: Điện tiền chư ban (kỵ binh cận vệ) và Ngự
long chư trực (bộ binh cận vệ), biểu thị ý nghĩa cấm quân hộ vệ, cung phụng
trước điện (“Điện tiền”) của Thiên tử. Cấm quân nhà Tống có quân số lớn và có
chế độ bồi dưỡng vượt hẳn các triều đại trước. Căn cứ theo Quốc sử đại
cương của nhà sử học Tiền Mục (1895-1990), vào buổi đầu khai quốc nhà
Tống có hai mươi vạn cấm quân phân thành tả hữu, về sau càng ngày càng tăng,
tới thời Tống Huy Tông, Lâm Xung giữ chức Giáo đầu dạy thương pháp cho “tám
mươi vạn cấm quân”, dù con số đó là hư cấu, tuy nhiên dựa vào thông tin tên họ
và quê quán của binh lính cấm quân trong ngoài tại những năm Khánh Lịch thời
Tống Nhân Tông đạt tới mức tám mươi ba vạn người. Trải qua Hi Ninh biến pháp
cải cách lại quân chế và thanh lọc quân số, mặc dù quân số cấm quân do triều
đình quản lý về cơ bản đã giảm xuống, song dựa vào tên họ quê quán của binh sĩ
cấm quân dưới triều Huy Tông vẫn có hơn sáu mươi vạn người (tính gộp với lực
lượng sương quân ở các địa phương ước chừng hơn tám mươi vạn người). Sách Tục
tư trị thông giám – Tống Nhân Tông Khánh Lịch năm thứ tám:
“Trước kia người [Tây] Hạ trái mệnh (ý nói có việc chiến tranh với Tây Hạ), các
lộ tăng cường bố trí cấm quân chừng hơn bốn mươi hai vạn người, trải qua ba
triều, cựu binh đã lên tới tám chín mươi vạn người, thêm hương quân nghĩa dũng,
sương quân đóng ở các châu quận, số người dư thừa ở các quân còn phân nhỏ ra
nhiều hơn số ấy”. Chính xác mà nói, nhà Tống đặt một số lượng lớn cấm quân như
vậy đóng vai trò quân đội chính quy là việc từ xưa chưa từng có, cộng với việc
bên cạnh chủ trương “dĩ văn ngự võ” (đề cao văn quan để kiềm chế võ quan) thì lập luận cho rằng “dưỡng binh di loạn” (đãi ngộ quân lính quá rộng rãi sẽ thành mầm
loạn) dẫn tới chính sách phúc lợi yếu kém khiến cho sức chiến đấu của đại đa số
binh lính cấm quân sa sút là nguyên nhân chủ đạo dẫn tới sự suy vong của Tống.
Bên cạnh cấm quân, nhà Tống còn lập
thêm các lực lượng như sương quân, hương binh, phiên binh. Sương quân lương
bổng chỉ bằng một nửa so với cấm quân, do đó sức chiến đấu không cao, các lực
lượng khác không thuộc biên chế sương quân và cấm quân, chủ yếu phụ trách tu
sửa thành trì, thợ xây, thợ thủ công hoặc thợ chế tác binh khí ở các nhà xưởng
trong quan doanh, theo đó làm các việc rèn binh khí, chưng cất rượu, đóng
thuyền, đúc tiền, dệt may nhuộm vải; tu sửa đường sá, cầu cống, làm công tác
thủy lợi, vận chuyển công văn hoặc tài sản công. Tống sử - Binh chế có nói:
“Binh chế nhà Tống, đại khái có ba loại: Vệ binh của Thiên tử, dùng để giữ kinh
sư, chuẩn bị chinh thú, gọi là cấm quân; Quân trấn ở các châu, theo phân cấp mà
dùng, gọi là sương quân; Tuyển theo hộ tịch hoặc ứng mộ, tập trung huấn luyện,
dùng để phòng thủ nơi sở tại, gọi là hương binh”. Cấm quân nhà Tống tuân theo
phép Mộ binh chế, một khi nhập ngũ phải phục vụ suốt đời, tới khi già cả ốm yếu
mới ngưng quân dịch.
Cấm quân nhà Tống có thể chia thành
hai nhánh chính là Điện tiền quân và Thị vệ Thân quân, trong đó Điện tiền quân
là nhánh tinh nhuệ chủ chốt. Ngày 19 tháng Giêng năm Cảnh Đức thứ hai, Tống
Chân Tông chia Thị vệ Thân quân ty thành hai ty là Thị vệ Thân quân Mã quân ty
và Thị vệ Thân quân Bộ quân ty. Từ Thái Tổ đến Chân Tông dần bãi bỏ các chức vụ
cao như Điện tiền ty Đô điểm kiểm, Điện tiền ty phó Đô điểm kiểm, Thị vệ Thân
quân Mã bộ quân ty Đô chỉ huy sứ, Thị vệ Thân quân Mã bộ quân ty Phó đô chỉ huy
sứ và Thị vệ Thân quân Mã bộ quân ty Đô ngu hậu. Tới đây cấm quân phân thành ba
“nha” chỉ huy: Điện tiền ty, Thị vệ Thân quân Mã quân ty, Thị vệ Thân quân Bộ
quân ty. Ba ty lấy chức Đô chỉ huy sứ làm trưởng quan:
·
Điện tiền ty Đô chỉ huy sứ: gọi tắt là
“Điện soái”.
·
Mã quân ty Đô chỉ huy sứ: gọi tắt là
“Mã soái”.
·
Bộ quân ty Đô chỉ huy sứ: gọi tắt là
“Bộ soái”.
Ở dưới lập Phó đô chỉ huy sứ, Đô ngu
hậu mỗi chức một người. Do nhà Tống cấm quân thực tế đóng vai trò quân đội
chính quy của quốc gia nên trưởng quan của ba ty cũng là ba quan chỉ huy tối
cao của quân đội, gọi chung là “Tam soái”, trong đó đứng đầu là Điện tiền ty Đô
chỉ huy sứ. Ban đầu chức quan chỉ huy tối cao của cấm quân nhà Tống là chức
Điện tiền ty Đô điểm kiểm, ở trên chức Đô chỉ huy sứ, song do Tống Thái Tổ từng
giữ chức này dưới thời Hậu Chu sau đó phát động binh biến mà lên ngôi, nên nhà
Tống xem chức này như kỵ húy mà không thiết lập. Thông thường, Điện tiền ty Đô
chỉ huy sứ lấy Tiết độ sứ đảm nhiệm, các chức Điện tiền ty Phó đô chỉ huy sứ,
Điện tiền ty Đô ngu hậu phải từ Thứ sử trở lên đảm nhiệm. Chiếu thư năm Chính
Hòa thứ tư thời Tống Huy Tông có viết: “Điện tiền Đô chỉ huy sứ từ Tiết độ sứ
trở lên, Điện tiền Phó đô chỉ huy sứ từ Chính nhậm Thừa tuyên sứ trở lên, Điện
tiền Đô ngu hậu từ Chính nhậm Phòng ngự sứ trở lên; Mã quân Đô chỉ huy sứ, Mã
quân Phó đô chỉ huy sứ từ Chính nhậm Quan sát sứ trở lên, Mã quân Đô ngu
hậu từ
Chính nhậm Phòng ngự sứ trở lên; Bộ quân Đô chỉ huy sứ, Bộ quân Phó đô chỉ huy
sứ từ Chính nhậm Quan sát sứ trở lên, Đô ngu hậu từ Chính nhậm Phòng ngự sứ trở
lên [đảm nhiệm]”.
Như trên đã nói, binh ngạch của cấm
quân nhà Tống vì quy mô lớn, do đó sẽ chứa một số lượng lớn các đơn vị phiên
hiệu khác nhau, tính toàn quốc không dưới năm, sáu mươi phiên hiệu. Bên trong
lại chia thành các “quân” dựa theo mức bổng lộc, phân thành thượng quân, trung
quân, hạ quân. Bổng lộc hằng tháng (bằng tiền mặt) của thượng quân là từ một
nghìn đồng trở lên, từ năm trăm đồng đến một nghìn đồng là trung quân, dưới năm
trăm đồng là hạ quân. Đối với các đơn vị tinh nhuệ thuộc quyền quản hạt của
Điện tiền quân như Phủng Nhật, Thiên Vũ, Long Vệ, Thần Vệ Tả hữu sương tứ quân,
binh sĩ hưởng bổng lộc hằng tháng một nghìn đồng tiền, đãi ngộ hơn hẳn các đơn
vị sương quân khác, nên cũng gọi là “Thượng tứ quân”.
Sơ kỳ đến trung kỳ thời Bắc Tống, biên
chế cấm quân bao gồm: sương, quân, chỉ huy và đô. Các quân đều phân Tả hữu
sương, án theo biên chế chính quy, một trăm người là một “đô”, năm đô là một
“chỉ huy”, năm chỉ huy là một “quân”, mười quân là một “sương”. Ở cấp sương,
đặt chức Đô chỉ huy sứ, cấp quân đặt các chức Đô chỉ huy sứ và Đô ngu hậu, cấp
chỉ huy đặt các chức Chỉ huy sứ và Phó chỉ huy sứ, cấp đô đặt chức Quân sứ và
Phó binh mã sứ (đối với Mã quân) hoặc Đô đầu và Phó đô đầu (đối với Bộ quân).
Dưới Phó binh mã sứ và Phó đô đầu lại đặt các chức Quân đầu, Thập tướng, Tướng
ngu hậu, Thừa cục và Áp quan. Tống Thần Tông tiếp thu kiến nghị của Thái Đĩnh
sửa đổi binh chế, lấy hai mươi lăm người làm một “đội”, một trăm hai mươi lăm
người làm một “trận”, hai nghìn năm trăm người làm một “tướng”. Các lộ toàn
quốc đều lập 143 tướng như vậy, mỗi tướng đặt một Chính tướng và một Phó tướng,
dưới đặt các chức Bộ tướng, Đội tướng, Áp đội sứ thần, lại bố trí thêm Huấn
luyện quan.
Thời kỳ Nam Tống, do ban đầu Tống Cao
Tông chạy xuống miền nam, vai trò của cấm quân bị thay thế bởi các lực lượng
quân đội đồn trú ở những nơi mà Hoàng đế ngự giá tới. Đầu những năm Kiến Viêm
lập ra Ngự doanh ty, do Tể chấp đảm nhiệm luôn chức vụ Ngự doanh sứ kiêm Ngự
doanh phó sứ, quản lý Ngự doanh quân. Tới năm Kiến Viêm thứ tư, Cao Tông hạ
chiếu đổi Ngự doanh quân thành Thần Vũ quân. Năm Thiệu Hưng thứ năm, hạ chiếu
đổi Thần Vũ quân thành Hành doanh Hộ quân, lấy quân bản bộ của Hàn Thế Trung
làm Tiền hộ quân, quân bản bộ của Nhạc Phi làm Hậu hộ quân, quân bản bộ của Lưu
Quang Thế làm Tả hộ quân, quân bản bộ của Ngô Giới làm Hữu hộ quân, quân bản bộ
của Trương Tuấn làm Trung hộ quân. Năm Thiệu Hưng thứ mười hai, sau khi giải
trừ binh quyền của “Tam đại soái” (Nhạc Phi – Hàn Thế Trung – Trương Tuấn), lấy
các quân Ngự tiền trú đóng ở các châu phủ mà định lại phiên hiệu, tới trước
cuộc Khai Hi bắc phạt, có mười châu phủ lập quân Ngự tiền, hợp thành “Châu phủ
Trú trát Ngự tiền chư quân Đô thống chế ty” là Trấn Giang phủ, Kiến Khang phủ,
Giang Châu, Trì Châu, Ngạc Châu, Kinh Nam phủ, Hưng Châu, Hưng Nguyên phủ, Kim
Châu, Lợi Châu.
7. Nhà Nguyên
Nhà Liêu lập Túc vệ ty Thống lĩnh,
đóng ở mặt bắc ngự doanh của Hoàng đế. Sau khi Thành Cát Tư hãn kiến quốc, lập
ra Túc vệ đội, Thị vệ đội (tiếng Mông Cổ phiên sang Hán văn là “Ngốc Lỗ Hoa”)
và Tiễn đồng sĩ đội, hợp chung thành Hộ vệ quân, chịu sự chỉ huy của bốn “khiếp
tiết” trưởng là Mộc Hoa Lê, Xích Lão Ôn, Bác Nhĩ Hốt và Bác Nhĩ Thuật. Từ
Nguyên Thế Tổ trở về sau, Túc vệ quân trở thành cấm quân của Hoàng đế, bao gồm
tính cả các quân sĩ thuộc “khiếp tiết” được phân phiên thủ vệ trong cung lẫn
các Thị vệ Thân quân khác. Lập thành năm vệ, đặt chức Đô chỉ huy sứ quản lý, về
sau tăng cường quân số cho nhánh Thị vệ Thân quân. Thị vệ Thân quân lại được
chia đóng khắp kinh kỳ, đảm nhiệm việc xuất chinh hoặc cảnh vệ, nghi trượng:
Giữ nghi trượng ở các buổi đại triều hội gọi là Túc quân; Giữ nghi trượng ở các
buổi đại tế tự gọi là Nghi trượng quân; Hoàng đế xuất hành gọi là Hỗ tòng quân;
Bảo vệ gia đình Hoàng đế gọi là Khán thủ quân; Tuần tra ban đêm gọi là Tuần la
quân; Vận chuyển, trấn áp gọi là Trấn át quân. Quân hộ của binh sĩ được quyền
thế tập.
8. Nhà Minh
Cấm quân nhà Minh phân thành hai nhánh
chính: Kinh doanh, có nhiệm vụ thủ bị kinh sư; Thượng trực Nhị thập lục vệ Thân
quân, có nhiệm vụ tuần tra, cảnh vệ khu vực Hoàng thành, Tử Cấm thành.
a. Kinh doanh
Kinh doanh không chỉ phụ trách thủ bị
kinh sư mà còn dùng làm lực lượng quân đội khi xuất chinh. Minh Thành Tổ khi chinh
phạt thế lực tàn dư của nhà Nguyên ở Mông Cổ dùng Kinh doanh làm chủ lực. Binh
lực của Kinh doanh chủ yếu phân làm ba đại doanh.
·
Ngũ quân doanh: Mỗi năm điều động,
triệu tập quan binh vệ sở năm vùng Trung đô Phượng Dương, Sơn Đông, Hà Nam, Đại
Ninh luân phiên tới kinh sư, vì vậy mới gọi là “Ngũ quân”, lại cũng có thể vì
biên chế chia Ngũ quân doanh thành năm doanh Trung quân, Tả
dịch, Hữu dịch, Tả tiêu, Hữu tiêu, nên mới gọi là “Ngũ quân”.
·
Tam thiên doanh: Vốn là quân giữ cờ
lệnh và cờ độc kỳ theo hầu Hoàng đế, được lấy từ quan binh Bắc Trực Lệ. Trong
những năm Vĩnh Lạc, Minh Thành Tổ đi chinh phạt Mông Cổ, mới lấy ba nghìn hàng
binh biên thành một doanh, từ đó mới có tên “Tam thiên”, toàn doanh đều là kỵ
binh.
·
Thần cơ doanh: Trang bị các loại hỏa
thương và hỏa pháo.
Thông thường, Ngũ quân doanh phụ trách
đóng giữ quân doanh, Tam thiên doanh phụ trách tuần tra, cảnh giới, Thần cơ
doanh quản các loại súng pháo hỏa khí.
Trong lúc Hoàng đế ngự giá thân chinh,
ngự doanh của Hoàng đế nằm ở trung tâm, khi đó Ngũ quân doanh phân bố phòng thủ bên
ngoài xung quanh ngự doanh, lại phân bộ binh bố phòng bên trong, kỵ binh bố
phòng bên ngoài. Ra khỏi vòng kỵ binh là Thần cơ doanh bố phòng. Bên ngoài Thần
cơ doanh, đắp lũy đất chu vi hai mươi dặm, trên mặt lũy bố trí các loại chông
bằng gỗ trúc để làm chướng ngại. Trong sự biến Thổ Mộc bảo khi đối đầu với quân
Ngõa Lạt, gần như toàn bộ Kinh doanh bị xóa sổ.
Tới thời Minh Hiến Tông đem Tam đại
doanh của Kinh doanh cải biên và mở rộng thành “Thập nhị doanh”, cũng gọi là
“Thập nhị đoàn doanh” bao gồm:
·
Tứ Vũ doanh: Phấn Vũ, Diệu Vũ, Luyện
Vũ, Hiến Vũ.
·
Tứ Dũng doanh: Thủ Dũng, Quả Dũng,
Hiệu Dũng, Cổ Dũng.
·
Tứ Uy doanh: Lập Uy, Thân Uy, Dương
Uy, Chấn Uy.
Dưới mỗi “đoàn doanh”, lại tự phân hạt
theo biên chế của Kinh doanh khi trước: Ngũ quân doanh (Bộ quân), Tam thiên
doanh (Giữ cờ lệnh, cờ độc kỳ và nghi trượng), Thần cơ doanh (Hỏa khí, súng
pháo, kỵ binh).
Thời Minh Thế Tông lại bãi bỏ cơ chế
đoàn doanh mà khôi phục cơ chế Tam đại doanh như trước. Tại kinh sư các vệ quân
đều phân vào ba doanh, mười vệ là ba mươi doanh hợp thành Tam đại doanh.
b. Thượng trực Nhị thập lục vệ Thân
quân
Các vệ Thân quân trực tiếp thuộc Hoàng
đế buổi đầu kiến lập nguyên chỉ có mười hai vệ, theo chế định của Minh Thái Tổ vào năm Hồng Vũ thứ mười lăm (1382) bao gồm:
·
Kim Ngô Tiền vệ: Phòng vệ Ngọ môn cho
tới hai bên tả hữu Thừa Thiên môn, tả hữu Trường An môn, đông tây Hoàng thành.
·
Kim Ngô Hậu vệ: Phòng vệ hai bên tả
hữu Huyền Vũ môn cho tới hai bên tả hữu Bắc An môn.
·
Vũ Lâm Tả vệ: Phòng vệ hai bên tả hữu
Đông Hoa môn cho tới hai bên tả hữu Đông An môn.
·
Vũ Lâm Hữu vệ: Phòng vệ hai bên tả hữu
Tây Hoa môn cho tới hai bên tả hữu Tây An môn.
·
Phủ quân vệ: Phòng vệ Ngọ môn cho tới
hai bên tả hữu Thừa Thiên môn, tả hữu Trường An môn, đông tây Hoàng thành.
·
Phủ quân Tả vệ: Phòng vệ hai bên tả
hữu Đông Hoa môn cho tới hai bên tả hữu Đông An môn.
·
Phủ quân Hữu vệ: Phòng vệ hai bên tả
hữu Tây Hoa môn cho tới hai bên tả hữu Tây An môn.
·
Phủ quân Tiền vệ: Cận vệ thân cận của
Hoàng đế, cũng gọi là “Đới đao Xá nhân”, “Đới đao Thị vệ”.
·
Phủ quân Hậu vệ: Phòng vệ hai bên tả
hữu Huyền Vũ môn cho tới hai bên tả hữu Bắc An môn.
·
Hổ Bôn Tả vệ: Phòng vệ Ngọ môn cho tới
hai bên tả hữu Thừa Thiên môn, tả hữu Trường An môn, đông tây Hoàng thành.
·
Cẩm Y vệ: đầy đủ là “Cẩm Y vệ Đô chỉ
huy sứ ty”, quản các nhiệm vụ thị vệ, nghi trượng, truy nã, hạ ngục trực tiếp
theo lệnh Hoàng đế.
· Kỳ Thủ vệ: Quản các nhiệm vụ giữ nhạc khí, cờ xí, đi theo bảo vệ khi Hoàng đế ngự giá, khi cần có thể được điều động phòng vệ Ngọ môn cho tới hai bên tả hữu Thừa Thiên môn, tả hữu Trường An môn, đông tây Hoàng thành.
Năm Kiến Văn thứ tư, Yên vương Chu Đệ
phát động Tĩnh Nạn chi biến thoán vị thành công, sau lên ngôi tức là Minh Thành Tổ, đổi năm đó thành năm Hồng Vũ
thứ ba mươi lăm, liền thăng ba đội hộ vệ Yên vương khi còn ở Bắc Bình thành
Thân quân:
·
Vũ Lâm Tiền vệ: nguyên là Bắc Bình
“Yên Sơn Trung hộ vệ”, phòng vệ Ngọ môn cho tới hai bên tả hữu Thừa Thiên môn,
tả hữu Trường An môn, đông tây Hoàng thành.
·
Kim Ngô Tả vệ: nguyên là Bắc Bình “Yên
Sơn Hữu hộ vệ”, phòng vệ hai bên tả hữu Tây Hoa môn cho tới hai bên tả hữu Tây
An môn.
Tới năm Vĩnh Lạc thứ tư, Thành Tổ lại thăng bảy
vệ thuộc Bắc Bình Đô chỉ huy sứ ty cũ lên hàng Thân quân:
·
Yên Sơn Tả vệ: Phòng vệ hai bên tả hữu
Đông Hoa môn cho tới hai bên tả hữu Đông An môn.
·
Yên Sơn Hữu vệ: Phòng vệ hai bên tả
hữu Tây Hoa môn cho tới hai bên tả hữu Tây An môn.
·
Yên Sơn Tiền vệ: Phòng vệ Ngọ môn cho
tới hai bên tả hữu Thừa Thiên môn, tả hữu Trường An môn, đông tây Hoàng thành.
·
Đại Hưng Tả vệ: Phòng vệ hai bên tả
hữu Huyền Vũ môn cho tới hai bên tả hữu Bắc An môn.
·
Tế Dương vệ: Phòng vệ Ngọ môn cho tới
hai bên tả hữu Thừa Thiên môn, tả hữu Trường An môn, đông tây Hoàng thành.
·
Tế Châu vệ: Phòng vệ Ngọ môn cho tới
hai bên tả hữu Thừa Thiên môn, tả hữu Trường An môn, đông tây Hoàng thành.
·
Thông Châu vệ: nguyên là Bắc Bình Đô
chỉ huy sứ ty An Cát vệ, phòng vệ hai bên tả hữu Huyền Vũ môn cho tới hai bên
tả hữu Bắc An môn.
Tới năm Tuyên Đức thứ tám thời Minh
Tuyên Tông, lập thêm bốn vệ chưởng quản hộ vệ theo ngự giá Hoàng đế:
·
Đằng Tương Tả vệ.
·
Đằng Tương Hữu vệ: trước đó có tên là Thần Vũ Tiền
vệ.
·
Vũ Tương Tả vệ.
·
Vũ Tương Hữu vệ.
Hai mươi sáu vệ quân trên, đều gọi
chung là “Thân quân Đô chỉ huy sứ ty”, trực tiếp thuộc Hoàng đế (vì vậy mới có
danh xưng “Thượng trực”), không thuộc quyền quản hạt của Ngũ quân Đô đốc phủ.
9. Nhà Thanh
Nhà Thanh lập Lĩnh Thị vệ phủ phụ
trách cận vệ cho Hoàng đế và cảnh vệ khu vực Tử Cấm thành, đều là quân đội Bát
kỳ, so với thiết chế đời Hán giống như Nam quân. Lại có Đề đốc Cửu môn Bộ quân
Tuần bộ ngũ doanh Thống lĩnh, gọi tắt là “Cửu môn Đề đốc” phụ trách phòng thủ
và trị an cho thành Bắc Kinh, là quân Lục doanh người Hán, so với thiết chế đời
Hán giống như Bắc quân. Năm 1908, triều đình Thanh lệnh Bối lặc Tải Đào, Dục
Lãng, Thượng thư bộ Lục quân là Thiết Lương làm Huấn luyện Đại thần, tuyển chọn
binh lính khỏe mạnh từ các doanh trong Bát kỳ, dựa theo biên chế quân sự phương
Tây mà tổ chức huấn luyện thành Cấm vệ quân. Năm 1911 thì tổ chức và huấn luyện
xong, toàn quân chia thành hai “hiệp”, không đặt thống lĩnh chung mà mỗi hiệp
đứng đầu là Hiệp thống: Đệ nhất hiệp Hiệp thống là Giác La Lương Bật, Đệ nhị
hiệp Hiệp thống là Vương Đình Trinh. Tuy nhiên những sự tổ chức này không có ý
nghĩa vì nhà Thanh sụp đổ không lâu sau đó.
a. Lĩnh Thị vệ phủ
Cấm vệ binh thuộc quyền quản hạt của
Lĩnh Thị vệ phủ phân thành “Lang vệ” và “Binh vệ”:
·
Lang vệ chịu trách nhiệm bảo vệ thân
cận cho Hoàng đế, cảnh vệ cửa cung điện bên trong Tử Cấm thành, tục gọi là “Ngự
tiền Thị vệ”, phân làm bốn hạng: Đầu đẳng, Nhị đẳng, Tam đẳng và Lam linh Thị
vệ. Ngự tiền Thị vệ, Càn Thanh môn Thị vệ tuyển chọn con em trong Thượng tam
kỳ, tới năm Khang Hy thứ hai mươi chín, mới cho chọn Võ tiến sỹ có tài vượt
trội mà bổ làm Thị vệ, đều cho thuộc vào Thượng tam kỳ, không giới hạn số
người.
·
Binh vệ có các đội Thân quân doanh,
Kiêu kỵ doanh, Hộ quân doanh, Tiền phong doanh, Hổ thương doanh, Kiện nhuệ
doanh, Thần cơ doanh. Trong đó Hộ quân doanh (hay Ba Nha Lạt doanh) thủ vệ cửa
ra vào cung điện Tử Cấm thành và Viên Minh viên, tuyển chọn tinh binh trong Bát
kỳ, đặt chức Hộ quân Thống lĩnh (trước đó gọi là Ba Nha Lạt đạo Ngạch chân hoặc
Ba Nha Lạt đạo Chương kinh) làm trưởng quan.
b. Đề đốc Cửu môn Bộ quân Tuần bộ ngũ
doanh Thống lĩnh
Đề đốc Cửu môn Bộ quân Tuần bộ ngũ
doanh Thống lĩnh, hay “Cửu môn Đề đốc”, là quan tư lệnh tối cao trấn thủ Bắc Kinh,
có quyền thống soái toàn bộ quân đội đóng tại Phong Đài đại doanh (nay thuộc
quận Phong Đài, thành phố Bắc Kinh).
Nội dung bài viết được chuyển ngữ và chọn lọc từ đường dẫn https://zh.wikipedia.org/zh-hant/%E7%A6%81%E8%BB%8D



Nhận xét
Đăng nhận xét