Văn bia Thánh đức Thần công Thanh Hiếu lăng (Lăng Thuận Trị)
Lời tựa rằng: Đức hoàng khảo Thế Tổ Thể Thiên Long Vận Anh Duệ Khâm Văn Đại Đức Hoằng Công Chí Nhân Thuần Hiếu Chương hoàng đế, húy Phúc Lâm, là con thứ chín của Thái Tông Ứng Thiên Hưng Quốc Hoằng Đức Chương Vũ Khoan Ôn Nhân Thánh Duệ Hiếu Long Đạo Hiển Công Văn hoàng đế, mẹ là Chiêu Thánh Từ Thọ Cung Giản An Ý Chương Khánh Đôn Huệ Ôn Trang Khang Hòa thái hoàng thái hậu vậy. Khi trước Đức hoàng khảo chưa sinh, Thái hoàng thái hậu từng thấy ánh sáng đỏ bao quanh thân mình, thị nữ ai nấy đều kinh sợ mà nghĩ là lửa, đến lúc đến gần lại không thấy nữa, người người đều cho là điều kì dị. [Thái hoàng thái hậu] lại mộng thấy người lạ trao cho mình một đứa con trai rồi nói: “Này đây là bậc chúa thống nhất thiên hạ đó”. Đến ngày hôm sau thì Đức hoàng khảo ra đời, trong cung ánh sáng đỏ chiếu rọi, hương thơm phủ khắp, hồi lâu vẫn không hết. Đức hoàng khảo sinh ra đã thần linh anh dị phi thường, lên sáu tuổi biết đọc sách không đợi thầy giảng, lại xem khắp các sách vở chăm chỉ không biết mệt, được Thái Tông rất mực yêu thương. Năm Giáp Thân (2), [ngài] lên nối ngôi lớn, bấy giờ là lúc lưu khấu (3) mặc sức làm nghịch, đến nỗi vận nhà Minh phải dứt, nước mất vua phải bỏ mình, muôn dân (4) không nơi nương tựa, nên [ngài] mới chỉnh đốn sáu quân (5), chỉ một trận mà phá trăm vạn giặc mạnh (6), rồi dời đô đến Yên Kinh. Truyền hịch tới đất Tề, đất Tấn, đất Tần, đất Dự (7), để vương sư (8) dẹp giặc cứu dân, nam hạ Kim Lăng, khiến từ kẻ tiếm hiệu cho đến bề tôi ở dưới đều phải chịu trói (9). Từ đấy, [quân ta] hạ đất Sở, đất Thục (10), bình các đất Chiết, Mân, Lưỡng Việt, Điền, Kiềm (11) trong mấy năm vài lần đã quét sạch [giặc giã], cuối cùng hoàn thành cuộc đại nhất thống. [Ngài] trị nước lấy việc yêu dân làm gốc, xuất quân đều nghiêm giữ kỉ luật, chưa bao giờ giết hại cướp bóc trăm họ. [Ngài] biết dân khổ vì thuế má nặng nề, bèn trừ bỏ hết các loại thuế tăng thêm cuối đời Minh, lại đình chỉ bọn quan Đốc thôi chức tạo miền Giang Chiết (12), miễn việc chế tác da thú, tiến vải vóc tơ lụa ở Thiểm Tây, lại bãi việc tiến cam quýt, cá thì ngư (13) và thạch lựu cho các tỉnh, dừng xây đắp thành trì ngoài biên ải, miễn trưng thu tiền lương lao động của dân gian, ngừng nung gạch ngói ở Lâm Thanh (14), giảm tiến cống cho nước Triều Tiên. [Ngài] đem hết việc thuế má ấn định thành sách, biên soạn bộ Đại Thanh luật lệnh, mọi thứ đều theo lề lối khuôn phép. [Ngài] vâng phụng pháp chế của Thái Tổ, Thái Tông để lại, trị nước tất thảy đều noi theo, kính trời thờ tổ tông, đều thành tâm cúng tế. Trong việc hiếu đễ với Thái hoàng thái hậu, sớm dậy đã tới vấn an, quỳ lâu để nghe răn dạy, mở duyệt tấu chương, thường tới nửa đêm. [Ngài] cần mẫn học hành, chăm việc thăm hỏi [quần thần], chọn bề tôi Mãn Hán giỏi về văn học sung làm quan Kinh diên nhật giảng, ra tận cửa Cảnh Vận (15) lập thành phòng trực [để tới học tập], lại lệnh cho quan viên Hàn lâm viện tới cửa Cảnh Vận túc trực. [Ngài] bàn luận hết thảy kinh thư sử sách, tay không rời từng quyển, đạt tới mức biết trời, biết tính (16), thấu suốt đạo lí. [Ngài] lại tổng hợp căn nguyên lợi hại của những biến đổi trong thiên văn, địa lí, lễ nhạc, binh bị, hình pháp, thuế má xưa nay, rộng khắp bách gia chư tử, không nhà nào là không thông hiểu cũng như nắm được điểm trọng yếu. Mặc áo thô, ăn uống sơ sài, không động việc xây cất thổ mộc. Tự mình thị sát Thái học, cúng tế Tiên sư, mở quốc khố, để tôn sùng [đạo thánh] nơi miếu đường. Dẫu gặp lúc thái bình mà vẫn không quên việc võ bị, cắt đặt người hiền không phân xuất thân, năm Đinh Hợi, Kỉ Hợi (17) lại tổ chức thi Hội, mở rộng quy mô số lượng, để gồm thu hết nhân tài, trừng trị thói gian trá phường khoa cử. Bề tôi Mãn Hán đều đối đãi như một, văn võ đều không trọng khinh, phá thói cũ kết bè kết đảng của bọn quan lại thời Minh, sùng chuộng liêm chính, bài xích tham tà, đình thần có biệt tài, không lúc nào không tiến cử, lấy đó mà khuyến khích. [Ngài] xuống chiếu cầu lời hay, độ lượng tiếp thu can gián, gặp quan viên bên ngoài vào chầu, đều dụ phải yêu dân chăm việc. Đối với việc hình ngục, [ngài] quy định phải xét đoán rõ ràng cẩn thận, tội chết phải qua bốn lần hội thẩm, phái quan xử lý oan sai, tù phạm các tỉnh kẻ nào bị oan đều được xá miễn, lại cho ngưng việc hành hình mùa thu lại một năm. Không cho bọn hoạn giả kết giao bên ngoài, lập biển sắt để nghiêm sức cấm chỉ. [Ngài] mệnh nho thần tu soạn thánh huấn của tổ tông, cùng các sách Thuận Trị đại huấn, Thông giám toàn thư, Hiếu kinh diễn nghĩa, để giáo hóa thần dân trong thiên hạ. [Ngài] tự mình đến đàn Thần nông cày ruộng Tịch điền, khuyến khích nông nghiệp để dân giàu mạnh. Bốn phương chỗ nào gặp thủy tai hạn hán, [ngài] gấp rút mở kho dùng riêng trong cung, xuất nhiều tiền vàng phát chẩn cứu tế. Đất Vân Quý (18) vừa mới bình xong, [ngài] liền xuất ngay quốc khố, phát chẩn cho quân dân [Vân Quý]. [Ngài] sốt sắng lao tâm, chỉ một lòng nghĩ đến nỗi khổ của quân dân. [Ngài] lại đến lăng cũ của các vua nhà Minh, đặt hộ vệ, cấm lấy gỗ, đương lúc [Minh] Mẫn đế Sùng Trinh tử nạn, [ngài] ban dụ văn để tế điếu. Bề tôi nhà Minh những người chết theo, đều được vỗ về truy tặng ngang bậc tông thất; những người quy thuận ra hàng, lệnh chăm giữ chức nghiệp cũ cho tốt. Sự đối đãi mới trọng hậu như thế đấy. Đức hoàng khảo ta dùng sự tỉ mỉ sáng suốt để xử lí chính vụ, dùng sự nhân hậu để cố kết lòng người, pháp chế đều rõ ràng, nhất nhất không bỏ quên đức, vì thế ắt khiến cho xa gần đều nhận biết, tới tận nơi chân trời góc bể, khắp nơi không chỗ nào không thấm nhuần ơn trạch. [Bờ cõi] phía đông tới các nước dùng hươu, dùng sói (19), phía tây tới các nước Ách Nội Thắc Hắc, Thổ Lỗ Phiên (20), phía bắc tới các nước Cáp Nhĩ Cáp, Uy Lạc (21), phía nam tới các nước Lưu Cầu, Xiêm La, Hà Lan, cùng hàng trăm nước Tây dương ngoài khơi biển lớn, đến độ nhìn không thấy sóng dâng lên. Thực là Trung quốc đã xuất hiện bậc thánh chúa vậy. [Bấy giờ] phàm các nước Di Địch (22) không nước nào không trèo non vượt biển mà tới chầu. Đức hoàng khảo ta một lòng kính thận, mong muốn cho cơ nghiệp lớn mạnh, chưa một ngày nào để cho bản thân được nhàn hạ bao giờ. Tháng giêng năm Thuận Trị thứ mười tám, [ngài] không khỏe, tới ngày Đinh Tị [tháng ấy] thì về trời. Than ôi! Bi ai lắm thay. Ngài thọ hai mươi tư tuổi, ở ngôi được mười tám năm. An táng ở Hiếu lăng, dự định đặt ở núi Xương Thụy. Đức hoàng khảo có di mệnh, sơn lăng không được chuộng sự cầu kì, không cất trữ đồ vàng bạc châu báu.
Than ôi! Bởi vì chính sự đời Minh loạn lạc đã lâu, nên Thái Tổ Cao hoàng đế, Thái Tông Văn hoàng đế mới ra gánh vác lấy mệnh lớn, lúc định loạn không gặp khó khăn, chính là vì sùng nhân đức để bớt việc binh đao vậy. Tới Đức hoàng đế ta là đương vào buổi lưu khấu tàn phá nhà Minh, sinh dân đồ thán, đại quân tây hạ, quét sạch giặc nghịch, thống nhất các cõi, [thử hỏi] không thần vũ sao dựng nổi nghiệp lớn, không thánh triết sao thấu trị được quốc gia. Pháp chế liệt thánh rành rành, đường lối đều nằm ở đó, so với đức của Nghiêu Thuấn, công của Thang Vũ nào có kém gì? Nay rập đầu sát đất mà bày tỏ lời ngợi khen:
Trời phù hộ con dân, ban xuống ơn cao trạch.
Nhà Đại Thanh chịu mệnh, bao trùm khắp các phương.
Thái Tổ dấy nghiệp lớn, Thái Tông mở mang rộng.
Hoàng khảo nối đại thống, anh duệ vốn bẩm sinh.
Vận nước gặp điềm lành, ngài lên ngôi Hoàng cực.
Võ công chiếu sáng rọi, quét sạch bọn nghịch quân.
Vương sư xuống phía tây, một trận là đánh lấy.
Định vạc ở Yên Kinh, vỗ về kẻ sợ hãi.
Đốc suất việc dẹp giặc, nhất thống hết vạn bang.
Lo nỗi nhọc trăm họ, nhân đức tràn biển lớn.
Bãi tiến cống, dừng việc công, để sức dân được nghỉ.
Lập quy chế, đặt kỉ cương, để gây lợi trừ hại.
Pháp luật gồm thu, dựng thành điển tắc.
Trị nước gắng gỏi, lao khổ ngày đêm.
Huyền cơ thấu triệt, không ngừng mưu lớn.
Chuộng tiết kiệm, bỏ khoa trương, cần mẫn chưa từng rời.
Ban hành chính lệnh, lòng luôn canh cánh.
Kế thừa ngôi cả, giữ gìn hiếu đễ.
Thuận ý tiên đế, cung kính thờ mẹ.
Siêng học không mệt, hiểu đạo uyên thâm.
Làu thông kinh sử, trăm việc đều rõ.
Răn bảo quần thần, trước chớ trái mệnh.
Kẻ gian người hiền, thưởng phạt phân minh.
Soạn thành văn tập, giáo huấn rộng rãi.
Ấn cất hòm vàng, hậu thế noi theo.
Giảm hình ngục, giảm thuế má, phát chẩn cứu tế tai ương.
Khuyến nông nghiệp, hưng học vấn, để dân giàu biết lễ nghĩa.
Đế vương hiểu đạo, công đức đủ đầy.
Thanh giáo bốn bể, xa gần không sót.
Bên ngoài Di Địch, vào cống kinh sư.
Trị hóa (23) nhuần thấm, pháp độ truyền đời.
Ngừng thu tích trữ, để đức dài lâu.
Hiếu lăng nguy nga, rung động thần trí.
Núi sông bao bọc, cát tường che chở uy linh. (24)
Nay khắc lời lên đá quý, để tế bái ca tụng vĩnh viễn.
Khang Hi năm thứ sáu, ngày mùng sáu tháng năm, hiếu tử, hoàng đế nối ngôi con là Huyền Diệp kính cẩn thuật lại.
Chú thích:
Đông thổ: Nhà Thanh khởi phát từ Mãn Châu, nằm về phía đông bắc so với khu vực sinh sống của người Hán.
Giáp Thân: Tức là năm 1644, ứng với năm thứ 17 niên hiệu Sùng Trinh nhà Minh và năm đầu niên hiệu Thuận Trị nhà Thanh.
Lưu khấu: Chỉ quân khởi nghĩa nông dân do Lý Tự Thành, Trương Hiến Trung làm phản cuối những năm Sùng Trinh nhà Minh.
Muôn dân: Nguyên văn: 万姓 (vạn tính), nghĩa là vạn họ, hiểu là dân chúng trong thiên hạ.
Sáu quân: Chỉ quân đội của Thiên tử. Phép nhà Chu định ra Thiên tử có sáu quân, chư hầu có ba quân, mỗi quân là 12500 người.
Chỉ trận Nhất Phiến Thạch diễn ra ngày 27 tháng 5 năm 1644 tại vùng phụ cận Sơn Hải quan, quân Thanh được quân đội của Bình Tây bá nhà Minh trấn thủ Sơn Hải quan là Ngô Tam Quế giúp đỡ đánh bại quân đội của Lý Tự Thành, đánh dấu mốc nhà Thanh bắt đầu nhập chủ Trung nguyên.
Tề: Sơn Đông; Tấn: Sơn Tây; Tần: Thiểm Tây; Dự: Hà Nam.
Vương sư: Quân đội của nhà vua, tức là quân Thanh.
Tức là Nam Kinh, bấy giờ nhà Minh đã mất, quần thần ủng lập Phúc vương Chu Do Tung lên ngôi ở Nam Kinh, đến tháng 5 năm 1645 thì quân Thanh hạ được Nam Kinh, Phúc vương bị bắt giải về Bắc Kinh, sang năm xử tử.
Sở: Hồ Nam, Hồ Bắc; Thục: Tứ Xuyên.
Chiết: Chiết Giang; Mân: Phúc Kiến; Lưỡng Việt: Quảng Đông, Quảng Tây; Điền: Vân Nam; Kiềm: Quý Châu.
Đốc thôi chức tạo: Là chức quan thời Minh-Thanh nắm việc vận chuyển hàng hóa tài vật cung ứng cho hoàng đế, thường đặt ở những nơi dân vật trù phú như Giang Tô, Chiết Giang. Cuối thời Minh, chức vụ này thường do hoạn quan đảm nhiệm, nhân đó thừa cơ hà hiếp, sách nhiễu dân chúng.
Thì ngư: Tức là cá cháy (tên khoa học: Tenualosa reevesii), một loại cá bản địa của Trung Quốc, sản vật của vùng Giang Chiết, thường dùng làm cống phẩm.
Vùng Lâm Thanh ở tỉnh Sơn Đông nổi tiếng với nghề sản xuất và phân phối gạch ngói cung ứng cho việc xây dựng các công trình kiến trúc theo lệnh của triều đình.
Cửa Cảnh Vận: Cửa phụ nằm bên phải cửa Càn Thanh môn dẫn vào cung Càn Thanh ở Tử Cấm Thành, từ thân vương trở xuống các quan viên tới đây phải dừng trước hai mươi bước không được phép tiến thêm.
Nguyên văn: 知性知天 (tri tính tri thiên). Xuất phát từ thiên Tận tâm thượng của sách Mạnh tử: 尽其心者,知其性也。知其性,则知天矣。存其心,养其性,所以事天也 (Để dốc tâm trí mình [mà làm việc] thì phải biết phẩm tính mình vậy. Biết được phẩm tính mình thì ắt biết được mệnh trời. [Một khi] còn tâm trí thì phải nuôi dưỡng phẩm tính, mới có thể chịu mệnh trời được).
Đinh Hợi: Tức là năm 1647 (Thuận Trị năm thứ 4); Kỉ Hợi: Tức là năm 1659 (Thuận Trị năm thứ 16).
Vân Quý: Vân Nam và Quý Châu.
Nước dùng hươu: chỉ người Ngạc Ôn Khắc (Evenk) sống cạnh dãy Đại Hưng An phía bắc Mãn Châu, đời Thanh gọi là Sử Lộc bộ; Nước dùng sói: người Hách Triết (Nanai) sống ở hạ du sông Hắc Long giang, có tập tục dùng sói để kéo xe, đời Thanh gọi là Sử Khuyển bộ.
Ách Nội Thắc Hắc: Chưa rõ là nơi nào, có lẽ là phiên âm tên sông Yenisei, thượng nguồn nằm ở gần hồ Baikal gần biên giới Mông Cổ và Nga; Thổ Lỗ Phiên: Quốc gia của người Mông-Tạng nằm ở tỉnh Thanh Hải ngày nay.
Cáp Nhĩ Cáp: Cũng gọi là Khách Nhĩ Khách hay Khalkha; Uy Lạc: Người Vệ Lạp Đặc (Oirad), sau gọi là Chuẩn Cát Nhĩ. Đây là 2 tộc người Mông Cổ cư trú ở Ngoại Mông theo quan niệm của nhà Thanh, không bao gồm phần lãnh thổ Nội Mông đã quy thuận nhà Thanh từ trước đó.
Nguyên văn: 重译 (trọng dịch). Quan niệm người Hán cho rằng các nước nằm ngoài vòng giáo hóa, không hiểu tiếng nói phải phiên dịch vất vả, nên gọi là trọng dịch. Nay dùng chữ Di Địch vốn quen thuộc hơn để gọi.
Trị hóa: Chỉ chung việc trị vì quốc gia, giáo hóa dân chúng.
Nguyên văn: 祥护灵... (tường hộ linh …) bị khuyết mất một chữ, nay dịch theo ý hiểu.

.jpg)


Nhận xét
Đăng nhận xét