Những cuộc bách hại Kitô giáo của đế quốc La Mã

Những cuộc bách hại người Kitô giáo của đế quốc La Mã xuất hiện song thường rải rác và mang tính cục bộ xuyên suốt chiều dài lịch sử đế quốc La Mã, bắt đầu từ thế kỉ I đến thế kỉ IV Công nguyên. Vốn khởi đầu là một quốc gia đa thần giáo với những truyền thống tôn giáo kế thừa từ người Hi Lạp trước đó, song đạo Kitô đã lan rộng khắp lãnh thổ La Mã và tạo nên một cuộc xung đột ý thức hệ với tín ngưỡng mà nhà nước đương thời công nhận. Người đa thần thực hiện tín ngưỡng của họ thông qua việc hiến tế cho các vị thần và các hoàng đế La Mã được nhà nước tuyên bố “trở thành bậc thần thánh”, điều này khiến cho người Kitô giáo căm ghét vì tín ngưỡng của họ cấm sự thờ cúng ngẫu tượng. Nhà nước La Mã và những thành viên khác của xã hội dân sự đã qui kết các tín đồ Kitô những lí do như phản quốc, thực hiện nhiều tội ác (mặc dù chỉ là đến từ sự đồn đại), hội họp bất hợp pháp và truyền bá một thứ tôn giáo ngoại lai, dẫn đến sự chối bỏ của người La Mã đối với nhà nước.

 

Lời cầu nguyện cuối cùng của các vị tử đạo (tranh của Jean-Léon Gérôme, năm 1883)

Cuộc bách hại cục bộ đầu tiên diễn ra dưới thời hoàng đế Nero (cai trị từ 54-68) ngay tại Roma. Một cuộc bách hại qui mô lớn hơn tiếp tục diễn ra dưới thời kì của Marcus Aurelius (cai trị từ 161-180). Rồi sau một khoảng thời gian tạm lắng, bách hại lại tiếp tục dưới thời các hoàng đế Decius (cai trị từ 249-251) và Trebonianus Gallus (cai trị từ 251-253), có qui mô sâu rộng. Cuộc bách hại dưới thời Valerian (cai trị từ năm 253-260) chấm dứt khi chính hoàng đế bị cầm tù trong trận chiến với vua Shapur I của đế quốc Ba Tư Sassanid (cai trị từ năm 240-270) tại Edessa. Người kế nhiệm Valerian là Gallienus (cai trị từ 253-268) đã ra lệnh dừng bách hại người Kitô giáo sau đó.

Đến thời kì hoàng đế Diocletian (cai trị từ 283-305), diễn ra cuộc bách hại qui mô lớn cuối cùng đối với người Kitô giáo, và tiếp tục được đẩy mạnh thực hiện đối với từng khu vực của đế quốc mãi cho đến khi hoàng đế Galerius (cai trị từ 310-313) ra sắc lệnh Serdica chấm dứt và hoàng đế Maximinus Daia (cai trị từ 310-313) chết. Sau khi Constantine đại đế (cai trị từ 306-337) đánh bại đối thủ của mình là Maxentius (cai trị từ 306-312) tại trận Cầu Milvius tháng 10 năm 312, ông và đồng hoàng đế là Licinius ban hành sắc lệnh Milan (năm 313) cho phép mọi tôn giáo hiện diện trong đế quốc, bao gồm cả Kitô giáo được tự do hoạt động.

I. Vấn đề tôn giáo trong xã hội La Mã 

Vào thời kì đầu đế quốc, trên thực tế La Mã không có một tôn giáo nào chung cho tất cả các cư dân, mà tồn tại nhiều tôn giáo, đa phần là đa thần và mang tính địa phương. Mỗi thành thị thờ phụng các vị nam thần và nữ thần vốn được kế thừa từ tôn giáo Hi Lạp và được La Mã hóa. Đó là kiểu tôn giáo thành bang (polis-religion) tồn tại bên trong và không tách rời khỏi “kiến trúc” chung của một thành thị cổ đại; nghĩa là thực thể tôn giáo không tách rời khỏi thực thể chính trị - dân sự, và tôn giáo chú trọng tới nghi lễ hơn là niềm tin của tín đồ. Các tôn giáo kín (private religion) cũng như mọi hình thức thực hành của nó ra ngoài xã hội công cộng luôn được đặt dưới sự kiểm soát của các quan chức, hay nói cách khác là do viện nguyên lão La Mã, quản lí. Tôn giáo dần dần trở thành một yếu tố quan trọng để được xem là một người La Mã, khi việc thực hành tôn giáo phổ biến rộng rãi và có mối quan hệ đan xen với chính trị.

Song sự ủng hộ cho hình thái đa thần giáo truyền thống này bắt đầu suy thoái kể từ thế kỉ đầu tiên trước Công nguyên khi nó được ghi nhận bởi các tác gia và sử gia đương thời là trở nên sáo rỗng và vô ích đối với xã hội. Sự cộng hưởng của những yếu tố tác động bên ngoài như chiến tranh và các cuộc xâm lược, cùng với những yếu tố nội tại như tính chất trọng hình thức và sự ảnh hưởng của chính trị vào tôn giáo truyền thống; được cho là đã tạo nên sự suy thoái từ từ của đa thần giáo. Để khỏa lấp khoảng thiếu hụt về mặt tinh thần trong đời sống cá nhân, người ta phải tìm đến một hình thức thờ phụng mới; chẳng hạn như thờ cúng hoàng đế, thờ cúng bí truyền (mysteric cult), và tiếp nhận các tôn giáo đến từ phương đông, trong đó bao gồm cả Kitô giáo.

Người La Mã đã trù tính tới vấn đề đồng hóa trong khi xây dựng đế quốc của mình, theo đó La Mã cho phép thu nhận những kiều dân hay người ngoại kiều (foreigner) trở thành một phần của cư dân đế quốc, nhưng với điều kiện là sự tiếp nhận những vị thần ngoại lai đó cùng những nghi thức thực hành thờ phụng họ không được phép áp đặt lên các vị thần khác trong hệ thống thần linh chung: “Có nhiều vị thần được giới thiệu tới Roma và được thiết lập thành một phần của tôn giáo nhà nước La Mã, song cũng một lượng lớn [các thần khác] thì không được như vậy”. Tính mở (openness) đặc trưng này đã lôi cuốn nhiều học giả như Ramsay MacMullen đã phát biểu rằng trong quá trình bành trướng lãnh thổ, đế quốc La Mã đã “hoàn toàn khoan dung [các tôn giáo ngoại lai], cả trên trời lẫn dưới đất”, nhưng cũng khẳng định thêm rằng: “Sự khoan dung đó mới chỉ là một nửa của câu chuyện mà thôi”.

MacMullen cho rằng yếu tố quan trọng nhất trong việc xác định khi nào thì nhận được sự “khoan dung” và “không khoan dung” từ La Mã nằm ở việc tôn giáo đó cần tôn vinh một vị thần “tuân theo phong tục của tổ tiên để lại”. Về điểm này thì người Kitô giáo được xem là đã thất bại bởi họ không còn nhớ đến cội nguồn mà các bậc tổ tiên họ đã gây dựng trong Do Thái giáo. Tuy nhiên, cũng phải nói rằng cách thức mà tôn giáo đó thực hành vẫn là một yếu tố. Các quan chức La Mã đã nghi ngại trước những người thờ cúng thần Dionysus (thần rượu nho của người Hi Lạp) và những nghi thức của họ trong lễ Bacchanalia từ tận năm 186 trước Công nguyên bởi vì nó “được thực hiện vào ban đêm”. Thuật bói toán, chiêm tinh cùng những “thói tục Chaldea” thực hiện kín vào ban đêm được xem như là các dạng ma thuật cần phải bị trục xuất và cấm đoán trong đầu thời kì đế quốc. Nhà khảo cổ học Luke Lavan giải thích rằng vì lí do thờ phụng diễn ra vào ban đêm, tính kín và bí mật rất dễ đánh đồng với tội phản quốc và ngầm âm mưu chống lại hoàng đế. Những cuộc tụ họp như vậy bị giải tán, người cầm đầu bị bắt giữ và xét xử, phụ nữ bị cấm nắm giữ những chức sắc cao trong giáo phái đó cũng như mọi công dân La Mã bị cấm trở thành các tư tế của giáo phái đó; đó là những biện pháp kiểm soát chặt chẽ được thiết lập bởi chính quyền.

II. Lí do, nguyên nhân và những yếu tố góp phần 

1.  Lí do

Nhà sử học A.N. Sherwin-White ghi nhận rằng những cuộc tranh luận nghiêm túc về những lí do mà người La Mã bách hại Kitô giáo bắt đầu từ năm 1890, khi mà đã “trải qua 20 năm tranh cãi” và đã đưa ra ba luồng ý kiến chính: Thuyết thứ nhất của các học giả người Pháp và người Bỉ cho rằng tồn tại một qui tắc ứng xử chung được thiết lập tỉ mỉ và có hiệu lực khắp đế quốc, theo đó cấm chỉ mọi hoạt động của Kitô giáo. Hoàng đế Nero thường được cho là người đầu tiên khởi xướng, hoặc có thể là hoàng đế Domitian. Ý kiến này được phát triển thành thuyết “luật lệ chung”, dành một sự chú ý lớn tới những trình thuật về các cuộc bách hại của nhà thần học Tertullian sống vào thế kỉ III, cho rằng việc “buộc tội cho danh Người (chỉ Chúa Giêsu)” vốn là chủ ý của Nero. Nero sẵn đã có sự tập trung vào việc cấm đoán các tôn giáo mới hiện diện trong đế quốc, nhưng đối với những người Kitô giáo thì ông ta áp dụng một nguyên tắc cổ xưa hơn từ thời cộng hòa La Mã, đó là nếu dám truyền bá mê tín dị đoan trái phép của nhà nước sẽ được xem như tội xúc phạm dẫn đến án tử hình. Sherwin-White cho biết thêm thuyết này có thể giải thích được nguyên nhân của các cuộc bách hại tại Roma, nhưng thất bại trong việc giải thích chuyện đó ở các tỉnh khác trong đế quốc La Mã. Vì lẽ đó mà thuyết thứ hai được để ý tới.

Thuyết thứ hai bắt nguồn từ các học giả người Đức, quen thuộc với các độc giả nói tiếng Anh, đó là thuyết “cắt giảm” (từ tiếng Latinh coercitio), cho rằng người Kitô giáo bị xét xử bởi tổng đốc các tỉnh La Mã thông qua chức trách thông thường của họ là giữ gìn trật tự an ninh cho tỉnh đó, và căn cứ vào việc người Kitô giáo đã truyền bá “thứ tôn giáo ngoại lai làm sản sinh ‘sự chối bỏ trên phạm vi quốc gia’, cùng với sự xa rời tôn giáo truyền thống La Mã. Một số [tín đồ Kitô] khác thay vì lí do trên thì mang trong mình một niềm ác cảm chung đối với trật tự xã hội mà La Mã thiết lập và bất phục trước quyền hạn của nhà nước nắm giữ. Tất cả những người thuộc giáo phái này dường như hình dung trình tự xét xử và tố tụng của La Mã không khác gì hành vi thô bạo mang tính cưỡng bức, hoặc một cuộc thẩm tra nhằm chống lại những kẻ làm điều ác, bắt bớ và tra tấn nằm ngoài những qui định thông thường của việc xét xử”.

Trường phái thứ ba khẳng định người Kitô giáo bị bách hại đơn thuần là vì các cáo buộc gây ra những tội hình sự cụ thể như giết trẻ em, loạn luân, thực hành ma thuật, hội họp bất hợp pháp và phản quốc – dựa trên sự khước từ của họ đối với việc sùng bái tính thần thánh của hoàng đế La Mã. Sherwin-White cho rằng: “Ý kiến thứ ba này thường được gộp chung cùng với thuyết coercitio, tuy nhiên một số học giả xem tất cả các cuộc bách hại người Kitô giáo chỉ đến từ cáo buộc gây tội hình sự thông thường, đáng chú ý hơn là phản quốc và hội họp bất hợp pháp hoặc truyền bá tôn giáo ngoại lai”. Mặc dù trong lịch sử cũng đã có tồn tại những lời đồn ác ý này dành cho người Kitô giáo, song thuyết này ít được nhận sự đồng tình nhất trong ba thuyết bởi giới học giả sau này.

2. Những nguyên nhân xã hội và tôn giáo

a. Xung đột ý thức hệ

Giáo sư ngành nghiên cứu cổ điển Joseph Plescia cho rằng sự bách hại bắt nguồn từ nguyên nhân xung đột ý thức hệ, theo đó một bên khẳng định Caesar của La Mã là bậc thần thánh, còn những người Kitô giáo chỉ có thể chấp nhận một vị thần và đó không phải là Caesar. Tác giả Earle E. Cairns mô tả cuộc xung đột ý thức hệ này: “Quyền tể trị độc nhất của Chúa Kitô đã đụng độ với đòi hỏi cai trị tuyệt đối của Caesar”.

Trong sự va chạm giữa hai ý thức hệ này, “một người Kitô sống dưới một mối đe dọa thường trực là bị tố cáo [bởi những người đa thần] và đứng trước khả năng đối mặt với những cáo buộc dẫn đến án tử hình”. Joseph Bryant khẳng định không dễ để người Kitô che giấu tôn giáo của họ và giả vờ thể hiện bản sắc La Mã thay thế, bởi sự khước từ cuộc sống trần thế vốn là một đặc trưng trong đức tin của họ, đòi hỏi “nhiều sự khác biệt so với các chuẩn mực và theo đuổi thông thường”. Người Kitô sở hữu những tiêu chuẩn đạo đức mà trước hết là tránh xa những biểu hiện mà họ cho là bị trói buộc bởi ‘cái ác’ (xem thêm Tân ước các sách 2 Côrintô 6:1-18; 1 Gioan 2:15-18; Khải huyền 18:4) (1) Cuộc sống của một người Kitô là một cuộc sống yêu cầu lòng can đảm tính bằng ngày, “với lựa chọn hoặc là Chúa Kitô, hoặc là thế gian này đang ép buộc các tín hữu phải từ bỏ đức tin của mình bằng vô số cách”.

Sự hiện diện của người Kitô giáo trong những lễ hội công cộng, những cuộc thi đấu thể thao hay những buổi trình diễn sân khấu bị xem là chứa nhiều điều nguy hại đến đức tin, có thể khơi dậy trong lòng họ những ý nghĩ đồi trụy và điên cuồng tội lỗi, điều thường thấy trong những buổi lễ tôn vinh các vị thần của tín ngưỡng đa thần giáo. Nghề nghiệp của họ cũng bị đánh giá không phù hợp với những nguyên tắc đạo đức Kitô giáo nếu như họ làm những công việc như quân dịch, công chức, chế tác tượng thần và việc theo đuổi các lĩnh vực liên quan đến văn hóa đa thần giáo như âm nhạc, diễn xuất, giảng dạy trong các nhà trường. Ngay cả việc đeo trang sức trên người và ăn mặc đẹp cũng bị phán xét hà khắc bởi những nhà luân lí và các chức sắc trong giáo hội Kitô, cũng như việc sử dụng mỹ phẩm và nước hoa

(Joseph Bryant)

Tại Roma, công dân được kì vọng phải chứng minh được lòng trung thành của họ với La Mã bằng cách tham gia vào những nghi lễ của tôn giáo nhà nước thông qua những ngày lễ, đám rước và dâng cúng diễn ra trong suốt một năm. Người Kitô giáo đơn giản là không thể tham gia những việc đó, vì vậy họ bị xem là thuộc về một giáo phái bất hợp pháp chống đối lại trật tự xã hội và cần bị bài trừ.

b. Tính kín (privatzing)

Tác giả Margaret Y. McDonald giải thích về tính kín của tôn giáo cũng là một yếu tố dẫn đến các cuộc bách hại, theo đó “người Kitô giáo chuyển những hoạt động của họ từ trên đường phố về những khu vực riêng biệt hơn như trong nhà, trong những cửa hiệu và những căn hộ sở hữu bởi phụ nữ…nhằm cắt đứt những ràng buộc thông thường giữa tôn giáo và truyền thống đối với các thể chế xã hội bên ngoài như thành thị và quốc gia.

McDonald cho biết thêm rằng người Kitô giáo thỉnh thoảng “gặp nhau về đêm, trong bí mật, và điều đó cũng khơi dậy sự nghi ngờ giữa các cư dân đa thần giáo vốn đã quen thực hành nghi lễ của họ ngay trong những sự kiện công cộng diễn ra vào ban ngày; rồi ngày càng nhiều những lời đồn đại rằng, người Kitô giáo phạm những thứ như flagitia (tội ác thái quá), scelera (hung bạo) và maleficia (hành vi xấu xa), đặc biệt hơn có cả thói ăn thịt người và loạn luân (mà người đa thần viện dẫn tới các điển tích thần thoại “bữa tiệc của Thyestes” và “quan hệ Oedipus”) (2) – những lời đồn đại này có thể xuất phát từ việc cử hành Bí tích Thánh thể “Mình và Máu” của Chúa Kitô, và việc các tín hữu gọi nhau trong cộng đoàn là “anh em”, “chị em”.

c. Tính hội nhập

Những cộng đoàn Kitô giáo sơ khởi đều mang tính hội nhập cao độ đối với những qui định đến từ sự phân hóa giai cấp và những lĩnh vực khác trong xã hội, hơn nhiều so với những hội đoàn tự nguyện do người La Mã thiết lập. Sự không thuần nhất là một đặc trưng của các nhóm tín hữu được tổ chức bởi sứ đồ Phaolô, trong đó vai trò của phụ nữ được tăng cường hơn so với Do Thái giáo và đa thần giáo vẫn đang tồn tại trong thời gian này. Những người Kitô giáo sơ khởi được khuyến khích yêu thương tha nhân, kể cả đối với kẻ thù mình, vì vậy mà người Kitô không phân biệt giai cấp, tầng lớp trong xã hội đều gọi nhau là “anh em”, “chị em”. Tính hội nhập vào các tầng lớp cũng như bối cảnh xã hội lúc đó bắt nguồn từ những niềm tin về tầm quan trọng của sứ vụ truyền giáo cho cả dân Do Thái và dân ngoại (những người không phải Do Thái) với hi vọng hoán cải họ sang một cuộc sống mới, theo những tiêu chuẩn sách Phúc âm đặt ra (xem thêm các sách Máccô 16:15-16 và Galát 5:16-26). Điều này được nhìn nhận bởi những đối trọng của Kitô giáo như một “sự phá rối và quan trọng nhất là sự đe dọa có tính cạnh tranh đối với những giai tầng truyền thống vốn có trong xã hội La Mã”.

d. Tính độc nhất

Nhà sử học Edward Gibbon cho rằng khi người Kitô giáo truyền bá thường có khuynh hướng từ bỏ gia đình và đất nước của họ, đi kèm đó là những lời tiên báo thường xuyên về những thảm họa sắp diễn ra, gây nên cảm giác sợ hãi cho những người đa thần lân cận với họ. Ông viết:

Bằng việc kiên tâm bám giữ đức tin trong Phúc âm mà những người Kitô giáo bị [người La Mã] qui kết cho họ những tội lỗi mang tính phi tự nhiên và không thể dung thứ. Họ đã tách rời những ràng buộc thiêng liêng giữa truyền thống và giáo dục, xúc phạm tới những thiết chế tôn giáo của quốc gia họ, tự phụ mà khinh thường bất kì điều gì mà cha ông họ đã từng cho là đúng đắn hoặc tôn kính với niềm thiêng liêng”.

e. Sự khước từ đa thần giáo

Số đông người đa thần tin rằng những điều tệ hại sẽ xảy ra khi các vị thần không còn được tôn kính và thờ phụng một cách đúng đắn. Tác giả Bart Ehrman phát biểu: “Cuối thế kỉ thứ hai, nhà biện hộ học Kitô giáo Tertullian đã ca thán về sự nhận thức phổ biến lúc bấy giờ, rằng người Kitô giáo là nguồn cơn của tất cả những thảm họa mà các vị thần mang đến để trừng phạt loài người:

Họ (những người đa thần) nghĩ rằng Kitô hữu là nguyên nhân của mọi thảm họa xã hội, của mọi nỗi lo âu đối với tất cả những người mà nó xảy đến chăng? Từ việc nước sông Tiber dâng lên cao bằng tường thành [Roma], hoặc sông Nile không phân phát được dòng chảy của nó tới những đồng ruộng [Ai Cập], hoặc trời không giáng mưa xuống, hoặc có xảy ra động đất, hoặc có nạn đói hay dịch bệnh, thì ngay lập tức tiếng kêu gào vang lên: ‘Hãy ném bọn Kitô giáo làm mồi cho sư tử!’”

f. Bản sắc La Mã

Tôn giáo của người La Mã về cơ bản chính là yếu tố tối quan trọng nhất để xác định cái gọi là “tính La Mã” (Romanness). Việc người Kitô giáo khước từ hiến tế cho các vị thần La Mã được xem là một hành động thách thức chống đối lại đặc trưng văn hóa – chính trị mà bản thân La Mã xem nó là hết sức tự nhiên. MacMullen có nhắc tới việc sử gia Kitô giáo thế kỉ IV là Eusebius đã ghi chép rằng những người đa thần “luôn tự thuyết phục một cách triệt để rằng họ hành động đúng và chúng ta (chỉ người Kitô giáo) luôn phạm tội ô uế lớn nhất”. Còn theo Wilken, “Thế giới quan đa thần của người La Mã không cho phép bẻ cong cách hiểu của họ đối với sự từ chối thờ phụng các vị thần đại diện của quốc gia, ngay cả trong tâm tưởng”. MacMullen giải thích điều này có nghĩa là người Kitô giáo luôn bị “đề phòng thường trực” bởi chính quyền, và mặc dù họ đã đáp ứng những đòi hỏi về mặt triết học và lí tính, cũng như mọi thứ mà họ cho rằng có thể bị xem là chống lại ta patria (phong tục tổ tiên truyền lại), họ vẫn không thể thực hành những nghi thức tôn giáo La Mã, và vẫn tiếp tục kiên trung với tôn giáo của họ. Abel Bibliowicz thì cho rằng đối với những người La Mã, “Dự cảm về người Kitô có vẻ như quá bản năng để rồi cuối cùng, chỉ cần xưng mình là ‘Kitô hữu’, chính quyền đã có đủ căn cứ để xét xử và áp đặt hình phạt”.

3. Những yếu tố góp phần

a. Hệ thống luật pháp La Mã

Nhà sử học Joyce E. Salisbury chỉ ra rằng “Tính ngẫu nhiên của các cuộc bách hại từ năm 64 đến năm 203 dẫn đến nhiều cuộc tranh luận xoay quanh việc đâu là cơ sở pháp lí được nhà nước ban hành để thi hành những cuộc bách hại, và câu trả lời đến nay vẫn còn có những khía cạnh chưa được nắm bắt một cách đầy đủ …” Candida Moss cho rằng những bằng chứng “ít ỏi” có được về các cuộc tử đạo đều có sự sử dụng luật pháp La Mã làm thước đo. Nhà sử học Joseph Plescia khẳng định bằng chứng đầu tiên về việc sử dụng luật La Mã để xử lí người Kitô giáo là từ thời đại của hoàng đế Trajan. Cả hai tác giả T. D. Barnes và Ste. Croix đều cho rằng không có việc sử dụng luật La Mã đối với người Kitô giáo trước cuộc bách hại của hoàng đế Decius vào thế kỉ thứ ba; Barnes đồng ý rằng cơ sở pháp lí của các cuộc bách hại được thể hiện rõ nhất trong những hồi đáp mà hoàng đế Trajan gửi cho tổng đốc tỉnh Bithynia và Pontus lúc bấy giờ là Pliny; kể từ sau những hồi đáp đó, Kitô giáo bắt đầu được chính quyền lưu tâm xếp vào một dạng tội phạm đặc biệt, không còn như trước đó nữa.

 

Thánh Lawrence bị kết án trước hoàng đế Valerian (tranh của Fra Angelico, khoảng năm 1450)

Một số học giả khác truy tìm tiền lệ giết người Kitô giáo về Nero. Barnes giải thích rằng, mặc dù không có sự xuất hiện của luật pháp La Mã, nhưng vẫn tồn tại khá phong phú những luật bất thành văn đối với việc đàn áp các hình thái tôn giáo ngoại lai”, mà trước đó là từ Nero. Luật bất thành văn này căn cứ trên cảm xúc mạnh mẽ về hình ảnh những vị thần được tổ tiên nhiều đời đã từng thờ phụng, đến nay cũng phải tiếp tục được thờ phụng. Cảm xúc như vậy rất dễ “hiện thực hóa bằng sức mạnh của luật pháp” – bởi phong tục của tổ tiên (tiếng Latinh: mos maiorum) là nền tảng quan trọng nhất của luật pháp La Mã. Trong quan điểm của Joseph Bryant, những cuộc hành hình mang tính tập trung của Nero … đã tạo nên một tiền lệ, một luật bất thành văn, và kể từ đó trở về sau, chỉ cần bị gán cái mác “Kitô hữu” đã là đủ để các quan chức chính quyền sẵn sàng áp đặt án tử hình”. Barnes phát biểu rằng “Tác giả Keresztes đã đi sâu hơn, cho rằng đã “tồn tại một qui tắc ứng xử gần như chung cho tất cả người Kitô giáo, theo đó trong các hoàn cảnh thông thường, người Kitô sẽ được căn cứ vào một trong hai hình thức: thứ nhất là ius coercitionis, hay ‘quyền bắt giữ’ của tổng đốc tỉnh; thứ hai là các điều luật hình sự có sẵn, nhưng ngoài ra cũng có thể dựa vào một luật đặc biệt mà đã được ban hành trong thời cai trị của hoàng đế Nero, như trục xuất người Kitô giáo khỏi Roma. Thuyết này đặt sự chú ý lớn vào các trình thuật của Tertullian, vào chủ ý cấm đoán các tôn giáo mới hiện diện của Nero và cả vào nguyên lí cộng hòa cổ xưa, đó là xử tử hình đối với trường hợp dám truyền bá tôn giáo ngoại lai mà không được nhà nước La Mã cho phép, đồng nghĩa với tội xúc phạm đến thể chế.

Bryant đồng tình với điều này, và bổ sung thêm “Khung cảnh đã được minh họa rất sinh động bằng những bức thư nổi tiếng giữa hoàng đế Trajan (cai trị từ 98-117) với Pliny Trẻ (3). Thư của Trajan gửi cho Pliny phản ánh thực tế người Kitô giáo đang bị đàn áp vì niềm tin của họ trước năm 110 Công nguyên, song những thư trả lời của Pliny cũng cho thấy không có điều luật nào trong luật pháp La Mã áp dụng trên toàn đế quốc đặt người Kitô giáo vào hàng tội phạm, điều đó vốn được biết đến rộng rãi lúc bấy giờ. Herbert Musurillo, một học giả và là dịch giả cuốn The Acts of the Christian martyrs Introduction (tạm dịch Một dẫn nhập về hành trạng các vị tử đạo Kitô giáo) cho rằng việc Ste. Croix khẳng định quyền đặc biệt của tổng đốc các tỉnh là tất cả những gì cần thiết.

Bởi hệ thống luật pháp của La Mã vốn mang tính chất tự nhiên và hướng con người (personality-driven) nên không cho phép bất cứ một cá nhân, bao gồm thành viên của xã hội dân sự, không tính những người đang nắm giữ các chức vụ hành chính, được tố cáo vượt ngoài quyền hạn công tố cho phép. “Cáo trạng liên quan tới Kitô giáo và ý muốn dùng hình phạt căn cứ trên cáo trạng đó của tổng đốc các tỉnh” luôn được yêu cầu phải được đặt vào tình trạng hợp pháp khi thi hành với người Kitô giáo. Luật pháp La Mã đề cập rộng rãi tới vấn đề quyền và lợi ích liên quan tới tài sản nhưng lại chứa đựng nhiều lỗ hổng trong các vấn đề về hình sự và luật công (tiếng Anh: common law). Vì vậy, quá trình cognitio extra ordinem (thẩm tra đặc biệt) được thiết lập để nhằm lấp đi những lỗ hổng pháp lí như vậy bằng việc sử dụng cả các điều luật lẫn các phiên tòa xét xử. Tất cả tổng đốc ở các tỉnh đều có quyền điều hành các phiên tòa như vậy, đó là một phần của imperium (quyền tuyệt đối) của cá nhân họ ở tỉnh mình cai trị.

Trong mỗi cuộc cognitio extra ordinem, người buộc tội được gọi là một delator sẽ trình đơn tố cáo trước tổng đốc đối với một cá nhân được cho là đã thực hiện hành vi phạm tội – cụ thể hơn ở đây là một người Kitô giáo. Người buộc tội sẽ phải đóng vai trò như một công tố viên ở phiên tòa và khi phiên tòa kết thúc có thể được thưởng một số phần trong tài sản của bị cáo nếu anh ta buộc tội thành công, hoặc chí ít là đã buộc tội với calumnia (buộc tội có ác ý) nếu trường hợp anh ta không đủ bằng chứng. Nếu tổng đốc đồng ý nghe –hoặc có thể không – ông ta vẫn sẽ quan sát diễn biến phiên tòa từ lúc bắt đầu đến kết thúc: lắng nghe những tranh luận, đưa ra phán quyết và đọc lời tuyên án. Có những trường hợp người Kitô giáo tự mình đề nghị được áp dụng hình phạt đối với bản thân, đó gọi là tử đạo tự nguyện (voluntary martyr) và những lời truyền tụng về họ được bắt nguồn như vậy.

Tuy nhiên, kết quả của những phiên tòa xét xử như vậy, thường có nhiều hơn không, phụ thuộc hoàn toàn vào ý muốn của cá nhân tổng đốc tỉnh đó. Trong khi một số tổng đốc thì cố dựa vào tiền lệ hoặc những huấn dụ từ hoàng đế mà họ có, chẳng hạn có thể lấy ví dụ như những lần thư từ bàn luận về cấn đề người Kitô giáo của tổng đốc tỉnh Bithynia và Pontus là Pliny Trẻ với hoàng đế Trajan, ngoài ra thì gần như không có một hướng dẫn nào cụ thể cả. Trong nhiều trường hợp họ mất nhiều tháng và nhiều tuần để đi lại giữa Roma và tỉnh nhà để tìm kiếm giải pháp, rồi mới đưa ra quyết định thông qua bản năng và kiến thức mà cá nhân họ thu lượm được.

Nhưng cho dù ngay cả những tổng đốc, với quyền lực trong tay, dễ dàng trong việc kiểm soát tỉnh của mình, họ cũng không tìm được một chỉ dẫn pháp lí nào được công bố chính thức trong vấn đề người Kitô giáo. Trước khi hoàng đế Decius thi hành các chính sách chống người Kitô của mình vào năm 250, không có một sắc lệnh nào ở phạm vi toàn đế quốc về việc chống người Kitô giáo cả, mà chỉ có một tiền lệ xem chừng cứng rắn mà hoàng đế Trajan đặt ra, được thể hiện khi ông hồi đáp Pliny: Bất cứ ai xưng mình là ‘Kitô hữu’ là đã đủ bằng chứng để chịu hình phạt tuy nhiên chính quyền khẳng định sẽ không bao giờ săn lùng họ. Dường như tồn tại một suy đoán rằng người Kitô giáo cũng bị khép vào tội bất phục (tiếng Latinh: contumacia) trước nhà nước, mà đại diện là các quan chức có thẩm quyền, tương tự như khái niệm “xem thường tòa án” (contempt of court) thời hiện đại – mặc dù những bằng chứng về vấn đề này còn khá lẫn lộn. Melito thành Sardis, một giám mục sống vào thế kỉ thứ hai đã khẳng định vị hoàng đế đương thời là Antoninus Pius đã ra lệnh cấm hành hình người Kitô giáo khi không thông qua xét xử đúng qui định.

Trước sự thiếu vắng những chỉ dẫn cũng như sự tồn tại khoảng cách giữa trung ương và địa phương, kết cục của những phiên tòa xét xử người Kitô giáo nhìn chung cũng rất đa dạng và không giống nhau. Phần nhiều đi theo công thức của Pliny: thẩm phán hỏi bị cáo có phải người Kitô không, cho phép bị cáo quyền khẳng định nếu muốn có cơ hội rút lui, đồng thời cho phép những người từ chối hợp tác hay kiên tâm giữ đạo một cơ hội để chứng minh sự trung thành của họ với nhà nước bằng cách hiến tế cho các vị thần La Mã và tuyên thệ trước vị thần hộ mệnh của hoàng đế (4). Sau đó nếu người đó vẫn không lay chuyển mới bị đem đi hành hình.

Theo những trình thuật của Tertullian, một số tổng đốc các tỉnh La Mã nằm trong lãnh thổ châu Phi đã có hành động giúp đỡ những người Kitô giáo bị tố cáo khỏi bị hành hình bằng cách bảo đảm trắng án trong phiên tòa hoặc từ chối đưa họ ra xét xử. Tựu trung, các tổng đốc La Mã luôn mong muốn hoán cải người Kitô để họ bỏ đạo một cách tự nhiên hơn là đẩy họ đến cảnh tử vì đạo. Bằng chứng là một tổng đốc tỉnh Asia (5) là Arrius Antoninus khi phải đối diện với một nhóm người Kitô đòi được tự nguyện tử đạo trong một phiên thẩm vấn, sau đem một số người quá khích đi hành hình đã thả những người còn lại ra, và nói: “Nếu ngươi muốn chết, muốn chịu khốn khổ, thì có thể dùng dây thừng [treo cổ] hoặc lên vách núi [mà đứng]”.

Trong thời gian cuộc Đại bách hại do hoàng đế Diocletian khởi xướng kéo dài từ năm 303-312/313, các tổng đốc La Mã nhận lệnh trực tiếp từ hoàng đế và tiến hành phá hủy các nhà thờ, đốt cháy các kinh bổn và cấm chỉ người Kitô giáo hội họp cũng như cử hành nghi lễ của họ, và những ai từ chối chấp nhận sẽ bị tước các quyền hợp pháp của họ trong xã hội dân sự. Về sau, lại có lệnh bắt giữ tất cả những người giữ chức sắc và giáo phẩm đồng thời yêu cầu họ phải dâng hiến lễ tế lên các thần linh trên phạm vi toàn đế quốc. Tuy nhiên vẫn không có sự trừng phạt cụ thể nào được qui định qua các sắc lệnh này, và dường như tổng đốc các tỉnh có thể làm ngơ kéo dài thời gian vì lí do khoảng cách. Sử gia Kitô giáo Lactantius trong những ghi chép của mình cũng nói rằng một số viên tổng đốc còn tuyên bố không làm đổ máu bất kì người Kitô nào, và thậm chí một số người còn tự chọc mù mắt mình chỉ vì trốn tránh sắc lệnh của hoàng đế, số khác chỉ thực hiện khi cảm thấy quá sức cần thiết.

b. Động cơ từ chính quyền

Khi một viên tổng đốc được chỉ định tới nhậm chức tại một tỉnh, ông ta sẽ được giao trách nhiệm gìn giữ pacata atque quieta – sự ổn định và trật tự cho tỉnh đó. Điều tiên quyết là phải dành lấy sự tin yêu từ dân chúng; và vì thể trạng thái bất an lại dấy lên khi ông ta buộc phải đối diện với người Kitô giáo khi thực thi quyền tài phán của mình, và thường sẽ có khuynh hướng xoa dịu bằng cách hòa giải, từ nỗi sợ hãi quần chúng sẽ “buông mình vào sự bạo loạn và li khai”.

Các nhà lãnh đạo chính trị của đế quốc La Mã cũng đồng thời là những người chủ trì trong các nghi lễ tôn giáo công cộng. Tôn giáo La Mã xoay quanh các ngày lễ và các cuộc hiến tế; khi mà tín ngưỡng của cá nhân không đóng vai trò trung tâm như các hình thức tín ngưỡng của thời hiện đại. Do đó, trong khi các hình thức tín ngưỡng mang tính kín của người Kitô giáo, dường như là không có ý nghĩa đối với nhiều người La Mã thuộc giới tinh hoa, thì việc tham dự thực hành các nghi lễ tôn giáo công cộng nằm trong tính toán của họ là một công việc quan trọng đối với sự thịnh vượng chung về chính trị-xã hội của cộng đồng địa phương cũng như toàn thể đế quốc. Lòng hiếu đễ, hay sự tôn trọng giá trị truyền thống theo chính đạo - tiếng Latinh là pietas - là chìa khóa của thành công và sự ổn định. Hệ quả là người La Mã bảo vệ trạng thái thuần khiết ban đầu trong tôn giáo, được thực hành trong các cộng đồng dân cư dưới sự cai trị của họ, xem đó như một kiểu tôn vinh những giá trị truyền thống của tổ tiên cha ông để lại, và như vậy là đúng đắn; chính vì lí do này mà trong một thời gian dài người La Mã đã khoan dung đối với đạo Do Thái, một tôn giáo mang tính truyền thống và độc nhất ở mức cao, mặc dù một số người La Mã tỏ ra coi thường đạo Do Thái. Nhà sử học H. H. Ben-Sasson đã chỉ ra rằng “Cuộc khủng hoảng dưới thời Caligula” (hoàng đế La Mã cai trị từ năm 37-41) là “sự cởi mở đầu tiên” đối với Roma và người Do Thái. Kể từ sau cuộc chiến tranh La Mã - Do Thái lần thứ nhất (66-73), người Do Thái chính thức được cho phép thực hành tôn giáo của họ, miễn là chấp nhận nộp thuế cho chính quyền. Điều này dấy lên sự tranh cãi trong giới sử gia về việc chính quyền La Mã có nhìn nhận người Kitô giáo đơn giản chỉ là một giáo phái nằm trong đạo Do Thái, trước thời điểm hoàng đế Nerva điều chỉnh mức thuế vào năm 96 hay không. Từ đó trở đi, người Do Thái hành đạo vẫn đóng thuế, trong khi người Kitô giáo thì không, quá rõ ràng để phía chính quyền dựa vào đó để đưa ra một chính sách phân biệt. Nhưng phần lớn sự coi thường của người La Mã đối với Kitô giáo đến từ dự cảm của họ cho rằng tôn giáo này có hại cho đời sống xã hội. Vào thế kỉ thứ ba, nhà triết học Porphyry thuộc trường phái Tân-Plato đã viết:

Làm thế nào những kẻ bất kính và vô thần, bằng mọi cách phản bội lại những truyền thống của tổ tiên truyền lại vẫn có thể được chấp nhận bởi quốc gia và thành thị họ cư ngụ?...Thực ra họ chẳng hơn gì những kẻ cố chống lại Thực thể tối cao?” (6)

Một khi La Mã đã tách bạch rõ ràng Kitô giáo ra khỏi đạo Do Thái trong cách nhìn nhận của mình, Kitô giáo đã không còn đơn giản được xem như môt giáo phái ‘kì lạ’ xuất phát từ một tôn giáo cổ xưa và đáng tôn trọng nữa; mà nó bị coi như một superstitio (dị đoan), đem đến cho người La Mã dự cảm nguy hiểm và mạnh mẽ hơn nhiều so với thế giới phương Tây cảm nhận ngày nay: đối với họ, thuật ngữ này chỉ một nhóm các hình thức thực hành tôn giáo không chỉ khác biệt với số đông quần chúng mà còn làm xói mòn xã hội, theo đó “làm rối bời tâm trí của một người theo cách anh ta thực sự phát điên” và khiến anh ta đánh mất đi humanitas (nhân tính). Sự đàn áp các thứ giáo phái “dị đoan” này, hầu như chưa từng diễn ra trong lịch sử La Mã, ngoại trừ lần một tôn giáo ngoại lai vô danh đã bị đàn áp trong đợt hạn hán vào năm 428 trước Công nguyên, lần một số tín đồ của tôn giáo thờ thần Bacchus bị hành hình khi chính quyền cho rằng đã đi quá giới hạn vào năm 186 trước Công nguyên (7), hay những chính sách chống các tín đồ đa thần giáo Celt (tiếng Anh: Druid) vào đầu thời kì đế quốc.

Tuy nhiên ngay cả vậy, mức độ bách hại mà các cộng đoàn Kitô giáo hiện diện lúc bấy giờ cảm nhận được vẫn còn phụ thuộc vào việc các quan chức ở địa phương có thái độ như thế nào đối với sự xuất hiện và đe dọa của một superstitio mới. Tín ngưỡng của người Kitô không gây được sự thiện cảm đối với nhiều quan chức chính quyền: họ tôn thờ một tử tù đã bị kết án, khước từ tuyên thệ trung thành với hoàng đế (mà cụ thể là phải đứng trước vị thần bảo hộ cho hoàng đế), chỉ trích gay gắt La Mã trong kinh sách của mình và tiến hành các nghi lễ trong bí mật một cách đáng ngờ. Đầu thế kỉ thứ ba, một quan chức có thẩm quyền đã nói với những người Kitô giáo rằng: “Tôi không thể đem bản thân mình ra mà lắng nghe người ta nói xấu thêm về đường lối tôn giáo của La Mã”.

III. Lịch sử các cuộc bách hại 

1. Tổng quan

Các cuộc bách hại vào thời kì sơ khởi của giáo hội ban đầu chỉ xuất hiện lẻ tẻ và nằm ở những địa phương nhất định. Cuộc bách hại có tổ chức đầu tiên mà chính quyền La Mã tiến hành diễn ra dưới thời cai trị của hoàng đế Nero năm 64 Công nguyên, sau khi xảy ra sự kiện Đại hỏa hoạn Roma, với phạm vi bên trong thành phố Roma. Năm 311 hoàng đế Galerius ban hành sắc lệnh Serdica chính thức chấm dứt cuộc bách hại do người tiền nhiệm Diocletian khởi xướng, ở nửa phía đông đế quốc. Và với sự công bố năm 313 Công nguyên của sắc lệnh Milan, nhà nước La Mã đã chấm dứt hoàn toàn các cuộc bách hại người Kitô giáo. Không có tổng số chính xác bao nhiêu người Kitô thiệt mạng trong những cuộc bách hại này. Sử gia giáo hội thời kì sơ khởi là Eusebius với những tác phẩm gần như là nguồn tư liệu duy nhất ghi chép về những sự kiện này, đã nói rằng “vô số” và “không thể đếm được” những người đã chết. Nhà thần học người Đức Walter Bauer phê phán Eusebius về phát biểu này, nhưng nhà thần học người Mĩ Robert Grant lại nói người đọc nên làm quen với kiểu văn phong phóng đại này vốn phổ biến đối với Josephus và những sử gia đương thời khác.

Vào giữa thế kỉ thứ hai, các đám đông dân cư thường nhằm vào người Kitô giáo để ném đá, có lẽ là đến từ động cơ thù nghịch giữa những tôn giáo với nhau. Cuộc bách hại diễn ra tại thành phố Lyon năm 177 Công nguyên khởi đầu từ một cuộc xô xát đám đông, trong đó ghi nhận bao gồm các cuộc tấn công, cướp bóc và ném đá. Nhà hùng biện Lucian thành Samosata có kể về một sự lừa gạt tinh vi đã thành công được tiến hành bởi một kẻ xưng mình là “tiên tri” của thần Asclepius, vị thần bảo hộ cho y học và nghề thầy thuốc, bằng cách điều khiển một con rắn đã được thuần hóa, tại Pontus và Paphlagonia. Khi những lời xì xào đồn đại dấy lên, anh ta sắp bị vạch trần hành vi gian trá của mình, thì một nhà văn đã ghi vào trình thuật của mình một cách gay gắt rằng:

... Chính hắn đã bày ra một sự truyền bá có tính toán, nhằm đe dọa họ, rằng đất Pontus này đầy rẫy những kẻ vô thần và những người Kitô giáo, những người khó có thể thốt ra những lời lăng mạ tồi tệ nhất đối với hắn; hắn yêu cầu họ phải ném đã xua đuổi những người này thì mới được thần linh phù hộ” 

Tác phẩm Apologeticus của Tertullian năm 197 trên hình thức được viết nhằm bênh vực những người Kitô giáo bị bách hại và bắt nộp cho các tổng đốc La Mã.

Năm 250 Công nguyên, hoàng đế Decius ban bố một sắc lệnh yêu cầu dân chúng phải công khai tế lễ lên các thần linh, một hình thức tương đương với lời tuyên thệ trung thành với hoàng đế và trật tự mà La Mã thiết lập. Không có bằng chứng nào cho thấy chủ đích của sắc lệnh này là nhằm vào người Kitô giáo nhưng có thể xem chủ đích của nó là để kiểm chứng lòng trung thành của dân chúng nói chung. Decius cấp phép cho các ủy ban lưu động xuống các thành thị và làng mạc để giám sát việc tiến hành các cuộc tế  lễ, cũng như cấp giấy chứng nhận cho tất cả các công dân đã tham dự. Những người Kitô giáo cũng sẽ có cơ hội tránh bị điều tra thêm nếu họ công khai dâng cúng các lễ vật hoặc tế bái trước các vị thần La Mã, và sẽ bị buộc tội là bất kính nếu họ khước từ, dẫn đến việc sẽ bị chịu trừng phạt bằng các hình thức bắt giữ, bỏ tù, tra tấn và hành quyết. Một số người Kitô giáo chạy thoát được đến nơi trú ẩn an toàn ở các vùng nông thôn, một số người thì mua được giấy chứng nhận trung thành với nhà nước, được gọi chung là libelli. Trong nội bộ giáo hội đã tổ chức ở Carthage một số hội đồng để điều tra và tranh luận thêm về việc các cộng đoàn Kitô giáo có còn nên tiếp nhận những tín hữu chối đạo này nữa không.

Các cuộc bách hại lên đến đỉnh điểm vào thời kì Diocletian và Galerius cuối thế kỉ thứ ba - đầu thể kỉ thứ tư. Các hoạt động chống Kitô giáo được đẩy mạnh trên phạm vi rộng, đồng thời cũng là đợt điều chỉnh lớn cuối cùng nhằm tái khẳng định đa thần giáo La Mã. Sắc lệnh khoan dung Serdica của hoàng để Galerius chính thức chấm dứt cuộc bách hại Diocletian ở phần phía đông đế quốc, và khi Constantine đại đế lên nắm quyền vào năm 313 đã hoàn toàn hợp pháp hóa Kitô giáo. Mặc dù không được tuyên bố một cách chính thức cho đến thời kì Theodosius vào cuối thế kỉ thứ tư, nhưng kể từ đó Kitô giáo đã trở thành quốc giáo của đế quốc La Mã.

2. Giai đoạn từ năm 49-250

Trong Kinh thánh Tân ước (Sách Công vụ Tông đồ 18:2-3), có kể lại khi Sứ đồ Phaolô từ Athens tới Corinth đã gặp một người Do Thái tên là Aquila cùng vợ là Priscilla, vừa mới đến từ đất Ý vì lí do hoàng đế Claudius “đã ra lệnh trục xuất người Do Thái ra khỏi Roma”. Tác giả Ed Richardson giải thích rằng sở dĩ có sự trục xuất này bởi sự bất hòa giữa các hội đường đạo Do Thái với nhau ở Roma dẫn tới xảy ra bạo lực trên đường phố, và Claudius trục xuất tất cả những người có trách nhiệm, tuy nhiên điều này cũng diễn ra vào thời gian từ năm 47 đến năm 52, trùng vào lúc ông phát động chiến dịch khôi phục các nghi lễ tôn giáo truyền thống La Mã và đàn áp các tôn giáo ngoại lai. Nhà sử học Suetonius sống vào thế kỉ thứ hai đã ghi nhận Claudius trục xuất “người Do Thái” vào năm 49, nhưng Richardson nói đã có “hầu hết các nhà truyền giáo Kitô và tín hữu tân tòng bị trục xuất”, trong đó Suetonius đã dùng cái tên Chrestus để chỉ những người Do Thái theo Kitô giáo. Đó là một bằng chứng xác đáng về sự hiện diện của người Kitô giáo trong cộng đồng người Do Thái ở Roma lúc bấy giờ.

Richardson chỉ ra rằng thuận ngữ Christian “chỉ có mặt trong các tài liệu sau năm 70” và trước thời điểm đó, “những người tin vào Chúa Kitô đều được xem như hoàn toàn thuộc về người Do Thái, cả về mặt dân tộc và tôn giáo”. Các sử gia cổ đại như Suetonius và Tacitus sử dụng thuật ngữ “dị đoan” và “những nghi thức bất kính” để khắc họa đặc trưng của những sự kiện này, và các thuật ngữ trên không áp dụng đối với người Do Thái, mà thường áp dụng đối với các tín đồ Kitô. Đế quốc La Mã thiết lập nền bảo hộ đối với người Do Thái thông qua nhiều chính sách, trong đó bảo đảm “giữ cho các nghi thức thực hành tín ngưỡng của người Do Thái không bị cản trở”. Richardson nhấn mạnh chính quyền La Mã xem những tín đồ Kitô lúc bấy giờ là “người Do Thái” và Claudius đã cố gắng thả họ đi bằng cách trục xuất.

Chúng ta có thể chấp nhận một quan điểm chung đó là trong khoảng thời gian từ thời cai trị của Nero cho đến khi Decius tiến hành các biện pháp trên phạm vi rộng hơn vào năm 250, thì các cuộc bách hại người Kitô giáo chỉ diễn ra mang tính cô lập bên trong phạm vi rất nhỏ của các địa phương. Mặc dù thường xuyên có những yêu cầu đòi người Kitô phải bị đàn áp vì sự khước từ sùng bái hoàng đế của họ, và sự mất thiện cảm của người Kitô đối với số đông có thể xuất phát từ việc họ khước từ sùng bái thần linh và tham gia cúng tế, vốn được xem như một dạng điều kiện nếu muốn cư trú trong lãnh thổ đế quốc La Mã. Mặc dù người Do Thái cũng từ chối tham dự vào các hoạt động này vì tín ngưỡng của họ song họ đã được chính quyền xá miễn bởi họ tuân theo lề luật Do Thái của riêng họ, còn tôn giáo của họ được công nhận là hợp pháp bởi tính chất truyền thống từ thế hệ này sang thế hệ khác, vốn là đặc trưng được người La Mã ủng hộ. Ở một mặt khác, người La Mã tin rằng các tín đồ Kitô cử hành những nghi thức kì lạ và diễn ra vào ban đêm, điều này dấy lên những nhìn nhận cho rằng Kitô giáo là một giáo phái dị đoan nguy hiểm.

Trong thời kì này, các hoạt động chống Kitô giáo diễn ra thông qua trình tự pháp lí, có sự truy tố và không tùy tiện. Tổng đốc các tỉnh đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động này hơn là hoàng đế, tuy nhiên người Kitô giáo không bị săn lùng bởi các viên tổng đốc mà thay vào đó buộc tội và truy tố tuân theo một quá trình gọi là cognito extra ordinem. Các bằng chứng cho thấy các phiên tòa xét xử cũng như hình phạt rất đa dạng, và phán quyết cũng có cả trắng án cho đến tử hình.

3. Cuộc bách hại thời kì Nero

Theo sử gia Tacitus và truyền thống Kitô giáo sau này, hoàng đế Nero đã qui cho người Kitô giáo trách nhiệm gây ra vụ Đại hỏa hoạn Roma diễn ra năm 64, đã phá hủy nhiều phần của thành phố và gây thiệt hại lớn về kinh tế đối với cư dân Roma. Tác giả Anthony A. Barrett đã viết “những nỗ lực về khảo cổ học lớn gần đây đã đưa ra bằng chứng mới về vụ hỏa hoạn” nhưng vẫn không thể chỉ đích danh ai đã gây ra nó. Trong tác phẩm Biên niên (Annals), Tacitus đã viết:

…Để thoát khỏi việc tường trình trước mặt công chúng, Nero đã buộc tội và giáng những đòn tra tấn tinh vi nhất xuống một tầng lớp bị căm ghét vì những hành vi ghê sợ của họ, được công chúng gọi là đám Chrestianos. Christus, gốc rễ mà cái tên đó được đặt ra, vốn là một nhân vật đã chịu cực hình trong thời kì của Tiberius bởi tay một trong những viên tổng đốc (8) của chúng ta là Pontius Pilatus, và sự cuồng tín tệ hại nhất tưởng như đến thời điểm này đã được kiểm soát, nhưng nó lại bùng lên không chỉ ở Judaea, nguồn cơn đầu tiên của cái ác, mà ngay cả tại Roma, nơi mọi thứ ghê tởm và đáng xấu hổ từ mọi nơi trên thế giới đều qui tụ cả vào chúng và trở nên phổ biến

(Biên niên 15.44 của Tacitus)

 

Những ngọn đuốc của Nero (tranh của Henryk Siemiradzki, năm 1876). Theo trình thuật của nhà sử học La Mã Tacitus, hoàng đế Nero đã đem người Ki tô giáo ra làm những ngọn đuốc sống trước mặt công chúng.

Đoạn văn trên của Tacitus đã trở thành một nguồn tư liệu khảo chứng độc lập trong đó chỉ rõ Nero đã qui cho người Kitô giáo trách nhiệm gây ra vụ Đại hỏa hoạn Roma và được tin tưởng rộng rãi là sự thật. Một sử gia khác áng chừng cùng thời với Tacitus là Suetonius trong chương thứ 16 về tiểu sử của Nero cũng viết rằng “Sự trừng phạt được giáng xuống đầu các tín đồ Kitô, một tầng lớp những người đi theo một thứ dị đoan mới và tệ hại” nhưng cũng không chỉ ra đâu là nguyên nhân của sự trừng phạt này. Một tư liệu khác cũng được công nhận rộng rãi đó là về Số của Con thú trong sách Khải huyền của Kinh thánh Tân ước, được ấn định là 666, khi giải mã cách đọc nhận được kết quả là Nero Caesar, điều đó đã minh chứng cho việc Nero được xem như một nhân vật ác đặc biệt được chú ý trong Kitô giáo sơ khởi tính tới thời điểm đó.

Giới học giả gần đây bao gồm các nhà sử học Candida Moss và Brent Shaw đã tranh luận về tính đúng đắn của các nguồn tư liệu này. Lập luận của họ thuyết phục được một số các nhà nghiên cứu cổ điển Hi-La, song tính lịch sử của cuộc bách hại dưới thời Nero vẫn được đại đa số các nhà sử học công nhận.

Những người cho Nero nhắm tới người Kitô giáo tranh cãi rằng liệu Nero qui kết họ chỉ vì tội đốt phá có tổ chức hay còn những tội danh chung khác liên quan tới Kitô giáo? Bởi vì Tertullian có nhắc tới cụm từ institutum Neronianum trong bài biện hộ “Gửi các dân tộc” của ông, nên các học giả tranh luận về khả năng tạo ra một điều luật hay sắc lệnh chống người Kitô giáo dưới thời Nero. Các học giả người Pháp, người Bỉ, và các học giả Mác-xít ủng hộ quan điểm này về mặt lịch sử, khi khẳng định một điều luật như vậy phải được ban hành bên trong một bộ luật công hơn là một sắc lệnh mang tính hình thức. Tuy nhiên quan điểm này bị cho là mâu thuẫn với ngữ cảnh trên; cụm từ institutum Neronianum chỉ đơn thuần mô tả các hoạt động chống Kitô giáo chứ không bao hàm cơ sở pháp lí nào cả. Hơn nữa, không có tác giả nào, không tính Tertullian, có ghi chép về một bộ luật chính thức chống lại người Kitô giáo cả (9).

Các nguồn tư liệu Kitô giáo đều ghi nhận sứ đồ Phaolô và thánh Phêrô đều chết ở Roma trong thời gian diễn ra cuộc bách hại Nero. Một số tác giả Kitô giáo như Origen và Dionysius thành Corinth, được trích dẫn bởi Eusebius, xác định thêm là Phêrô bị đóng đinh vào thập giá và Phaolô thì bị chặt đầu, đều chết trong cùng một thời kì. Trong Thư gửi các tín hữu Corinth của Clement, giám mục Roma có xác nhận (vào năm 95) là Phêrô và Phaolô đều tử đạo, nhưng không nói rõ ở đâu và bao giờ. Theo các công trình nghiên cứu của Candida Moss và Brent Shaw về chủ đề này, không có bất cứ nguồn tư liệu nào trong số này nhắc đến vụ Đại hỏa hoạn Roma, hay đồng nhất nó thành nguyên nhân dẫn đến sự bắt giữ và hành hình đối với thánh Phêrô và thánh Phaolô cả.

4. Thời kì Domitian

Theo một số nhà sử học, những người Do Thái và người Kitô giáo bắt đầu bị bách hại nặng vào khoảng cuối thời kì hoàng đế Domitian (cai trị từ năm 89-96). Sách Khải huyền trong Kinh thánh Tân ước có nhắc đến ít nhất một ví dụ về sự tử đạo (10), điều này khiến nhiều học giả cho rằng sách Khải huyền được viết trong những năm hoàng đế Domitian cai trị. Sử gia giáo hội thời sơ khởi là Eusebius viết rằng xung đột xã hội được mô tả trong sách Khải huyền phản ánh các cuộc đày ải và hành quyết người Kitô giáo do Domitian tiến hành là quá mức và tàn nhẫn, tuy nhiên, những tuyên bố này có thể sai lệch hoặc bị phóng đại. Tác phẩm De mortibus persecutorum (Về cái chết của những kẻ bách hại), Lactantius, cũng là một sử gia Kitô giáo khác, đã đề cập đến sự cai trị chuyên chế của Domitian ở chương 3. Theo Barnes, “Melito, Tertullian và Bruttius đều khẳng định Domitian đã bách hại người Kitô giáo. Melito và Bruttius không cho biết chi tiết gì thêm, còn Tertullian thì nói Domitian đã sớm đổi ý và cho gọi lại những người bị bắt đi đày”. Một số ít các sử gia bảo lưu quan điểm rằng có rất ít hoặc không có hoạt động chống Kitô giáo nào trong thời kì của Domitian. Sở dĩ có sự không đồng thuận của giới sử gia về mức độ bách hại trong thời kì Domitian xuất hiện là vì từ thực tế trong số các nguồn tư liệu về sự bách hại có mặt thì hầu như rất sơ sài hoặc độ tin cậy vẫn còn gây tranh cãi.

Một nguồn tham khảo khác dựa trên sự kiện hành quyết Titus Flavius Clemens, một quan chấp chính La Mã và là cháu họ của hoàng đế lúc bấy giờ, và vợ của ông ta là Flavia Domitilla phải chịu án đi đày tới đảo Pandateria (11) Eusebius viết Flavia Domitilla bị đi đày là do bà là người Kitô giáo. Tuy nhiên theo tư liệu của nhà sử học Cassius Dio thì lí do là vì bà cùng nhiều người khác bị khép vào tội có thiện cảm với đạo Do Thái. Suetonius thì không đề cập gì tới vấn đề đi đày của cả hai người này. Theo tác giả Keresztes, nhiều khả năng là họ đã cải sang đạo Do Thái, có thể là được tiếp nhận bởi những người trốn tránh việc đóng thuế fiscus Iudaicus – loại thuế được áp dụng với toàn thể người Do Thái nếu muốn được tự do thực hành tín ngưỡng của mình. Như vậy, trong tất cả những trường hợp nêu trên, không có câu chuyện nào đề cập đến hoạt động chống Kitô giáo trong thời cai trị của Domitian mà có sự xuất hiện của các qui định pháp lí cả.

5. Thời kì Trajan

Hoàng đế Trajan liên lạc với tổng đốc tỉnh Bithynia và Pontus, đồng thời cũng là một học giả tiếng tăm thời đó là Pliny Trẻ về tình hình làm thế nào giải quyết vấn đề người Kitô giáo ở Pontus. Nhà thần học Edward Burton viết rằng sự trao đổi thư từ này cho thấy rằng tính tới thời điểm lúc bấy giờ vẫn không có một luật lệ nào xử lí người Kitô giáo nào cả. Mặc dù tồn tại “một lượng phong phú những luật bất thành văn về việc đàn áp các tôn giáo ngoại lai” nhưng vẫn không có bộ luật chung qui định “cách thức tiến hành một phiên tòa xét xử và cách thức áp dụng hình phạt; lại cũng không có bất cứ văn bản pháp luật nào liệt Kitô giáo vào loại tội phạm hình sự”.  Ngay cả như vậy, Pliny cũng trình bày với Trajan rằng, việc đưa những người Kitô giáo ra xét xử không phải là hiếm, trong khi tín đồ Kitô ở địa bàn nơi ông quản lí không hề có hành vi phạm pháp nào, như trộm cắp và ngoại tình, thì Pliny lại “xử tử những người, mặc dù họ không phạm tội và ông cũng không dựa trên thẩm quyền của bất kì điều luật nào”, rồi tin tưởng rằng hành động đó sẽ được hoàng đế đồng tình và ủng hộ. Hoàng đế Trajan đã đồng ý với phương pháp đó của Pliny, và gửi một lời hồi đáp với sự phê chuẩn. Ông nói với Pliny hãy tiếp tục công việc đàn áp người Kitô giáo, tuy nhiên không được phép tiếp nhận những lời tố cáo nặc danh, vì cho rằng điều đó làm tổn hại tới công lí cũng như “tinh thần của thời đại”. Những người không có quyền công dân La Mã, nếu tự xưng mình là tín đồ Kitô và từ chối rút lại lời tuyên xưng đó, sẽ bị xử tử vì “cố chấp” (12). Còn công dân La Mã sẽ phải giải về Roma để tiến hành các phiên tòa ở đó.

Barnes cho rằng những bằng chứng trên cho thấy người Kitô giáo bị liệt vào “một thể loại hoàn toàn phân biệt với tất cả các loại tội phạm hình sự khác. Tự xưng mình là tín đồ Kitô đồng nghĩa với tình trạng bất hợp pháp”. Lời hồi đáp của hoàng đế Trajan với Pliny có thể coi như một sắc lệnh chính thức mà Burton gọi là “chỉ dụ đầu tiên” chống lại Kitô giáo, còn tác giả Sherwin-White lại nói việc hoàng đế đưa ra phán quyết như vậy “sẽ mang hiệu lực mạnh nhất thay thế cho một bộ luật chung”. Một điều thú vị là mặc dù vậy, các nhà thần học Kitô giáo thời trung cổ lại xem Trajan như một người đa thần giáo có đức hạnh.   

6. Thời kì Hadrian 

Hoàng đế Hadrian cai trị từ năm 117-138, khi phản hồi yêu cầu xin chỉ dẫn từ tổng đốc một tỉnh trong việc đối phó với người Kitô giáo, đã có sự khoan dung hơn. Hadrian khẳng định rằng việc một người xưng mình là tín đồ Kitô không đủ đề phía chính quyền thực hiện hành động chống lại họ, mà họ phải thực hiện thêm một số hành vi bất hợp pháp khác. Ngoài ra, việc thực hiện “các cuộc tấn công vu khống” nhằm chống người Kitô giáo cũng không được dung thứ, nghĩa là bất kể ai có hành động chống người Kitô giáo nhưng thất bại, chính họ cũng sẽ phải đối mặt với hình phạt.

7. Từ Marcus Aurelius cho tới Maximinus Thrax 

Lịch sử ghi nhận những đợt tiến hành các hoạt động chống Kitô giáo lẻ tẻ diễn ra trong khoảng thời gian từ triều đại của Marcus Aurelius cho tới Maximinus Thrax. Ở giai đoạn này, các viên tổng đốc tỉnh tiếp tục đóng vai trò quan trọng hơn là các hoàng đế trong các cuộc bách hại.

Trong nửa đầu thế kỉ thứ ba dưới sự cai trị của nhà Severus, mối quan hệ giữa chính sách của nhà nước với những hoạt động chống người Kitô giáo dựa trên cơ sở đó, về cơ bản không có sự thay đổi nhiều:

Chính áp lực từ phía dưới chứ không phải do nhà nước khởi xướng, đã làm nảy sinh rắc rối và gây nên sự xung đột với giới hạn cho sự khoan dung của người La Mã, vốn được áp dụng rộng rãi song mong manh: thái độ của quan chức chính quyền đều là thụ động và né tránh cho tới khi họ bị buộc phải chủ động để đối phó khi xảy ra những trường hợp cụ thể tại địa phương họ, rộng ra là cấp tỉnh

Sự chối đạo dưới hình thức tự nguyện dâng cúng trước các thần linh tiếp tục là cơ sở cho việc trả lại tự do cho một người Kitô giáo. Đồng thời, sau một thử nghiệm ban đầu, các biện pháp như bỏ tù, gây áp lực và tạo cơ hội chối đạo cũng được chính quyền áp dụng như một thông lệ chuẩn.

Số lượng và mức độ nghiêm trọng của các cuộc bách hại ở những địa điểm khác nhau trong lãnh thổ đế quốc dường như đã tăng lên trong thời Marcus Aurelius từ năm 161-180. Theo các nguồn tư liệu Kitô giáo thì các vị tử đạo ở Madaura và Scillium (đều thuộc tỉnh Numidia của La Mã, nay thuộc Algeria, Bắc Phi) đều bị hành quyết trong thời kì này. Tuy nhiên những nhận thức về mức độ được Marcus Aurelius chỉ đạo, khuyến khích các cuộc bách hại này là không rõ ràng và vẫn còn bị tranh cãi bởi các nhà sử học.

Một trong những trường hợp bách hại đang chú ý nhất dưới triều đại của Marcus Aurelius xảy ra vào năm 177 tại thành phố Lugdunum (nay là Lyons của Pháp), một trung tâm của tín ngưỡng sùng bái hoàng đế cho cả ba tỉnh xứ Gaul của La Mã (13) vốn được thiết lập từ cuối thế kỉ I trước Công nguyên bởi vị hoàng đế đầu tiên là Augustus. Cuộc bách hại ở Lyons khởi phát từ một phong trào không chính thức nhằm bài xích những người Kitô giáo khỏi các không gian công cộng như chợ và nhà tắm, nhưng cuối cùng lại dẫn đến một hoạt động chính thức từ phía chính quyền. Những người Kitô giáo bị bắt bớ, giải ra trước quảng trường thành phố, rồi bị tống giam sau đó. Tất cả họ đều phải chịu nhiều loại hình phạt khác nhau: xé xác bởi thú dữ, tra tấn và bị cầm tù trong điều kiện sống thiếu thốn. Các nô lệ của những người theo Kitô giáo bị buộc phải làm chứng rằng chủ nhân họ đã phạm các tội loạn luân và ăn thịt đồng loại. Tác giả Barnes cho rằng cuộc bách hại này như “một ví dụ về việc trừng phạt những người Kitô giáo, ngay cả khi họ đã bỏ đạo vẫn bị nghi ngờ”. Eusebius nói rằng vào năm 177, giám mục Lyons lúc bấy giờ là Irenaeus đã gửi một lá thư, được gửi tới bởi các tín hữu giáo hội Lyons đang cận kề sự tử đạo, tới giáo hoàng Eleutherius; nhưng bản thân Irenaeus lại không đề cập tới cuộc bách hại trong tác phẩm của ông là Adversus Haereses. Eusebius ghi điều này trong cuốn Lịch sử giáo hội của mình, ở thời điểm 120 năm sau khi sự kiện diễn ra. Giám mục thành Tours, Gregory sống vào cuối thế kỉ VI nói về cuộc bách hại này trong tác phẩm Sách kể về vinh quang của các đấng tử đạo (Liber in gloria martyrum), song hầu như chỉ đề cập đến những phép lạ được thực hiện bởi những người tử đạo ở Lyons, trong các cuộc bách hại của người La Mã.

Dưới thời kì của Septimius Severus (cai trị từ năm 193-211), một số các cuộc bách hại lại được ghi nhận. Thánh Clement, nhà thần học Kitô giáo thành Alexandria đã viết về giai đoạn này: “… chúng ta đã được trông thấy trước mặt hàng ngày, một số lượng dồi dào những vị tử đạo; họ bị thiêu cháy, bị đóng vào cọc, bị chặt đầu”. Quan điểm truyền thống cho rằng hoàng đế Septimius Severus chịu trách nhiệm về những cuộc bách hại này. Điều này căn cứ trên những nguồn tham khảo lấy từ những chỉ dụ của ông về việc cấm đoán cải sang đạo Do Thái cũng như đạo Kitô, nhưng chỉ dụ này cũng chỉ biết đến thông qua cuốn Historia Augusta, vốn được biết đến là một tác phẩm không đáng tin cậy do sự pha trộn giữa thực tế và hư cấu trong nội dung của nó. Eusebius thì miêu tả Severus là một kẻ bách hại, tuy nhiên Tertullian lại khẳng định Severus có khuynh hướng thiện cảm với người Kitô giáo; ông đã thuê một người Kitô làm thầy thuốc riêng của mình, và đã đích thân can thiệp để cứu anh ta khỏi “đám đông” một số tín đồ Kitô có xuất thân cao mà Severus biết. Một số nhà sử học cho rằng Severus ban đầu giữ chính sách có thiện cảm với người Kitô giáo trong những năm đầu trị vì, nhưng sau đó đã thay đổi, và vào năm thứ mười tính từ lúc ông lên cầm quyền đã bắt đầu bách hại họ. Ngoài ra, trình thuật của Eusebius cho rằng Severus là một kẻ bách hại thực sự, có thể xuất phát từ thực tế có nhiều cuộc bách hại diễn ra trong thời kì của ông, bao gồm sự tử đạo của thánh Perpetua và thánh Felicitas ở tỉnh Africa thuộc Bắc Phi, nhưng đây có lẽ là kết quả của các cuộc đàn áp tại địa phương, chứ không phải là một chiến dịch đàn áp chung được thực hiện trên phạm vi toàn thể đế quốc, cũng không phải do bất kì hành động hay chỉ dụ nào do Severus đưa ra.

Cũng có những trường hợp bách hại khác diễn ra trước thời kì của hoàng đế Decius cầm quyền, tuy nhiên ít có nguồn tư liệu nào đề cập đến kể từ năm 215 trở đi. Điều này phản ánh thái độ thù địch của chính quyền La Mã đối với người Kitô giáo đã giảm bớt hoặc những lỗ hổng trong các nguồn tư liệu hiện hành. Một trong những cuộc bách hại nổi tiếng nhất trong thời kì hậu-Severus được cho là do hoàng đế Maximinus Thrax (cai trị từ năm 235-238) khởi xướng. Theo Eusebius, cuộc bách hại này nhằm vào những người lãnh đạo đứng đầu của giáo hội Kitô vào năm 235, mà kết quả đã khiến giáo hoàng Pontian và nhà thần học Hippolytus, một nhân vật tiếng tăm của giáo hội lúc đó được cho là từng tranh chấp vị trí đứng đầu giáo hội, đều bị án đi đày tới đảo Sardinia. Những bằng chứng khác nói rằng cuộc bách hại năm 235 diễn ra chỉ trong phạm vi tỉnh Cappadocia và tỉnh Pontus, chứ không phải do hoàng đế phát động.

Như trên đã nói, người Kitô giáo khước từ việc bỏ đạo của mình, mà cụ thể thông qua hình thức dâng tiến và cúng tế các vị thần La Mã, sẽ bị trừng phạt nặng. Trong số họ có thể là những người có quyền công dân La Mã sẽ chịu hình phạt đi đày hoặc bị xử tử nhanh chóng bằng hình thức chặt đầu; nô lệ, những người ngoại kiều và những người thuộc tầng lớp thấp hơn sẽ bị đem ra xé xác bởi thú dữ trước công chúng. Nhiều loài thú được sử dụng cho những người bị kết án tử theo cách này. Tác giả Keith Hopkins cho rằng vẫn tồn tại tranh cãi về việc liệu các tín đồ Kitô có bị hành hình tại đấu trường Colosseum ở Roma hay không, vì chưa tìm thấy bất cứ bằng chứng nào về việc này cả. Còn Norbert Brockman viết trong cuốn Encyclopedia of Sacred Places (Bách khoa toàn thư về những địa điểm thiêng liêng) của mình rằng những cuộc hành hình trước công chúng vẫn diễn ra tại Colosseum trong thời kì đế quốc, và không quá bất ngờ khi những người Kitô giáo cũng bị hành hình ở đó. Thánh Ignatius thành Antioch, một tác giả Kitô giáo và là người đứng đầu giáo hội Antioch sống vào giữa thế kỉ II “đã bị ném cho thú dữ ăn thịt vào năm 107 dưới thời hoàng đế Trajan. Không lâu sau đó vào năm 115, nhiều người Kitô giáo lại bị xử tử theo hình thức bắn cung hàng loạt. Khi có một đại dịch lớn tràn vào lãnh thổ La Mã vào cuối triều đại Marcus Aurelius, gặp lúc những người Kitô từ chối khẩn cầu các vị thần nhanh chóng kết thúc dịch bệnh, Marcus Aurelius đã đem giết cả nghìn người tại đấu trường Colosseum vì tội báng bổ và khinh thị thần linh”.

8. Thời kì Decius

Phải đến thế kỉ thứ ba, dưới triều đại của Decius, thì cuộc bách hại Kitô giáo đầu tiên trên phạm vi toàn thể đế quốc mới diễn ra và chính thức được công nhận. Tổng đốc các tỉnh đã được trao rất nhiều quyền trong việc ra quyết định cá nhân trong địa bàn họ có thẩm quyền và có thể tự lựa chọn các cách giải quyết khác nhau đối với các vụ việc bắt bớ hay bạo lực của đám đông quần chúng chống người Kitô giáo tại các địa phương. Trải qua ba trăm năm đầu tiên của lịch sử Kitô giáo, hầu như người Kitô đều được sống trong hòa bình, được tự do làm việc cũng như tham gia vào những vị trí nhất định trong xã hội.

Vào năm 250 Công nguyên, một cuộc bách hại với qui mô cả nước đã diễn ra do hệ quả gián tiếp của một sắc lệnh được ban hành bởi hoàng đế Decius. Sắc lệnh này có hiệu lực trong vòng mười tám tháng liên tiếp, và trong khoảng thời gian này, một số tín đồ Kitô giáo đã bị giết hoặc phải chối bỏ đức tin để thoát khỏi bị hành quyết. Tác giả W. H. C. Frend ước tính có khoảng 3000 đến 3500 người đã bị giết trong cuộc bách hại này.

Cụ thể, vào năm 250, hoàng đế Decius ban hành một sắc lệnh mà văn bản của nó đã bị thất lạc, yêu cầu toàn thể cư dân trong đế quốc ngoại trừ người Do Thái đã được miễn từ trước, phải thực hiện lễ dâng hiến lên các vị thần La Mã trước sự chứng kiến của quan chức có thẩm quyền và phải được ghi tên vào giấy chứng nhận là đã có tham dự, gọi là libellus. Sắc lệnh này là một phần trong nỗ lực của Decius nhằm khôi phục các giá trị truyền thống cổ xưa của người La Mã nhưng không có bằng chứng nào nói người Kitô là mục tiêu cụ thể được nhắm đến. Một số giấy chứng nhận kiểu này vẫn còn được lưu giữ và như ví dụ về một mảng giấy cói papyrus ở đây, được phát hiện ở Ai Cập, có nội dung:

Kính gửi những vị phụ trách việc tế lễ của làng Theadelphia, tôi Aurelia Bellias là con gái của ông Peteres và bà Kapinis. Chúng tôi luôn dâng tiến lễ vật lên các vị thần và bây giờ vẫn vậy, trước sự chứng kiến của các vị, theo qui định tôi đã rót rượu dâng lên và nếm thử các lễ vật, vậy nên tôi đề nghị các vị chứng nhận việc này cho chúng tôi ở bên dưới. Cầu cho sự thịnh vượng luôn ở bên các vị

Chúng tôi, Aurelius Serenus và Aurelius Hermas đã chứng kiến các người làm lễ dâng tiến.

Tôi, Hermas xác nhận việc này.

Năm thứ nhất hoàng đế Caesar Gaius Messius Quintus Traianus Decius Pius Felix Augustus”.

 

Một giấy chứng nhận libellus vào thời gian diễn ra cuộc bách hại Decius năm 250

Khi tổng đốc Pliny viết thư gửi hoàng đế Trajan vào năm 112 trước đó, ông đã trình bày việc mình đã kiểm tra người bị tình nghi là theo đạo Kitô bằng cách yêu cầu họ báng bổ danh Đức Kitô của họ, nhưng tuyệt nhiên không thấy nhắc gì đến chữ “Kitô” hay “tín đồ Kitô” trong các giấy chứng nhận có trong thời trị vì của Decius. Song đây là lần đầu tiên mà các tín đồ Kitô giáo trên khắp lãnh thổ đế quốc bị buộc phải lựa chọn giữa đức tin và cuộc sống của họ. Một số người Kitô nổi tiếng thời kì này như giáo hoàng Fabian, thượng phụ thành Antioch là Babylas, hay giám mục thành Jerusalem là Alexander phải chịu chết vì khước từ thực hiện các cuộc dâng tiến. Số lượng người Kitô giáo bị hành quyết do không có giấy chứng nhận từ chính quyền cấp, cũng như việc làm rõ những nỗ lực từ phía chính quyền để xác minh ai có, ai không có giấy chứng nhận, tất cả đều không được biết rõ. Nhưng chỉ biết rằng có một số lượng lớn người Kitô giáo đã chối bỏ đạo và thực hiện nghi lễ dâng tiến, một số khác thì chạy trốn được, chẳng hạn như Cyprian, giám mục thành Carthage. Mặc dù thời gian thực hiện sắc lệnh trên chỉ trong vòng mười tám tháng, nhưng nó đã gây ra những thiệt hại nặng nề cho nhiều cộng đoàn Kitô giáo, vốn vẫn sinh hoạt trong yên ổn lúc bấy giờ và để lại những kí ức ghê sợ về chế độ bạo ngược của nhà nước.

Trong nội bộ của hầu hết các giáo hội khi đó, những người đã từng chối bỏ đạo cũng vẫn được chấp nhận để được hiệp thông trở lại vào giáo hội. Tuy nhiên ở một số giáo phận Bắc Phi đã từ chối tiếp nhận lại những người này. Hệ quả của cuộc bách hại Decius mang lại là sự dấy lên của chủ thuyết Novatian li khai khỏi giáo hội, trong đó cực lực duy trì án vạ tuyệt thông đối với những tín hữu đã từng chối bỏ đức tin và không kiên tâm giữ đạo khi bị bách hại. Và hơn 50 năm sau khi cuộc đàn áp dưới thời hoàng đế Diocletian diễn ra, cũng lại có một phản ứng tương tự như vậy, đó là những người ủng hộ phái Donatism.

9. Thời kì Valerian

Hoàng đế Valerian lên nắm quyền vào năm 253, nhưng ngay năm sau để rời khỏi Roma để tiến hành chiến dịch chống người Ba Tư đang vừa chiếm thành phố Antioch, một trọng trấn quân sự và trung tâm văn hóa ở miền đông đế quốc. Kể từ đó ông không còn hiện diện ở Roma cho tới khi bị người Ba Tư bắt làm tù binh vào năm 260 và chết trên đất Ba Tư sau đó. Ông đã gửi hai lá thư cho viện nguyên lão về vấn đề người Kitô giáo. Lần đầu tiên vào năm 257, ông ra lệnh cho tất cả hàng giáo phẩm Kitô phải thực hiện lễ dâng tiến lên các vị thần La Mã và cấm người Kitô tổ chức hội họp tại các nghĩa trang. Lần thứ hai vào năm sau (năm 258), ông ra lệnh tất cả các giám mục và những người có chức sắc cao trong giáo hội phải bị xử tử, và những nguyên lão nghị viên, cũng như những người thuộc tầng lớp kị sĩ mà theo đạo Kitô phải bị tước bỏ mọi chức danh và bị tịch thu tài sản. Và nếu họ không chịu thực hiện nghi lễ dâng tiến thần linh thì cũng bị hành quyết. Đối với phụ nữ La Mã, những người không chịu bỏ đạo sẽ bị mất tài sản và chịu đi đày, trong khi các nhân viên dân sự và những người phục vụ trong gia đình hoàng đế nếu từ chối tế lễ sẽ bị giáng làm nô lệ và phải đi lao động trong các điền trang thuộc sở hữu hoàng đế. Thực tế về sự hiện diện của những người Kitô giáo có địa vị cao trong xã hội như vậy ngay tại trung tâm của đế quốc đã cho thấy rằng những biện pháp của Decius thực hiện chưa đầy một thập kỉ trước đó cũng không có tác dụng lâu dài.

Trong số những người bị hành quyết dưới thời Valerian có Cyprian, giám mục Carthage và Sixtus II, giám mục Roma cũng với các phó tế dưới quyền, bao gồm cả thánh Lawrence. Người ta có ghi lại một đoạn hội thoại giữa Cyprian với viên tổng đốc Carthage lúc bấy giờ là Galerius Maximus, trong một cuộc thẩm vấn trước công chúng vào ngày 14 tháng 9 năm 258 rằng:  

Galerius Maximus: “Ông có phải là Thascius Cyprianus không?”

Cyprian: “Vâng chính là tôi”.

Galerius: “Hoàng đế rất mực thánh thiêng ra lệnh cho ông phải tiến hành những nghi thức La Mã”.

Cyprian: ”Tôi từ chối làm việc đó”.

Galerius: “Hãy giữ gìn lấy bản thân ông”.

Cyprian: “Hãy cứ làm như ông đã ra lệnh; ở một tình cảnh quá rõ ràng như thế này, tôi chẳng còn cần giữ gìn gì nữa”.

Galerius: “Ông đã sống bình thường từ lâu ngoài xã hội, nhưng lại tụ tập cùng với những kẻ khác bị ràng buộc bởi một hội nhóm bất hợp pháp, và đồng thời tự xưng mình là kẻ thù công khai đối với các vị thần linh và tôn giáo của La Mã, với các hoàng đế tôn nghiêm, hiếu kính và rất mực thiêng liêng… [Nhà nước] đã cố gắng dù biết là vô ích để đưa ông trở lại chính đạo trong những nghi lễ tôn giáo chính thức; do đó, trong khi ông bị bắt với tư cách là một yếu nhân và người đứng đầu trong những tội ác xấu xa này, ông sẽ là tấm gương cho những kẻ bạn hữu tội lỗi của ông; và quyền uy của luật pháp sẽ đươc thể hiện rõ thông qua máu của ông”.

Rồi Galerius đọc lời phán quyết cuối cùng của phiên tòa, được viết trên một tấm biển: “Phán quyết cuối cùng của phiên tòa này, đó là Thascius Cyprianus sẽ bị xử tử hình bằng gươm”.

Cyprian: “Tạ ơn Chúa”.

Sau khi được giải đến thẳng nơi hành hình, Cyprian đã bị chém đầu. Văn phong của đoạn hội thoại trên cho thấy trong mắt chính quyền La Mã, Kitô giáo và giáo hội Kitô không phải là một tôn giáo mà là một tổ chức tội phạm. Khi con của Valerian là Gallienus trở thành hoàng đế năm 260, những sắc lệnh này bị hủy bỏ và cuộc bách hại chấm dứt. Khoảng thời gian tương đối yên ổn này, bắt đầu từ khi Gallienus lên ngôi, cho tới khi cuộc bách hại qui mô lớn do Diocletian phát động bắt đầu, được giáo hội gọi là giai đoạn “Tiểu hòa bình”.

Trong bộ sưu tập các bản thảo chép tay trên giấy cói papyrus được phát hiện cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX tại Ai Cập, mang tên Oxyrhynchus Papyri, có chép về lệnh bắt giữ một tín đồ Kitô vào ngày 28 tháng 2 năm 256, đó là thời gian Valerian làm hoàng đế, song lại không đề cập đến lí do bắt giữ. Việc đầu tiên của Valerian sau khi lên ngôi hoàng đế đó là phong con mình là Gallienus làm Caesar cùng cai trị. Vào đầu triều đại của ông, phương tây trở nên tồi tệ và rơi vào tình thế hỗn loạn. Ở phương đông, người Ba Tư xâm lược Armenia và tiến đánh Antioch. Valerian và Gallienus phải phân chia công việc với nhau: Gallienus lo việc phương tây; còn Valerian thì quay sang phương đông để đối mặt với mối đe dọa của người Ba Tư.

10. Cuộc bách hại cuối cùng: Thời kì Diocletian và Galerius

Khi Diocletian lên ngôi hoàng đế vào năm 284, tuy không có thái độ thù địch với Kitô giáo ngay lập tức, nhưng sự kiện này đã báo trước một sự chuyển đổi dần dần trong chính sách của nhà nước đối với những nhóm tôn giáo thiểu số. Trong mười lăm năm đầu tiên của triều đại mình, Diocletian đã thanh lọc những người Kitô ra khỏi quân đội, xử tử những người theo đạo Mani từ Ba Tư truyền vào, và tập hợp xung quanh mình những người có lập trường chống Kitô giáo. Diocletian có ấn tượng mạnh về một chính quyền chuyên chế và mong muốn gây dựng cho mình hình ảnh một người khôi phục vinh quang của La Mã trong quá khứ, và điều đó đã tiên báo một cuộc bách hại qui mô lớn chưa từng có trong lịch sử La Mã. Mùa đông năm 302, Galerius, bấy giờ là Caesar dưới quyền, thúc giục Diocletian phát động một cuộc bách hại chung đối với những người theo Kitô giáo. Diocletian cảm thấy cảnh giác và đã đến đền thờ thần Apollo ở Delphi để xin lời sấm chỉ dẫn. Sau khi nhận được nội dung từ lời sấm truyền, cảm thấy đề nghị của Galerius là đúng đắn, Diocletian đã ra lệnh tiến hành bách hại vào ngày 24 tháng 2 năm 303. Trong khi những mệnh lệnh từ Diocletian hướng đến những người Kitô thuộc tầng lớp có địa vị cao trong xã hội, thì mệnh lệnh của một trong những người kế nhiệm ông là Maximinus Daia lại có ý muốn cô lập hoàn toàn người Kitô giáo ra khỏi xã hội La Mã.

Thế nhưng sự đồng tình của tầng lớp trên và giới tinh hoa trong xã hội La Mã đối với cuộc bách hại lại không mấy phổ biến. Trong khi Galerius và Diocletian nhiệt tâm với cuộc bách hại, Constantius, Caesar nắm quyền ở phương tây lại không quan tâm tới sự kiện này. Tất cả các sắc lệnh bách hại về sau bao gồm cả những lời kêu gọi dân chúng dâng tiến lên các vị thần La Mã đều đã không được thực hiện trên lãnh thổ mà ông cai quản. Con trai ông là Constantine khi lên kế vị vào năm 306 đã khôi phục hoàn toàn quyền bình đẳng về mặt pháp lí cho người Kitô giáo, đồng thời hoàn trả lại tài sản đã tịch thu được trong thời gian bách hại. Tại Ý vào năm 306, con trai của Maximian, là Augustus cùng cai trị với Diocletian trước đó, đã lật đổ người kế vị được chỉ định của Maximian là Severus để xưng Augustus ở Roma, cũng hứa hẹn về một sự khoan dung triệt để đối với các tôn giáo. Còn Galerius dù tuyên bố chấm dứt bách hại ở phía đông năm 311, nhưng Maximinus Daia, người kế nhiệm ông vẫn tiếp tục bách hại ở đất Ai Cập, Palestine và Tiểu Á. Sau khi Constantine đánh bại Maxentius và làm chủ phương tây trên thực tế, ông đã cùng với Licinius (Licinius trên danh nghĩa là Augustus phương tây do Galerius phong trước đó, để thay cho Severus bị Maxentius giết) kí vào “sắc lệnh Milan” năm 313 với sự công nhận toàn diện hơn đối với Kitô giáo so với sắc lệnh của Galerius ban hành năm 311. Tiếp đó, Licinius lật đổ Maximinus Daia giữa năm 313, đánh dấu sự chấm dứt bách hại ở miền đông.

 

Constantine đại đế, người đã chấm dứt các cuộc bách hại sau sự kiện ban hành sắc lệnh Milan năm 313 và là hoàng đế La Mã đầu tiên theo đạo Kitô

Như vậy, cuộc bách hại do Diocletian khởi xướng đã thất bại trong việc kiểm soát sự trỗi dậy của giáo hội Kitô. Đến năm 324, sau khi đánh bại Licinius và trở thành người cai trị duy nhất, Kitô giáo đã trở thành tôn giáo giành được cảm tình của Constantine. Mặc dù cuộc bách hại đã chứng kiến những cái chết, sự tra tấn, bỏ tù và đày ải nhiều người Kitô giáo, song tựu trung, phần lớn người Kitô giáo đã tránh được sự trừng phạt của nhà cầm quyền. Tuy nhiên cuộc bách hại lại đem đến sự chia rẽ trong nội bộ các giáo hội, giữa những người từng chối đạo nay trở về hiệp thông, với những tín hữu bảo thủ cho rằng phải kiên tâm giữ đạo và sẵn sàng chịu chết nếu có bách hại. Một số sự chia rẽ nhất định, chẳng hạn như cuộc li khai của những người phái Donatism ở Bắc Phi, hay phái Melitian ở Ai Cập, vẫn còn tồn tại rất lâu sau các cuộc bách hại.

Tác giả Peter Brown nhận định: “Sự thất bại của cuộc Đại bách hại Diocletian được coi là sự xác nhận một quá trình tự khẳng định lâu dài chống chủ nghĩa phục tùng (tiếng Anh: conformism) được áp đặt bởi một đế quốc đa thần giáo. Quyền tự do khẳng định tín ngưỡng không được nhà nước công nhận nay đã được giành lấy và nắm giữ. Cho dù sau này, giáo hội và các quốc gia Kitô giáo đã phạm nhiều sai lầm trong vấn đề cưỡng bức tôn giáo, tuy nhiên những sự tử đạo của người Kitô giáo trong các cuộc bách hại do người La Mã phát động vẫn là một hình ảnh có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử của sự tự do. Và trong cuộc cách mạng này… vấn đề không chỉ là đơn thuần là những bất bình bên trong một địa phương, một tỉnh nào đó; mà là cả vị trí của một tôn giáo trong lòng xã hội”.

IV. Những tranh cãi 

Nhà thần học Paul Middleton viết rằng:

… những trình thuật về sự tử đạo thực sự là những câu chuyện gây tranh cãi. Không có bất kì một phương pháp trung dung nào trong những sự tích về những vị tử đạo đó, vì chúng chắc chắn sẽ tạo ra hình ảnh những anh hùng và những kẻ phản diện… ngay cả trong thời kì sơ khởi của giáo hội, sự tử đạo vẫn luôn bị tranh cãi. Hơn nữa, bất kì phép thử nào nhằm phân biệt đúng sai một cách khách quan những cuộc tử đạo, về cơ bản đều thể hiện sự áp đặt các giá trị hoặc thiên kiến của người dịch, người tường thuật hoặc thậm chí cả người biên tập nữa”.

Như vậy, có thể thấy sự bất đồng và tranh cãi thể hiện rõ nét khi bàn về những cuộc tử đạo của người Kitô giáo dưới thời kì đế quốc La Mã.

1. Quan điểm của Edward Gibbon

Cái gọi là “cuộc tranh cãi lâu dài” này có thể được coi là bắt đầu từ các nhà sử học như Edward Gibbon và G. W. Bowersock. Theo nhà sử học Patricia Craddock, tác phẩm Lịch sử về sự suy tàn và sụp đổ của đế quốc La Mã của Gibbon là một thành tựu, nhưng nó cũng chỉ ra sự thất bại của Gibbon trong việc để cho những thiên kiến cá nhân ảnh hưởng đến cách nhìn nhận của ông, theo kiểu “từ bỏ vai trò của một nhà sử học để chuyển sang vai trò của một công tố viên được ủy quyền trước tòa”. Và vì thế, bản thân Gibbon cũng trở thành một khía cạnh trong cái gọi là “cuộc tranh cãi lâu dài” này.

Gibbon cho rằng các nguồn tư liệu Kitô giáo khi đề cập về các cuộc tử đạo đã phóng đại con số và sự man rợ của các cuộc bách hại. Một bộ phận học giả sau đó đã xây dựng thêm dựa trên quan điểm này và khẳng định rằng sự phóng đại là cần thiết để tạo ra một “sự sùng kính đối với các đấng tử đạo” do nhu cầu định hình một bản sắc cho Kitô giáo, tách biệt với những truyền thống Do Thái và La Mã. Sự phóng đại và thêu dệt đã xảy ra, chủ yếu vào thời trung cổ, khiến cho các thánh tử đạo có tác động mạnh mẽ đến bản sắc Kitô giáo thời kì sơ khởi, tuy nhiên theo người đứng đầu chủng viện Bethany và Chicago, nhà thần học Graydon F. Snyder, sau khi tham khảo các văn bản cổ đại và bằng chứng khảo cổ có liên quan, đã nhận định: “mọi bằng chứng phi ngôn ngữ… các công trình kiến trúc còn tồn tại, dạng thức, biểu tượng, phong cách nghệ thuật, hình thức thực hành tang lễ, những bản khắc, những câu chữ, những ghi chép hay thậm chí cả âm nhạc, đều khẳng định sự sùng kính các thánh tử đạo không ảnh hưởng đến nguồn tư liệu Kitô giáo thời kì sơ khởi, bởi nó đã không bắt đầu cho đến sau thời đại của Constantine”.

Phần lớn các học giả hiện đại ít hoài nghi hơn Gibbon về mức độ nghiêm trọng của cuộc Đại bách hại do Diocletian khởi xướng. Một nhà sử học chuyên nghiên cứu về vị hoàng đế này là Stephen Williams đã viết vào năm 1985: “Ngay cả khi cho phép sáng tạo một chút thì những gì còn lại [sau cuộc Đại bách hại] cũng đủ khủng khiếp. Không giống như Gibbon, chúng ta đang sống trong thời đại đã trải qua những điều tương tự, và biết rằng cái cười cợt của sự hoài nghi đó là sai lầm như thế nào trong những ghi chép như vậy. Những điều đó có thể và đã từng tệ hại như những gì chúng ta tưởng là tệ hại nhất”.

2. Tính xác thực

Số lượng các trình thuật Kitô giáo có tính xác thực, về lịch sử và những bằng chứng khác thu thập được thuộc thời kì tiền-Constantine về các cuộc tử đạo vẫn còn đang bị tranh cãi gay gắt. Tác phẩm Acta Martyrum (Hành trạng các vị tử đạo), trong đó bao gồm tất cả những trình thuật khác nhau về sự bắt bớ, thẩm vấn, kết án, hành quyết và chôn cất các vị tử đạo trong các thế kỉ đầu Công nguyên. Các trình thuật này đều có tính lịch sử khác nhau vì nhiều trong số đó được viết rất lâu sau khi những sự kiện chúng mô tả diễn ra. Theo tiêu chí phân loại của Hippolyte Delehaye, một tu sĩ dòng Tên và là nhà nghiên cứu các vị thánh đưa ra, các văn bản trên được phân thành ba nhóm chính sau:

1. Các ghi chép chính thức và những trình thuật của những người có mặt trực tiếp

2. Trình thuật dựa trên những tài liệu thuộc nhóm thứ nhất, hoặc ít nhất có dựa trên một yếu tố lịch sử đủ tin cậy nhất định.

3. Những tiểu thuyết hoặc tác phẩm văn học hư cấu về các vị thánh sau này.

Với sự phân loại trên, nhóm thứ nhất mang tính lịch sử và nhóm thứ ba là thuộc thể loại văn học phi lịch sử đạt được sự chấp nhận rộng rãi; tranh cãi tập trung chủ yếu vào nhóm thứ hai. Theo nhà sử học người Pháp Pierre Maraval, nhiều văn bản trong nhóm thứ hai được viết để “gây dựng tinh thần cho người đọc, với mục đích chính không phải nhắm đến tính lịch sử mà là đưa ra hình ảnh về một minh chứng hoàn hảo”. Maraval bổ sung thêm rằng các sách thuộc thể loại Acta (Hành trạng) và Passiones (Khổ nạn) đã lưu giữ đủ dữ liệu lịch sử xác thực, cho phép người đọc hiện đại nhận ra thực tế của cuộc bách hại và cách mà các cộng đoàn Kitô giáo lúc bấy giờ cảm nhận nó.

Về tính xác thực trong các tác phẩm của Eusebius cũng là một chủ đề của cuộc tranh cãi. Eusebius đã có thiên kiến, và tác giả Barnes khẳng định ông mắc sai lầm đặc biệt là về niên đại, cũng như quá tôn sùng hoàng đế Constantine, nhưng nhiều phát biểu mà ông đưa ra được chấp nhận là đáng tin cậy, phần lớn đến từ phương pháp tiếp cận: những đoạn trích được trích dẫn cẩn thận từ những nguồn tư liệu gốc cổ đại. Ví dụ, Eusebius phát biểu rằng trong khi Marcus [Aurelius] cùng nắm quyền với [Antoninus] Pius [từ năm 138 đến năm 161], thì Pius đã viết chỉ dụ [liên quan đến tính chất hình sự của tội xưng mình là tín đồ Kitô] tới các thành phố Larissa, Thessalonica, Athens và tới tất cả những người Hi Lạp… Eusebius trích dẫn văn bản Biện hộ của giám mục Melito, gửi hoàng đế Marcus Aurelius và bản thảo tác phẩm Những lời biện giải của học giả Kitô giáo Justin cùng với một lá thư được cho từ hoàng đế hồi đáp lại, với chỉ có thay đổi nhỏ trong văn bản của ông. Nguyên tắc chính quyền La Mã áp dụng, đó là liệt việc theo đạo Kitô vào loại tội danh tự-thân (tiếng Latinh: eo ipso) cũng được nhắc đến rõ ràng ngay sau những năm 161 khi Marcus Aurelius chính thức trở thành người cai trị duy nhất. Nó được cho là được phát biểu trong lá thư mà hoàng đế trả lời về vấn đề những người Kitô giáo ở xứ Gaul, bị phản biện bởi giám mục Melito trong văn bản Biện hộ của ông, và dường như đã được sử dụng để kết tội học giả Justin và các bạn hữu của ông, bị xét xử và hành quyết trong những năm từ 161 đến 168. Theo tác giả Barnes, vì phương pháp tiếp cận như vậy mà Eusebius được sự đồng tình trong phần lớn những gì mà ông đưa ra.

3. Tính tự nguyện trong những cuộc tử đạo

Tác giả G. E. M. de Ste. Croix đã phân chia các trường hợp tử đạo Kitô giáo thời kì sơ khởi vào ba nhóm: những người tự nguyện tử đạo; những người không tự nguyện như tử đạo vì hành vi của họ, chẳng hạn như từ chối tuân lệnh chính quyền; và những người bị chính quyền săn lùng mà không có bất kì hành động tuyên xưng đức tin nào từ phía họ. Trong số 91 vị tử đạo ở Palestine được đề cập bởi Eusebius trong tác phẩm On the Martyrs of Palestine (Về những vị tử đạo Palestine), Ste. Croix cho biết không có chi tiết nào phân loại 44 người trong số họ cả; còn 47 người còn lại thì có 13 người tự nguyện, 18 người bị chính quyền “để ý” và 16 người bị cho “có thể nhận ra dấu hiệu phạm tội”. Từ đó, ông kết hợp hai nhóm đầu tiên thành một định nghĩa rộng hơn về “sự tự nguyện tử đạo” và loại họ ra trong tổng số các trường hợp tử đạo.

Herbert Musurillo, một học giả và là dịch giả cuốn sách Acts of the Christian martyrs Introduction (Một dẫn nhập về hành trạng các vị tử đạo Kitô giáo) cho rằng Ste. Croix đã “nhấn mạnh quá mức tính tự nguyện về sự tử đạo, điều mà rất hiếm có bằng chứng xác đáng trong các sách thuộc thể loại Acta (Hành trạng) thời sơ khởi. Giáo sư triết học Alan Vincelette cũng đồng tình với quan điểm này, và cho rằng sự phân loại của Ste. Croix về những người tự nguyện tử đạo là quá rộng rãi, bởi số liệu kiểm tra trong bốn thế kỉ đầu tiên cho thấy có tồn tại những người này nhưng chỉ chiếm khoảng 12% trên tổng số, chứ không phải là 75% như Ste. Croix đưa ra.

Tác giả G. W. Bowersock cho biết sự tự nguyện tử đạo đã trở nên quá phổ biến đến mức cuối thế kỉ thứ hai, các nhà chức trách của giáo hội đã cố gắng ngăn cản hành vi này, và đến thế kỉ thứ ba và thứ tư, họ bắt đầu phân biệt rạch ròi ai sẽ nhận “triều thiên tử đạo” từ Chúa Kitô, giữa những người “tử đạo vô ý thức [ám chỉ sự tự nguyện tử đạo mà không có nhận thức] và những trường hợp tử đạo truyền thống khác, sau những kết quả của cuộc bách hại đem đến”.

Trong các công trình của mình, nhà nghiên cứu Candida Moss lập luận sự tự nguyện tử đạo không được các tín hữu Kitô thời kì sơ khởi công nhận là một phạm trù riêng rẽ, và bà nhận định “ở đâu không có những chỉ dẫn về mặt ngôn ngữ, ở đó các học giả có thể thoải mái làm việc với các giả thuyết và phân loại mà tính cá nhân cao về vấn đề: Điều gì khiến một cuộc tử đạo diễn ra? Đó là sự tự nguyện hay đến từ động cơ nào khác thôi thúc? Bà cũng lập luận rằng bằng chứng cho rằng sự tự nguyện tử đạo thuộc về một dạng thực hành tín ngưỡng riêng biệt chỉ có thể được xác định chắc chắn thông qua các văn bản có phân biệt giữa các hình thức tử đạo, nhưng nếu tồn tại một văn bản như vậy, thì sự phân biệt cũng chẳng bao giờ khách quan cả. Moss cho rằng những tín đồ Kitô giáo thời kì sơ khởi chỉ bắt đầu công nhận và lên án hành vi “tự nguyện tử đạo” từ thế kỉ thứ ba trở đi.

Một cách tương tự, tác giả Paul Middleton cũng lập luận về tính hợp lệ của sự tự nguyện tử đạo như một bộ phận bên trong cái tổng quát hơn là “sự tử đạo Kitô giáo thời kì tiền-chính thống” và bao hàm tất cả những trường hợp như vậy vào một con số tổng thể. Ông nói rằng trong sách Hành trạng thánh Cyprian “không có điều gì trong văn bản cho thấy rằng những người tham gia hành vi tự nguyện tử đạo hàng loạt, là những người nào khác ngoài các vị tử đạo chân chính cả”. Trong sách Cuộc khổ nạn thánh Perpetua, một vị lãnh đạo của giáo hội đã tới để thêm sức cho những tín hữu ở trong tù, những người này được mô tả như những kẻ đã “buông bỏ bản thân mình phó mặc theo ý muốn”. Viên tổng đốc tỉnh Asia là Arrius Antoninus, sau khi đã đáp trả một nhóm những người Kitô giáo đòi được tử đạo bằng cách ra lệnh giết một số người, cũng phải thốt lên rằng: “Hỡi những kẻ khốn khổ, nếu các người muốn chết, thì đã có vách đá dựng đứng và thòng lọng”. Còn Tertullian dường như cũng ủng hộ tình nguyện để chính quyền bắt giữ bằng cách trả lời nhà cầm quyền rằng ông và những tín hữu khác không sợ sự trả thù từ La Mã mà thay vào đó “sẵn sàng chịu hình phạt”. Theo quan điểm của Moss và Middleton, tính chất tự nguyện thực sự bị phê phán trong Kitô giáo giai đoạn sau này, nhưng những người tự nguyện tử đạo “cũng được đánh giá cao như những vị tử đạo khác trong truyền thống Kitô giáo thời kì sơ khởi”.

4. Những con số

Ste. Croix ước tính về tổng số người tử đạo trong cuộc Đại bách hại hoàn toàn phụ thuộc vào niềm tin của ông về việc Eusebius đã cố gắng viết một trình thuật đầy đủ về các vị tử đạo ở địa phương của Eusebius, trong tác phẩm On the Martyrs of Palestine, mặc dù mục đích thực sự của Eusebius vẫn còn gây tranh cãi. Ste. Croix lập luận rằng mục đích của Eusebius là rất rõ ràng: sau khi trình thuật về các cuộc tử đạo tại thành phố Caesarea năm 310 (đó là lần cuối cùng), Eusebius kết luận “Đó là những cuộc tử đạo đã xảy ra tại Caesarea trong suốt thời gian bách hại”; lại ví dụ khác, sau khi mô tả các đợt hành quyết hàng loạt tại Phaeno, Eusebius cũng viết “Những cuộc tử đạo này đã diễn ra ở Palestine trong suốt tám năm; và trên đây là tường thuật về cuộc bách hại trong thời đại của chúng ta”.

Tác giả Timothy Barnes khẳng định rằng chủ ý của Eusebius không rộng như Ste. Croix lập luận. Theo quan điểm của Barnes, chủ ý của Eusebius không phải cố đưa ra một trình thuật toàn vẹn về tất cả các vị tử đạo. mà là đưa ra các ví dụ cụ thể một cuộc tử đạo có thể diễn ra như thế nào. Barnes trích dẫn lời nói đầu của phần tựa khá dài trong sách Các vị tử đạo của Eusebius để làm cơ sở: “Vậy thì thật là hợp lí khi những cuộc xung đột tiếng tăm ở các địa phương khác nhau, nên được qui cho những người sống cùng những người đã tham gia viết lại, ở địa phương họ. Nhưng đối với tôi, tôi cầu nguyện rằng tôi có thể nói về những cá nhân mà tôi đã được trò chuyện cùng” cho thấy có tồn tại một số nhân vật mà tại đó Eusebius không nhắc tới, nhưng có thể họ lại được nhắc tới ở những nguồn tư liệu khác. Jan Bremmer, giáo sư danh dự đại học Groningen Hà Lan, chuyên ngành nghiên cứu về tôn giáo đã viết rằng: “Như chúng ta đều biết, Eusebius đã thu thập những sự tích về các vị tử đạo trước thời kì của ông, thông qua một cuốn sách có tựa đề là Collection of the Ancient Martyrs (Tuyển tập về các vị tử đạo thời xa xưa) và trong sách này có tồn tại một số những sự tích không được Eusebius đề cập đến trong các văn bản còn sót lại của ông”. Bremmer lập luận rằng không có lí do gì để mong đợi Eusebius hoặc thánh Augustine sau đó sẽ đưa sự tích của tất cả các vị tử đạo mà họ biết vào trong văn bản của họ. Những trình thuật khác của Eusebius cũng tiết lộ về những tín hữu vô danh đồng hành cùng các vị tử đạo đã được biết đến, họ không được đưa vào danh sách các vị có tên chính thức trong cuốn On the Martyrs of Palestine.

Nhà sử học Edward Gibbon sau khi phàn nàn về sự mơ hồ trong cách diễn đạt của Eusebius đã đưa ra ước tính đầu tiên về số lượng người tử đạo trong cuộc Đại bách hại bằng cách đếm số người được liệt kê trong danh sách bên trong cuốn On the Martyrs of Palestine chia cho số năm diễn ra bách hại, nhân với tỉ lệ dân số trên toàn thể thế giới La Mã lúc bấy giờ, mà cụ thể được đại diện bởi tỉnh Palestine, rồi nhân kết quả thu được với tổng thời gian của cuộc bách hại; kết quả là ông nhận được một con số ở khoảng dưới hai nghìn người. Cách tiếp cận của Gibbon phụ thuộc vào giả thiết đặt ra là số lượng người tử đạo trong On the Martyrs of Palestine là đầy đủ, cũng như sự hiểu biết về dân số của ông là chính xác, và mật độ phân bố dân số trên toàn đế quốc phải đạt trạng thái ổn định. Song điều này trên thực tế lại không xảy ra. Năm 1931, tác giả Goodenough đã phản đối và cho rằng ước tính này của Gibbon là không chính xác; nhiều người khác khi tự mình ước tính theo công thức của Gibbon còn cho ra kết quả sai khác lớn hơn nhiều, cụ thể số lượng người Kitô giáo khởi đầu ở mức 6 triệu đã tăng trưởng lên mức 15 triệu, so với dân số toàn La Mã vào năm 300 là 60 triệu người; như vậy nếu chỉ có 1% trong số 6 triệu người Kitô giáo chết dưới thời Diocletian thì con số đó đã là 60 nghìn người. Một số phép ước lượng khác sau đó vẫn còn dựa trên phương pháp luận của Gibbon. Nhà sử học thuộc giáo hội Anh là W. H. C. Frend ước tính có 3000-3500 người Kitô giáo đã bị giết trong cuộc Đại bách hại, mặc dù con số này còn nhiều tranh cãi. Một nhà sử học khác là Min Seok-shin thì ước tính có hơn 23500 người tử đạo dưới thời Diocletian, trong đó có 850 người được biết tên.

Ste. Croix khi biết về những con số kết luận trên đã phản ứng: “Chỉ tập trung đưa ra thống kê về các cuộc tử đạo hoàn toàn không phải là thước đo tin cậy về sự khổ nạn mà toàn thể người Kitô giáo đã phải chịu đựng”.

 

Chú thích:

(1) Lấy ví dụ như trong sách 1 Gioan, chương 2, các câu từ 15-17 có nói: “Anh em đừng yêu thế gian và những gì ở thế gian…vì mọi sự trong thế gian: như dục vọng của tính xác thịt, dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của, tất cả những cái đó không xuất phát từ Chúa Cha nhưng xuất phát từ thế gian…” (Kinh thánh ấn bản 2011, Nhóm phiên dịch các giờ kinh phụng vụ, Nhà xuất bản Tôn giáo). Thế gian ở đây theo cách hiểu của người Kitô giáo là những ham muốn trong cuộc sống đời thường luôn rình rập theo đuổi khiến con người lìa xa đức tin, và là những biểu hiện mà người Kitô giáo nhận thấy được ở những người đa thần giáo.

(2) Trong thần thoại Hi Lạp, Thyestes, vì chiếm ngôi vua thành Mycenae nên đã bị người em mình là Atreus giết những đứa con của mình, làm thành bữa tiệc và bị lừa vào ngồi ăn thịt chính con mình. Còn Oedipus là con trai vua Laius thành Thebes và vợ là Jocasta, bị tiên tri rằng sẽ giết cha và kết hôn với mẹ của mình, trải qua vô số bi kịch theo đúng như vậy, cuối cùng ông tự chọc mù mắt và sống trong đau khổ đến lúc chết.

(3) Xem thêm bài viết về những bức thư giữa Trajan và Pliny Trẻ tại: https://vietnguyend.blogspot.com/2021/07/plinius-tre-nhung-thu-tin.html.

(4) Một điều thú vị là cách thức này dường như đã lặp lại tại nước ta vào thời kì đầu nhà Nguyễn cấm đoán Công giáo, các quan tổng đốc ở địa phương mỗi lần bắt được tín hữu Công giáo cũng bắt chà đạp lên thập giá hoặc ảnh Chúa để khẳng định người đó đã chối đạo rồi mới tha bổng.

(5) Nguyên văn: proconsul. Các tỉnh La Mã được phân thành hai loại: Thứ nhất là tỉnh của hoàng đế, những nơi có nhiều quân đoàn lê dương trú đóng, đứng đầu là một legatus Augusti pro praetore, tạm dịch là “khâm sai hoàng đế hành pháp quan sự”, nắm cả quyền quân sự lẫn dân sự. Cũng có những tỉnh của hoàng đế nhưng không có quân đoàn nào, thì sẽ do một praefectus hoặc procurator chỉ huy lực lượng quân trợ chiến ở đó, và ngoại lệ là ở Ai Cập, chức danh này có tên là praefectus Aegypti, chỉ dành do những người được hoàng đế ưu ái đảm nhiệm. Thứ hai là các tỉnh do viện nguyên lão điều hành có tình hình ổn định và ít bạo loạn hơn, tổng đốc ở đây gọi là proconsul, hầu như chỉ có quyền dân sự là chính. Các viên tổng đốc đều phải từng đảm nhiệm chức vụ chấp chính quan hoặc pháp quan, riêng các praefectus và procurator là người có xuất thân từ tầng lớp kị sĩ thấp hơn các nguyên lão. Asia không nên hiểu là châu Á mà đây là một tỉnh La Mã lập ra vào năm 133 trước Công nguyên, lãnh thổ bao gồm phần phía tây bán đảo Tiểu Á trông ra biển Aegea ngày nay.

(6) Triết học Tân-Plato là trường phái triết học duy tâm trong đó thế giới quan tuân theo một ý tưởng mang tính nhất nguyên, cho rằng mọi thực thể bắt nguồn từ một khởi nguyên duy nhất, gọi là “Cái Độc nhất” (tiếng Anh: the One), “Cái Toàn thiện” (tiếng Anh: the Good). Triết học kinh viện của Kitô giáo cũng vận dụng quan niệm này và đồng nhất nó với Thiên Chúa. Đến thế kỉ XIX, Hegel lại gọi nó trong học thuyết của mình là “Tinh thần tuyệt đối”. Ở đây, nguyên văn dùng chữ God nhưng tạm dịch như vậy để khỏi nhầm lẫn với khái niệm Thiên Chúa dùng trong các ngữ cảnh Kitô giáo hoặc Do Thái giáo.

(7) Viện nguyên lão La Mã lúc bấy giờ, đứng đầu là hai quan chấp chính Quintus Marcius Philippus và Spurius Postumius Albinus, đã ban hành sắc lệnh công bố giáo phái thờ thần Bacchus là mối đe dọa với an ninh quốc gia, cần phải tiến hành một qui trình pháp lí nghiêm ngặt,  điều tra làm rõ và trao thưởng cho các cá nhân cung cấp thông tin, đồng thời tiến hành trấn áp giáo phái này trên khắp lãnh thổ Ý. Hiện tại vẫn còn bản sao của sắc lệnh này (bản gốc khắc trên bảng đồng) đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Nghệ thuật Viên, Áo.

(8) Nguyên văn dùng chữ procurator, tạm dịch là tổng đốc, xin xem thêm Chú thích 5. Pontius Pilatus chính là quan chức La Mã đứng đầu tỉnh Judaea từ năm 26-36 đã xử Chúa Giêsu chịu hình phạt đóng đinh vào thập giá. Theo phân loại của chính quyền La Mã, Judaea là tỉnh thuộc hoàng đế song lực lượng quân sự trú đóng ở đây không nhiều nên quan chức đứng đầu chỉ là các procurator hoặc praefectus. Căn cứ trên văn khắc của một tấm đá phát hiện năm 1961 tại thành phố Caesarea, Israel, cho thấy Pilatus là một viên praefectus thì đúng hơn.

(9) Rất có thể những tranh cãi như vậy xuất phát từ cách hiểu của từ Latinh institutum, nghĩa đen chỉ một nguyên tắc hoạt động, ý định hoặc kế hoạch nào đó, tuy nhiên ở nghĩa rộng còn có nghĩa là một sắc lệnh, thể chế, thiết chế

(10) Ví dụ ở câu thứ 9 của chương 6 sách Khải huyền nói về thị kiến của tác giả về ngày Phán xét cuối cùng: “Khi Con Chiên mở ấn thứ năm, thì tôi thấy dưới bàn thờ, linh hồn của những người đã bi giết vì đã rao giảng lời Thiên Chúa và đã làm chứng” (Kinh thánh ấn bản 2011, Nhóm phiên dịch các giờ kinh phụng vụ, Nhà xuất bản Tôn giáo). Đó là cách nói chỉ những người tử đạo Kitô giáo.

(11) Nay là đảo Ventotene thuộc tỉnh Latina vùng Lazio của Ý, nằm ở phía đông nam thành phố Roma trong biển Tyrrhenum. Thời La Mã, các hoàng đế thường dùng đảo này làm nơi đày ải các nhân vật thường là phụ nữ thuộc gia đình hoàng đế phạm tội đến đó.

(12) Nguyên văn dùng chữ obstinacy, tuy nhiên trong việc tố tụng mà dùng lí do đó để gán cho một tội danh thì thật là thiển cận. Đúng ra nhà cầm quyền sẽ khép vào tội danh bất kính hoặc phản quốc sau khi đã một người Kitô khước từ việc chối đạo bằng cách dâng cúng trước các thần linh La Mã để chứng minh trung thành với nhà nước.

(13) Dưới thời kì đế quốc, người La Mã chia những vùng đất ở Gaul mà Julius Caesar chinh phục được trước đó thành ba tỉnh: Gallia Belgica, nằm trên lãnh thổ Bỉ, Hà Lan và đông bắc nước Pháp ngày nay; Gallia Lugdunensis, bao trùm lãnh thổ nước Pháp từ bán đảo Bretagne dọc theo sông Loire và sông Seine về phía đông nam; và Gallia Aquitania thuộc phía tây nam nước Pháp giáp với biển và đi xuống dãy Pyrénées giáp với đất Tây Ban Nha. Lugdunum là thủ phủ tỉnh Gallia Lugdunensis.

 

Bài viết được chuyển ngữ từ Wikipedia tiếng Anh, mục từ Persecution of Christians in the Roman Empirehttps://en.wikipedia.org/wiki/Persecution_of_Christians_in_the_Roman_Empire. Vui lòng không up lại khi chưa có sự đồng ý từ người dịch.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến