Những cuộc bách hại Kitô giáo của đế quốc La Mã
Những
cuộc bách hại người Kitô giáo của đế quốc La Mã xuất hiện song thường rải rác
và mang tính cục bộ xuyên suốt chiều dài lịch sử đế quốc La Mã, bắt đầu từ thế
kỉ I đến thế kỉ IV Công nguyên. Vốn khởi đầu là một quốc gia đa thần giáo với
những truyền thống tôn giáo kế thừa từ người Hi Lạp trước đó, song đạo Kitô đã
lan rộng khắp lãnh thổ La Mã và tạo nên một cuộc xung đột ý thức hệ với tín
ngưỡng mà nhà nước đương thời công nhận. Người đa thần thực hiện tín ngưỡng của
họ thông qua việc hiến tế cho các vị thần và các hoàng đế La Mã được nhà nước
tuyên bố “trở thành bậc thần thánh”, điều này khiến cho người Kitô giáo căm
ghét vì tín ngưỡng của họ cấm sự thờ cúng ngẫu tượng. Nhà nước La Mã và những
thành viên khác của xã hội dân sự đã qui kết các tín đồ Kitô những lí do như
phản quốc, thực hiện nhiều tội ác (mặc dù chỉ là đến từ sự đồn đại), hội họp
bất hợp pháp và truyền bá một thứ tôn giáo ngoại lai, dẫn đến sự chối bỏ của
người La Mã đối với nhà nước.
|
Lời
cầu nguyện cuối cùng của các vị tử đạo (tranh của
Jean-Léon Gérôme, năm 1883) |
Cuộc bách hại cục bộ đầu tiên diễn ra dưới thời hoàng đế Nero (cai
trị từ 54-68) ngay tại Roma. Một cuộc bách hại qui mô lớn hơn tiếp tục diễn ra
dưới thời kì của Marcus Aurelius (cai trị từ 161-180). Rồi sau một khoảng thời
gian tạm lắng, bách hại lại tiếp tục dưới thời các hoàng đế Decius (cai trị từ
249-251) và Trebonianus Gallus (cai trị từ 251-253), có qui mô sâu rộng. Cuộc
bách hại dưới thời Valerian (cai trị từ năm 253-260) chấm dứt khi chính hoàng đế
bị cầm tù trong trận chiến với vua Shapur I của đế quốc Ba Tư Sassanid (cai trị
từ năm 240-270) tại Edessa. Người kế nhiệm Valerian là Gallienus (cai trị từ
253-268) đã ra lệnh dừng bách hại người Kitô giáo sau đó.
Đến thời kì hoàng đế Diocletian (cai trị từ 283-305), diễn ra cuộc
bách hại qui mô lớn cuối cùng đối với người Kitô giáo, và tiếp tục được đẩy mạnh
thực hiện đối với từng khu vực của đế quốc mãi cho đến khi hoàng đế Galerius
(cai trị từ 310-313) ra sắc lệnh Serdica chấm dứt và hoàng đế Maximinus Daia
(cai trị từ 310-313) chết. Sau khi Constantine đại đế (cai trị từ 306-337) đánh
bại đối thủ của mình là Maxentius (cai trị từ 306-312) tại trận Cầu Milvius
tháng 10 năm 312, ông và đồng hoàng đế là Licinius ban hành sắc lệnh Milan (năm
313) cho phép mọi tôn giáo hiện diện trong đế quốc, bao gồm cả Kitô giáo được tự
do hoạt động.
I. Vấn đề tôn giáo trong xã
hội La Mã
Vào thời kì đầu đế quốc, trên thực tế La Mã không có một tôn giáo
nào chung cho tất cả các cư dân, mà tồn tại nhiều tôn giáo, đa phần là đa thần
và mang tính địa phương. Mỗi thành thị thờ phụng các vị nam thần và nữ thần vốn
được kế thừa từ tôn giáo Hi Lạp và được La Mã hóa. Đó là kiểu tôn giáo thành
bang (polis-religion) tồn tại bên trong và không tách rời khỏi “kiến
trúc” chung của một thành thị cổ đại; nghĩa là thực thể tôn giáo không tách rời
khỏi thực thể chính trị - dân sự, và tôn giáo chú trọng tới nghi lễ hơn là niềm
tin của tín đồ. Các tôn giáo kín (private religion) cũng như mọi hình thức
thực hành của nó ra ngoài xã hội công cộng luôn được đặt dưới sự kiểm soát của
các quan chức, hay nói cách khác là do viện nguyên lão La Mã, quản lí. Tôn giáo
dần dần trở thành một yếu tố quan trọng để được xem là một người La Mã, khi việc
thực hành tôn giáo phổ biến rộng rãi và có mối quan hệ đan xen với chính trị.
Song sự ủng hộ cho hình thái đa thần giáo truyền thống này bắt đầu
suy thoái kể từ thế kỉ đầu tiên trước Công nguyên khi nó được ghi nhận bởi các
tác gia và sử gia đương thời là trở nên sáo rỗng và vô ích đối với xã hội. Sự cộng
hưởng của những yếu tố tác động bên ngoài như chiến tranh và các cuộc xâm lược,
cùng với những yếu tố nội tại như tính chất trọng hình thức và sự ảnh hưởng của
chính trị vào tôn giáo truyền thống; được cho là đã tạo nên sự suy thoái từ từ
của đa thần giáo. Để khỏa lấp khoảng thiếu hụt về mặt tinh thần trong đời sống
cá nhân, người ta phải tìm đến một hình thức thờ phụng mới; chẳng hạn như thờ
cúng hoàng đế, thờ cúng bí truyền (mysteric cult), và tiếp nhận các tôn
giáo đến từ phương đông, trong đó bao gồm cả Kitô giáo.
Người La Mã đã trù tính tới vấn đề đồng hóa trong khi xây dựng đế
quốc của mình, theo đó La Mã cho phép thu nhận những kiều dân hay người ngoại
kiều (foreigner) trở thành một phần của cư dân đế quốc, nhưng với điều
kiện là sự tiếp nhận những vị thần ngoại lai đó cùng những nghi thức thực hành
thờ phụng họ không được phép áp đặt lên các vị thần khác trong hệ thống thần linh
chung: “Có nhiều vị thần được giới thiệu tới Roma và được thiết lập thành một
phần của tôn giáo nhà nước La Mã, song cũng một lượng lớn [các thần khác] thì
không được như vậy”. Tính mở (openness) đặc trưng này đã lôi cuốn nhiều
học giả như Ramsay MacMullen đã phát biểu rằng trong quá trình bành trướng lãnh
thổ, đế quốc La Mã đã “hoàn toàn khoan dung [các tôn giáo ngoại lai], cả trên
trời lẫn dưới đất”, nhưng cũng khẳng định thêm rằng: “Sự khoan dung đó mới chỉ
là một nửa của câu chuyện mà thôi”.
MacMullen cho rằng yếu tố quan trọng nhất trong việc xác định khi
nào thì nhận được sự “khoan dung” và “không khoan dung” từ La Mã nằm ở việc tôn
giáo đó cần tôn vinh một vị thần “tuân theo phong tục của tổ tiên để lại”. Về
điểm này thì người Kitô giáo được xem là đã thất bại bởi họ không còn nhớ đến cội
nguồn mà các bậc tổ tiên họ đã gây dựng trong Do Thái giáo. Tuy nhiên, cũng phải
nói rằng cách thức mà tôn giáo đó thực hành vẫn là một yếu tố. Các quan chức La
Mã đã nghi ngại trước những người thờ cúng thần Dionysus (thần rượu nho của người
Hi Lạp) và những nghi thức của họ trong lễ Bacchanalia từ tận năm 186 trước
Công nguyên bởi vì nó “được thực hiện vào ban đêm”. Thuật bói toán, chiêm tinh
cùng những “thói tục Chaldea” thực hiện kín vào ban đêm được xem như là các dạng
ma thuật cần phải bị trục xuất và cấm đoán trong đầu thời kì đế quốc. Nhà khảo
cổ học Luke Lavan giải thích rằng vì lí do thờ phụng diễn ra vào ban đêm, tính
kín và bí mật rất dễ đánh đồng với tội phản quốc và ngầm âm mưu chống lại hoàng
đế. Những cuộc tụ họp như vậy bị giải tán, người cầm đầu bị bắt giữ và xét xử,
phụ nữ bị cấm nắm giữ những chức sắc cao trong giáo phái đó cũng như mọi công
dân La Mã bị cấm trở thành các tư tế của giáo phái đó; đó là những biện pháp kiểm
soát chặt chẽ được thiết lập bởi chính quyền.
II. Lí do, nguyên nhân và những
yếu tố góp phần
1. Lí do
Nhà sử học A.N. Sherwin-White ghi nhận rằng những cuộc tranh luận
nghiêm túc về những lí do mà người La Mã bách hại Kitô giáo bắt đầu từ năm
1890, khi mà đã “trải qua 20 năm tranh cãi” và đã đưa ra ba luồng ý kiến chính:
Thuyết thứ nhất của các học giả người Pháp và người Bỉ cho rằng tồn tại một qui tắc ứng xử chung được thiết lập tỉ mỉ và có hiệu lực khắp đế quốc, theo đó cấm
chỉ mọi hoạt động của Kitô giáo. Hoàng đế Nero thường được cho là người đầu
tiên khởi xướng, hoặc có thể là hoàng đế Domitian. Ý kiến này được phát triển
thành thuyết “luật lệ chung”, dành một sự chú ý lớn tới những trình thuật về
các cuộc bách hại của nhà thần học Tertullian sống vào thế kỉ III, cho rằng việc
“buộc tội cho danh Người (chỉ Chúa Giêsu)” vốn là chủ ý của Nero. Nero sẵn đã
có sự tập trung vào việc cấm đoán các tôn giáo mới hiện diện trong đế quốc,
nhưng đối với những người Kitô giáo thì ông ta áp dụng một nguyên tắc cổ xưa
hơn từ thời cộng hòa La Mã, đó là nếu dám truyền bá mê tín dị đoan trái phép của
nhà nước sẽ được xem như tội xúc phạm dẫn đến án tử hình. Sherwin-White cho biết
thêm thuyết này có thể giải thích được nguyên nhân của các cuộc bách hại tại
Roma, nhưng thất bại trong việc giải thích chuyện đó ở các tỉnh khác trong đế
quốc La Mã. Vì lẽ đó mà thuyết thứ hai được để ý tới.
Thuyết thứ hai bắt nguồn từ các học giả người Đức, quen thuộc với
các độc giả nói tiếng Anh, đó là thuyết “cắt giảm” (từ tiếng Latinh coercitio),
cho rằng người Kitô giáo bị xét xử bởi tổng đốc các tỉnh La Mã thông qua chức
trách thông thường của họ là giữ gìn trật tự an ninh cho tỉnh đó, và căn cứ vào
việc người Kitô giáo đã truyền bá “thứ tôn giáo ngoại lai làm sản sinh ‘sự chối
bỏ trên phạm vi quốc gia’, cùng với sự xa rời tôn giáo truyền thống La Mã. Một
số [tín đồ Kitô] khác thay vì lí do trên thì mang trong mình một niềm ác cảm
chung đối với trật tự xã hội mà La Mã thiết lập và bất phục trước quyền hạn của
nhà nước nắm giữ. Tất cả những người thuộc giáo phái này dường như hình dung
trình tự xét xử và tố tụng của La Mã không khác gì hành vi thô bạo mang tính cưỡng
bức, hoặc một cuộc thẩm tra nhằm chống lại những kẻ làm điều ác, bắt bớ và tra
tấn nằm ngoài những qui định thông thường của việc xét xử”.
Trường phái thứ ba khẳng định người Kitô giáo bị bách hại đơn thuần
là vì các cáo buộc gây ra những tội hình sự cụ thể như giết trẻ em, loạn luân,
thực hành ma thuật, hội họp bất hợp pháp và phản quốc – dựa trên sự khước từ của
họ đối với việc sùng bái tính thần thánh của hoàng đế La Mã. Sherwin-White cho
rằng: “Ý kiến thứ ba này thường được gộp chung cùng với thuyết coercitio, tuy
nhiên một số học giả xem tất cả các cuộc bách hại người Kitô giáo chỉ đến từ
cáo buộc gây tội hình sự thông thường, đáng chú ý hơn là phản quốc và hội họp bất
hợp pháp hoặc truyền bá tôn giáo ngoại lai”. Mặc dù trong lịch sử cũng đã có tồn
tại những lời đồn ác ý này dành cho người Kitô giáo, song thuyết này ít được nhận
sự đồng tình nhất trong ba thuyết bởi giới học giả sau này.
2. Những nguyên nhân xã hội và tôn
giáo
a. Xung đột ý thức hệ
Giáo sư ngành nghiên cứu cổ điển Joseph Plescia cho rằng sự bách hại
bắt nguồn từ nguyên nhân xung đột ý thức hệ, theo đó một bên khẳng định Caesar
của La Mã là bậc thần thánh, còn những người Kitô giáo chỉ có thể chấp nhận một
vị thần và đó không phải là Caesar. Tác giả Earle E. Cairns mô tả cuộc xung đột
ý thức hệ này: “Quyền tể trị độc nhất của Chúa Kitô đã đụng độ với đòi hỏi cai
trị tuyệt đối của Caesar”.
Trong sự va chạm giữa hai ý thức hệ này, “một người Kitô sống dưới
một mối đe dọa thường trực là bị tố cáo [bởi những người đa thần] và đứng trước
khả năng đối mặt với những cáo buộc dẫn đến án tử hình”. Joseph Bryant khẳng định
không dễ để người Kitô che giấu tôn giáo của họ và giả vờ thể hiện bản sắc La
Mã thay thế, bởi sự khước từ cuộc sống trần thế vốn là một đặc trưng trong đức
tin của họ, đòi hỏi “nhiều sự khác biệt so với các chuẩn mực và theo đuổi thông
thường”. Người Kitô sở hữu những tiêu chuẩn đạo đức mà trước hết là tránh xa những
biểu hiện mà họ cho là bị trói buộc bởi ‘cái ác’ (xem thêm Tân ước các sách 2
Côrintô 6:1-18; 1 Gioan 2:15-18; Khải huyền 18:4) (1) Cuộc sống
của một người Kitô là một cuộc sống yêu cầu lòng can đảm tính bằng ngày, “với lựa
chọn hoặc là Chúa Kitô, hoặc là thế gian này đang ép buộc các tín hữu phải từ bỏ
đức tin của mình bằng vô số cách”.
“Sự hiện diện của người Kitô giáo trong những lễ hội công cộng,
những cuộc thi đấu thể thao hay những buổi trình diễn sân khấu bị xem là chứa
nhiều điều nguy hại đến đức tin, có thể khơi dậy trong lòng họ những ý nghĩ đồi
trụy và điên cuồng tội lỗi, điều thường thấy trong những buổi lễ tôn vinh các vị
thần của tín ngưỡng đa thần giáo. Nghề nghiệp của họ cũng bị đánh giá không phù
hợp với những nguyên tắc đạo đức Kitô giáo nếu như họ làm những công việc như
quân dịch, công chức, chế tác tượng thần và việc theo đuổi các lĩnh vực liên
quan đến văn hóa đa thần giáo như âm nhạc, diễn xuất, giảng dạy trong các nhà
trường. Ngay cả việc đeo trang sức trên người và ăn mặc đẹp cũng bị phán xét hà
khắc bởi những nhà luân lí và các chức sắc trong giáo hội Kitô, cũng như việc sử
dụng mỹ phẩm và nước hoa”
(Joseph Bryant)
Tại Roma, công dân được kì vọng phải chứng minh được lòng trung
thành của họ với La Mã bằng cách tham gia vào những nghi lễ của tôn giáo nhà nước
thông qua những ngày lễ, đám rước và dâng cúng diễn ra trong suốt một năm. Người
Kitô giáo đơn giản là không thể tham gia những việc đó, vì vậy họ bị xem là thuộc
về một giáo phái bất hợp pháp chống đối lại trật tự xã hội và cần bị bài trừ.
b. Tính kín (privatzing)
Tác giả Margaret Y. McDonald giải thích về tính kín của tôn giáo
cũng là một yếu tố dẫn đến các cuộc bách hại, theo đó “người Kitô giáo chuyển
những hoạt động của họ từ trên đường phố về những khu vực riêng biệt hơn như
trong nhà, trong những cửa hiệu và những căn hộ sở hữu bởi phụ nữ…nhằm cắt đứt
những ràng buộc thông thường giữa tôn giáo và truyền thống đối với các thể chế
xã hội bên ngoài như thành thị và quốc gia.
McDonald cho biết thêm rằng người Kitô giáo thỉnh thoảng “gặp nhau
về đêm, trong bí mật, và điều đó cũng khơi dậy sự nghi ngờ giữa các cư dân đa
thần giáo vốn đã quen thực hành nghi lễ của họ ngay trong những sự kiện công cộng
diễn ra vào ban ngày; rồi ngày càng nhiều những lời đồn đại rằng, người Kitô
giáo phạm những thứ như flagitia (tội ác thái quá), scelera (hung
bạo) và maleficia (hành vi xấu xa), đặc biệt hơn có cả thói ăn
thịt người và loạn luân (mà người đa thần viện dẫn tới các điển tích thần thoại
“bữa tiệc của Thyestes” và “quan hệ Oedipus”) (2) – những lời
đồn đại này có thể xuất phát từ việc cử hành Bí tích Thánh thể “Mình và Máu” của
Chúa Kitô, và việc các tín hữu gọi nhau trong cộng đoàn là “anh em”, “chị em”.
c. Tính hội nhập
Những cộng đoàn Kitô giáo sơ khởi đều mang tính hội nhập cao độ đối
với những qui định đến từ sự phân hóa giai cấp và những lĩnh vực khác trong xã
hội, hơn nhiều so với những hội đoàn tự nguyện do người La Mã thiết lập. Sự
không thuần nhất là một đặc trưng của các nhóm tín hữu được tổ chức bởi sứ đồ
Phaolô, trong đó vai trò của phụ nữ được tăng cường hơn so với Do Thái giáo và
đa thần giáo vẫn đang tồn tại trong thời gian này. Những người Kitô giáo sơ khởi
được khuyến khích yêu thương tha nhân, kể cả đối với kẻ thù mình, vì vậy mà người
Kitô không phân biệt giai cấp, tầng lớp trong xã hội đều gọi nhau là “anh em”,
“chị em”. Tính hội nhập vào các tầng lớp cũng như bối cảnh xã hội lúc đó bắt
nguồn từ những niềm tin về tầm quan trọng của sứ vụ truyền giáo cho cả dân Do
Thái và dân ngoại (những người không phải Do Thái) với hi vọng hoán cải họ sang
một cuộc sống mới, theo những tiêu chuẩn sách Phúc âm đặt ra (xem thêm các sách
Máccô 16:15-16 và Galát 5:16-26). Điều này được nhìn nhận bởi những đối trọng của
Kitô giáo như một “sự phá rối và quan trọng nhất là sự đe dọa có tính cạnh
tranh đối với những giai tầng truyền thống vốn có trong xã hội La Mã”.
d. Tính độc nhất
Nhà sử học Edward Gibbon cho rằng khi người Kitô giáo truyền bá
thường có khuynh hướng từ bỏ gia đình và đất nước của họ, đi kèm đó là những lời
tiên báo thường xuyên về những thảm họa sắp diễn ra, gây nên cảm giác sợ hãi
cho những người đa thần lân cận với họ. Ông viết:
“Bằng việc kiên tâm bám giữ đức tin trong Phúc âm mà những người
Kitô giáo bị [người La Mã] qui kết cho họ những tội lỗi mang tính phi tự nhiên
và không thể dung thứ. Họ đã tách rời những ràng buộc thiêng liêng giữa truyền
thống và giáo dục, xúc phạm tới những thiết chế tôn giáo của quốc gia họ, tự phụ
mà khinh thường bất kì điều gì mà cha ông họ đã từng cho là đúng đắn hoặc tôn
kính với niềm thiêng liêng”.
e. Sự khước từ đa thần
giáo
Số đông người đa thần tin rằng những điều tệ hại sẽ xảy ra khi các
vị thần không còn được tôn kính và thờ phụng một cách đúng đắn. Tác giả Bart Ehrman
phát biểu: “Cuối thế kỉ thứ hai, nhà biện hộ học Kitô giáo Tertullian đã ca
thán về sự nhận thức phổ biến lúc bấy giờ, rằng người Kitô giáo là nguồn cơn của
tất cả những thảm họa mà các vị thần mang đến để trừng phạt loài người:
Họ (những người đa thần) nghĩ rằng Kitô hữu là nguyên nhân của mọi
thảm họa xã hội, của mọi nỗi lo âu đối với tất cả những người mà nó xảy đến
chăng? Từ việc nước sông Tiber dâng lên cao bằng tường thành [Roma], hoặc sông
Nile không phân phát được dòng chảy của nó tới những đồng ruộng [Ai Cập], hoặc
trời không giáng mưa xuống, hoặc có xảy ra động đất, hoặc có nạn đói hay dịch bệnh,
thì ngay lập tức tiếng kêu gào vang lên: ‘Hãy ném bọn Kitô giáo làm mồi cho sư
tử!’”
f. Bản sắc La Mã
Tôn giáo của người La Mã về cơ bản chính là yếu tố tối quan trọng
nhất để xác định cái gọi là “tính La Mã” (Romanness). Việc người Kitô
giáo khước từ hiến tế cho các vị thần La Mã được xem là một hành động thách thức
chống đối lại đặc trưng văn hóa – chính trị mà bản thân La Mã xem nó là hết sức
tự nhiên. MacMullen có nhắc tới việc sử gia Kitô giáo thế kỉ IV là Eusebius đã
ghi chép rằng những người đa thần “luôn tự thuyết phục một cách triệt để rằng họ
hành động đúng và chúng ta (chỉ người Kitô giáo) luôn phạm tội ô uế lớn nhất”.
Còn theo Wilken, “Thế giới quan đa thần của người La Mã không cho phép bẻ cong
cách hiểu của họ đối với sự từ chối thờ phụng các vị thần đại diện của quốc
gia, ngay cả trong tâm tưởng”. MacMullen giải thích điều này có nghĩa là người
Kitô giáo luôn bị “đề phòng thường trực” bởi chính quyền, và mặc dù họ đã đáp ứng
những đòi hỏi về mặt triết học và lí tính, cũng như mọi thứ mà họ cho rằng có
thể bị xem là chống lại ta patria (phong tục tổ tiên truyền lại),
họ vẫn không thể thực hành những nghi thức tôn giáo La Mã, và vẫn tiếp tục kiên
trung với tôn giáo của họ. Abel Bibliowicz thì cho rằng đối với những người La
Mã, “Dự cảm về người Kitô có vẻ như quá bản năng để rồi cuối cùng, chỉ cần xưng
mình là ‘Kitô hữu’, chính quyền đã có đủ căn cứ để xét xử và áp đặt hình phạt”.
3. Những yếu tố góp phần
a. Hệ thống luật pháp La Mã
Nhà sử học Joyce E. Salisbury chỉ ra rằng “Tính ngẫu nhiên của các
cuộc bách hại từ năm 64 đến năm 203 dẫn đến nhiều cuộc tranh luận xoay quanh việc
đâu là cơ sở pháp lí được nhà nước ban hành để thi hành những cuộc bách hại, và
câu trả lời đến nay vẫn còn có những khía cạnh chưa được nắm bắt một cách đầy đủ
…” Candida Moss cho rằng những bằng chứng “ít ỏi” có được về các cuộc tử đạo đều
có sự sử dụng luật pháp La Mã làm thước đo. Nhà sử học Joseph Plescia khẳng định
bằng chứng đầu tiên về việc sử dụng luật La Mã để xử lí người Kitô giáo là từ
thời đại của hoàng đế Trajan. Cả hai tác giả T. D. Barnes và Ste. Croix đều cho
rằng không có việc sử dụng luật La Mã đối với người Kitô giáo trước cuộc bách hại
của hoàng đế Decius vào thế kỉ thứ ba; Barnes đồng ý rằng cơ sở pháp lí của các
cuộc bách hại được thể hiện rõ nhất trong những hồi đáp mà hoàng đế Trajan gửi
cho tổng đốc tỉnh Bithynia và Pontus lúc bấy giờ là Pliny; kể từ sau những hồi
đáp đó, Kitô giáo bắt đầu được chính quyền lưu tâm xếp vào một dạng tội phạm đặc
biệt, không còn như trước đó nữa.
|
Thánh
Lawrence bị kết án trước hoàng đế Valerian (tranh
của Fra Angelico, khoảng năm 1450) |
Một số học giả khác truy tìm tiền lệ giết người Kitô giáo về Nero.
Barnes giải thích rằng, mặc dù không có sự xuất hiện của luật pháp La Mã, nhưng
vẫn tồn tại khá phong phú những luật bất thành văn đối với việc đàn áp các hình
thái tôn giáo ngoại lai”, mà trước đó là từ Nero. Luật bất thành văn này căn cứ
trên cảm xúc mạnh mẽ về hình ảnh những vị thần được tổ tiên nhiều đời đã từng
thờ phụng, đến nay cũng phải tiếp tục được thờ phụng. Cảm xúc như vậy rất dễ
“hiện thực hóa bằng sức mạnh của luật pháp” – bởi phong tục của tổ tiên (tiếng
Latinh: mos maiorum) là nền tảng quan trọng nhất của luật pháp La
Mã. Trong quan điểm của Joseph Bryant, những cuộc hành hình mang tính tập trung
của Nero … đã tạo nên một tiền lệ, một luật bất thành văn, và kể từ đó trở về
sau, chỉ cần bị gán cái mác “Kitô hữu” đã là đủ để các quan chức chính quyền sẵn
sàng áp đặt án tử hình”. Barnes phát biểu rằng “Tác giả Keresztes đã đi sâu
hơn, cho rằng đã “tồn tại một qui tắc ứng xử gần như chung cho tất cả người
Kitô giáo, theo đó trong các hoàn cảnh thông thường, người Kitô sẽ được căn cứ
vào một trong hai hình thức: thứ nhất là ius coercitionis, hay ‘quyền
bắt giữ’ của tổng đốc tỉnh; thứ hai là các điều luật hình sự có sẵn, nhưng
ngoài ra cũng có thể dựa vào một luật đặc biệt mà đã được ban hành trong thời
cai trị của hoàng đế Nero, như trục xuất người Kitô giáo khỏi Roma. Thuyết này
đặt sự chú ý lớn vào các trình thuật của Tertullian, vào chủ ý cấm đoán các tôn
giáo mới hiện diện của Nero và cả vào nguyên lí cộng hòa cổ xưa, đó là xử tử hình
đối với trường hợp dám truyền bá tôn giáo ngoại lai mà không được nhà nước La
Mã cho phép, đồng nghĩa với tội xúc phạm đến thể chế.
Bryant đồng tình với điều này, và bổ sung thêm “Khung cảnh đã được
minh họa rất sinh động bằng những bức thư nổi tiếng giữa hoàng đế Trajan (cai
trị từ 98-117) với Pliny Trẻ (3). Thư của Trajan gửi cho Pliny phản
ánh thực tế người Kitô giáo đang bị đàn áp vì niềm tin của họ trước năm 110
Công nguyên, song những thư trả lời của Pliny cũng cho thấy không có điều luật
nào trong luật pháp La Mã áp dụng trên toàn đế quốc đặt người Kitô giáo vào
hàng tội phạm, điều đó vốn được biết đến rộng rãi lúc bấy giờ. Herbert
Musurillo, một học giả và là dịch giả cuốn The Acts of the Christian
martyrs Introduction (tạm dịch Một dẫn nhập về hành trạng các
vị tử đạo Kitô giáo) cho rằng việc Ste. Croix khẳng định quyền đặc biệt của
tổng đốc các tỉnh là tất cả những gì cần thiết.
Bởi hệ thống luật pháp của La Mã vốn mang tính chất tự nhiên và hướng
con người (personality-driven) nên không cho phép bất cứ một cá nhân,
bao gồm thành viên của xã hội dân sự, không tính những người đang nắm giữ các
chức vụ hành chính, được tố cáo vượt ngoài quyền hạn công tố cho phép. “Cáo trạng
liên quan tới Kitô giáo và ý muốn dùng hình phạt căn cứ trên cáo trạng đó của tổng
đốc các tỉnh” luôn được yêu cầu phải được đặt vào tình trạng hợp pháp khi thi
hành với người Kitô giáo. Luật pháp La Mã đề cập rộng rãi tới vấn đề quyền và lợi
ích liên quan tới tài sản nhưng lại chứa đựng nhiều lỗ hổng trong các vấn đề về
hình sự và luật công (tiếng Anh: common law). Vì vậy, quá
trình cognitio extra ordinem (thẩm tra đặc biệt) được thiết lập
để nhằm lấp đi những lỗ hổng pháp lí như vậy bằng việc sử dụng cả các điều luật
lẫn các phiên tòa xét xử. Tất cả tổng đốc ở các tỉnh đều có quyền điều hành các
phiên tòa như vậy, đó là một phần của imperium (quyền tuyệt đối)
của cá nhân họ ở tỉnh mình cai trị.
Trong mỗi cuộc cognitio extra ordinem, người buộc tội
được gọi là một delator sẽ trình đơn tố cáo trước tổng đốc đối với một cá nhân
được cho là đã thực hiện hành vi phạm tội – cụ thể hơn ở đây là một người Kitô
giáo. Người buộc tội sẽ phải đóng vai trò như một công tố viên ở phiên tòa và
khi phiên tòa kết thúc có thể được thưởng một số phần trong tài sản của bị cáo
nếu anh ta buộc tội thành công, hoặc chí ít là đã buộc tội với calumnia (buộc
tội có ác ý) nếu trường hợp anh ta không đủ bằng chứng. Nếu tổng đốc đồng ý
nghe –hoặc có thể không – ông ta vẫn sẽ quan sát diễn biến phiên tòa từ lúc bắt
đầu đến kết thúc: lắng nghe những tranh luận, đưa ra phán quyết và đọc lời
tuyên án. Có những trường hợp người Kitô giáo tự mình đề nghị được áp dụng hình
phạt đối với bản thân, đó gọi là tử đạo tự nguyện (voluntary martyr) và
những lời truyền tụng về họ được bắt nguồn như vậy.
Tuy nhiên, kết quả của những phiên tòa xét xử như vậy, thường có
nhiều hơn không, phụ thuộc hoàn toàn vào ý muốn của cá nhân tổng đốc tỉnh đó.
Trong khi một số tổng đốc thì cố dựa vào tiền lệ hoặc những huấn dụ từ hoàng đế
mà họ có, chẳng hạn có thể lấy ví dụ như những lần thư từ bàn luận về cấn đề
người Kitô giáo của tổng đốc tỉnh Bithynia và Pontus là Pliny Trẻ với hoàng đế
Trajan, ngoài ra thì gần như không có một hướng dẫn nào cụ thể cả. Trong nhiều
trường hợp họ mất nhiều tháng và nhiều tuần để đi lại giữa Roma và tỉnh nhà để
tìm kiếm giải pháp, rồi mới đưa ra quyết định thông qua bản năng và kiến thức
mà cá nhân họ thu lượm được.
Nhưng cho dù ngay cả những tổng đốc, với quyền lực trong tay, dễ
dàng trong việc kiểm soát tỉnh của mình, họ cũng không tìm được một chỉ dẫn
pháp lí nào được công bố chính thức trong vấn đề người Kitô giáo. Trước khi
hoàng đế Decius thi hành các chính sách chống người Kitô của mình vào năm 250,
không có một sắc lệnh nào ở phạm vi toàn đế quốc về việc chống người Kitô giáo
cả, mà chỉ có một tiền lệ xem chừng cứng rắn mà hoàng đế Trajan đặt ra, được thể
hiện khi ông hồi đáp Pliny: Bất cứ ai xưng mình là ‘Kitô hữu’ là đã đủ bằng chứng
để chịu hình phạt tuy nhiên chính quyền khẳng định sẽ không bao giờ săn lùng họ.
Dường như tồn tại một suy đoán rằng người Kitô giáo cũng bị khép vào tội bất phục
(tiếng Latinh: contumacia) trước nhà nước, mà đại diện là các quan
chức có thẩm quyền, tương tự như khái niệm “xem thường tòa án” (contempt of
court) thời hiện đại – mặc dù những bằng chứng về vấn đề này còn khá lẫn lộn.
Melito thành Sardis, một giám mục sống vào thế kỉ thứ hai đã khẳng định vị
hoàng đế đương thời là Antoninus Pius đã ra lệnh cấm hành hình người Kitô giáo
khi không thông qua xét xử đúng qui định.
Trước sự thiếu vắng những chỉ dẫn cũng như sự tồn tại khoảng cách
giữa trung ương và địa phương, kết cục của những phiên tòa xét xử người Kitô
giáo nhìn chung cũng rất đa dạng và không giống nhau. Phần nhiều đi theo công
thức của Pliny: thẩm phán hỏi bị cáo có phải người Kitô không, cho phép bị cáo
quyền khẳng định nếu muốn có cơ hội rút lui, đồng thời cho phép những người từ
chối hợp tác hay kiên tâm giữ đạo một cơ hội để chứng minh sự trung thành của họ
với nhà nước bằng cách hiến tế cho các vị thần La Mã và tuyên thệ trước vị thần
hộ mệnh của hoàng đế (4). Sau đó nếu người đó vẫn không lay chuyển
mới bị đem đi hành hình.
Theo những trình thuật của Tertullian, một số tổng đốc các tỉnh La
Mã nằm trong lãnh thổ châu Phi đã có hành động giúp đỡ những người Kitô giáo bị
tố cáo khỏi bị hành hình bằng cách bảo đảm trắng án trong phiên tòa hoặc từ chối
đưa họ ra xét xử. Tựu trung, các tổng đốc La Mã luôn mong muốn hoán cải người
Kitô để họ bỏ đạo một cách tự nhiên hơn là đẩy họ đến cảnh tử vì đạo. Bằng chứng
là một tổng đốc tỉnh Asia (5) là Arrius Antoninus khi phải đối
diện với một nhóm người Kitô đòi được tự nguyện tử đạo trong một phiên thẩm vấn, sau đem một số người quá khích đi hành hình đã thả những người còn lại ra, và nói: “Nếu ngươi muốn
chết, muốn chịu khốn khổ, thì có thể dùng dây thừng [treo cổ] hoặc lên
vách núi [mà đứng]”.
Trong thời gian cuộc Đại bách hại do hoàng đế Diocletian khởi xướng
kéo dài từ năm 303-312/313, các tổng đốc La Mã nhận lệnh trực tiếp từ hoàng đế
và tiến hành phá hủy các nhà thờ, đốt cháy các kinh bổn và cấm chỉ người Kitô
giáo hội họp cũng như cử hành nghi lễ của họ, và những ai từ chối chấp nhận sẽ
bị tước các quyền hợp pháp của họ trong xã hội dân sự. Về sau, lại có lệnh bắt
giữ tất cả những người giữ chức sắc và giáo phẩm đồng thời yêu cầu họ phải dâng
hiến lễ tế lên các thần linh trên phạm vi toàn đế quốc. Tuy nhiên vẫn không có
sự trừng phạt cụ thể nào được qui định qua các sắc lệnh này, và dường như tổng
đốc các tỉnh có thể làm ngơ kéo dài thời gian vì lí do khoảng cách. Sử gia Kitô
giáo Lactantius trong những ghi chép của mình cũng nói rằng một số viên tổng đốc
còn tuyên bố không làm đổ máu bất kì người Kitô nào, và thậm chí một số người
còn tự chọc mù mắt mình chỉ vì trốn tránh sắc lệnh của hoàng đế, số khác chỉ thực
hiện khi cảm thấy quá sức cần thiết.
b. Động cơ từ
chính quyền
Khi một viên tổng đốc được chỉ định tới nhậm chức tại một tỉnh,
ông ta sẽ được giao trách nhiệm gìn giữ pacata atque quieta –
sự ổn định và trật tự cho tỉnh đó. Điều tiên quyết là phải dành lấy sự tin yêu
từ dân chúng; và vì thể trạng thái bất an lại dấy lên khi ông ta buộc phải đối
diện với người Kitô giáo khi thực thi quyền tài phán của mình, và thường sẽ có
khuynh hướng xoa dịu bằng cách hòa giải, từ nỗi sợ hãi quần chúng sẽ “buông
mình vào sự bạo loạn và li khai”.
Các nhà lãnh đạo chính trị của đế quốc La Mã cũng đồng thời là những
người chủ trì trong các nghi lễ tôn giáo công cộng. Tôn giáo La Mã xoay quanh
các ngày lễ và các cuộc hiến tế; khi mà tín ngưỡng của cá nhân không đóng vai
trò trung tâm như các hình thức tín ngưỡng của thời hiện đại. Do đó, trong khi
các hình thức tín ngưỡng mang tính kín của người Kitô giáo, dường như là không
có ý nghĩa đối với nhiều người La Mã thuộc giới tinh hoa, thì việc tham dự thực
hành các nghi lễ tôn giáo công cộng nằm trong tính toán của họ là một công việc
quan trọng đối với sự thịnh vượng chung về chính trị-xã hội của cộng đồng địa
phương cũng như toàn thể đế quốc. Lòng hiếu đễ, hay sự tôn trọng giá trị truyền
thống theo chính đạo - tiếng Latinh là pietas - là chìa khóa của
thành công và sự ổn định. Hệ quả là người La Mã bảo vệ trạng thái thuần khiết
ban đầu trong tôn giáo, được thực hành trong các cộng đồng dân cư dưới sự cai
trị của họ, xem đó như một kiểu tôn vinh những giá trị truyền thống của tổ tiên
cha ông để lại, và như vậy là đúng đắn; chính vì lí do này mà trong một thời
gian dài người La Mã đã khoan dung đối với đạo Do Thái, một tôn giáo mang tính
truyền thống và độc nhất ở mức cao, mặc dù một số người La Mã tỏ ra coi thường
đạo Do Thái. Nhà sử học H. H. Ben-Sasson đã chỉ ra rằng “Cuộc khủng hoảng dưới
thời Caligula” (hoàng đế La Mã cai trị từ năm 37-41) là “sự cởi mở đầu tiên” đối
với Roma và người Do Thái. Kể từ sau cuộc chiến tranh La Mã - Do Thái lần thứ
nhất (66-73), người Do Thái chính thức được cho phép thực hành tôn giáo của họ,
miễn là chấp nhận nộp thuế cho chính quyền. Điều này dấy lên sự tranh cãi trong
giới sử gia về việc chính quyền La Mã có nhìn nhận người Kitô giáo đơn giản chỉ
là một giáo phái nằm trong đạo Do Thái, trước thời điểm hoàng đế Nerva điều chỉnh
mức thuế vào năm 96 hay không. Từ đó trở đi, người Do Thái hành đạo vẫn đóng
thuế, trong khi người Kitô giáo thì không, quá rõ ràng để phía chính quyền dựa
vào đó để đưa ra một chính sách phân biệt. Nhưng phần lớn sự coi thường của người
La Mã đối với Kitô giáo đến từ dự cảm của họ cho rằng tôn giáo này có hại cho đời
sống xã hội. Vào thế kỉ thứ ba, nhà triết học Porphyry thuộc trường phái
Tân-Plato đã viết:
“Làm thế nào những kẻ bất kính và vô thần, bằng mọi cách phản bội
lại những truyền thống của tổ tiên truyền lại vẫn có thể được chấp nhận bởi quốc
gia và thành thị họ cư ngụ?...Thực ra họ chẳng hơn gì những kẻ cố chống lại Thực
thể tối cao?” (6)
Một khi La Mã đã tách bạch rõ ràng Kitô giáo ra khỏi đạo Do Thái
trong cách nhìn nhận của mình, Kitô giáo đã không còn đơn giản được xem như môt
giáo phái ‘kì lạ’ xuất phát từ một tôn giáo cổ xưa và đáng tôn trọng nữa; mà nó
bị coi như một superstitio (dị đoan), đem đến cho người La Mã
dự cảm nguy hiểm và mạnh mẽ hơn nhiều so với thế giới phương Tây cảm nhận ngày
nay: đối với họ, thuật ngữ này chỉ một nhóm các hình thức thực hành tôn giáo
không chỉ khác biệt với số đông quần chúng mà còn làm xói mòn xã hội, theo đó
“làm rối bời tâm trí của một người theo cách anh ta thực sự phát điên” và khiến
anh ta đánh mất đi humanitas (nhân tính). Sự đàn áp các thứ
giáo phái “dị đoan” này, hầu như chưa từng diễn ra trong lịch sử La Mã, ngoại
trừ lần một tôn giáo ngoại lai vô danh đã bị đàn áp trong đợt hạn hán vào năm
428 trước Công nguyên, lần một số tín đồ của tôn giáo thờ thần Bacchus bị hành
hình khi chính quyền cho rằng đã đi quá giới hạn vào năm 186 trước Công
nguyên (7), hay những chính sách chống các tín đồ đa thần giáo Celt
(tiếng Anh: Druid) vào đầu thời kì đế quốc.
Tuy nhiên ngay cả vậy, mức độ bách hại mà các cộng đoàn Kitô giáo
hiện diện lúc bấy giờ cảm nhận được vẫn còn phụ thuộc vào việc các quan chức ở
địa phương có thái độ như thế nào đối với sự xuất hiện và đe dọa của một superstitio mới.
Tín ngưỡng của người Kitô không gây được sự thiện cảm đối với nhiều quan chức
chính quyền: họ tôn thờ một tử tù đã bị kết án, khước từ tuyên thệ trung thành
với hoàng đế (mà cụ thể là phải đứng trước vị thần bảo hộ cho hoàng đế), chỉ
trích gay gắt La Mã trong kinh sách của mình và tiến hành các nghi lễ trong bí
mật một cách đáng ngờ. Đầu thế kỉ thứ ba, một quan chức có thẩm quyền đã nói với
những người Kitô giáo rằng: “Tôi không thể đem bản thân mình ra mà lắng nghe
người ta nói xấu thêm về đường lối tôn giáo của La Mã”.
III. Lịch sử các cuộc bách hại
1. Tổng quan
Các cuộc bách hại vào thời kì sơ khởi của giáo hội ban đầu chỉ xuất
hiện lẻ tẻ và nằm ở những địa phương nhất định. Cuộc bách hại có tổ chức đầu
tiên mà chính quyền La Mã tiến hành diễn ra dưới thời cai trị của hoàng đế Nero
năm 64 Công nguyên, sau khi xảy ra sự kiện Đại hỏa hoạn Roma, với phạm vi bên
trong thành phố Roma. Năm 311 hoàng đế Galerius ban hành sắc lệnh Serdica chính
thức chấm dứt cuộc bách hại do người tiền nhiệm Diocletian khởi xướng, ở nửa
phía đông đế quốc. Và với sự công bố năm 313 Công nguyên của sắc lệnh Milan,
nhà nước La Mã đã chấm dứt hoàn toàn các cuộc bách hại người Kitô giáo. Không
có tổng số chính xác bao nhiêu người Kitô thiệt mạng trong những cuộc bách hại
này. Sử gia giáo hội thời kì sơ khởi là Eusebius với những tác phẩm gần như là
nguồn tư liệu duy nhất ghi chép về những sự kiện này, đã nói rằng “vô số” và
“không thể đếm được” những người đã chết. Nhà thần học người Đức Walter Bauer
phê phán Eusebius về phát biểu này, nhưng nhà thần học người Mĩ Robert Grant lại
nói người đọc nên làm quen với kiểu văn phong phóng đại này vốn phổ biến đối với
Josephus và những sử gia đương thời khác.
Vào giữa thế kỉ thứ hai, các đám đông dân cư thường nhằm vào người
Kitô giáo để ném đá, có lẽ là đến từ động cơ thù nghịch giữa những tôn giáo với
nhau. Cuộc bách hại diễn ra tại thành phố Lyon năm 177 Công nguyên khởi đầu từ
một cuộc xô xát đám đông, trong đó ghi nhận bao gồm các cuộc tấn công, cướp bóc
và ném đá. Nhà hùng biện Lucian thành Samosata có kể về một sự lừa gạt tinh vi
đã thành công được tiến hành bởi một kẻ xưng mình là “tiên tri” của thần
Asclepius, vị thần bảo hộ cho y học và nghề thầy thuốc, bằng cách điều khiển một
con rắn đã được thuần hóa, tại Pontus và Paphlagonia. Khi những lời xì xào đồn
đại dấy lên, anh ta sắp bị vạch trần hành vi gian trá của mình, thì một nhà văn
đã ghi vào trình thuật của mình một cách gay gắt rằng:
“... Chính hắn đã bày ra một sự truyền bá có tính toán, nhằm đe
dọa họ, rằng đất Pontus này đầy rẫy những kẻ vô thần và những người Kitô giáo,
những người khó có thể thốt ra những lời lăng mạ tồi tệ nhất đối với hắn; hắn
yêu cầu họ phải ném đã xua đuổi những người này thì mới được thần linh phù hộ”
Tác phẩm Apologeticus của Tertullian năm 197 trên
hình thức được viết nhằm bênh vực những người Kitô giáo bị bách hại và bắt nộp
cho các tổng đốc La Mã.
Năm 250 Công nguyên, hoàng đế Decius ban bố một sắc lệnh yêu cầu
dân chúng phải công khai tế lễ lên các thần linh, một hình thức tương đương với
lời tuyên thệ trung thành với hoàng đế và trật tự mà La Mã thiết lập. Không có
bằng chứng nào cho thấy chủ đích của sắc lệnh này là nhằm vào người Kitô giáo
nhưng có thể xem chủ đích của nó là để kiểm chứng lòng trung thành của dân
chúng nói chung. Decius cấp phép cho các ủy ban lưu động xuống các thành thị và
làng mạc để giám sát việc tiến hành các cuộc tế lễ, cũng như cấp giấy chứng
nhận cho tất cả các công dân đã tham dự. Những người Kitô giáo cũng sẽ có cơ hội
tránh bị điều tra thêm nếu họ công khai dâng cúng các lễ vật hoặc tế bái trước
các vị thần La Mã, và sẽ bị buộc tội là bất kính nếu họ khước từ, dẫn đến việc
sẽ bị chịu trừng phạt bằng các hình thức bắt giữ, bỏ tù, tra tấn và hành quyết.
Một số người Kitô giáo chạy thoát được đến nơi trú ẩn an toàn ở các vùng nông
thôn, một số người thì mua được giấy chứng nhận trung thành với nhà nước, được
gọi chung là libelli. Trong nội bộ giáo hội đã tổ chức ở Carthage một
số hội đồng để điều tra và tranh luận thêm về việc các cộng đoàn Kitô giáo có
còn nên tiếp nhận những tín hữu chối đạo này nữa không.
Các cuộc bách hại lên đến đỉnh điểm vào thời kì Diocletian và
Galerius cuối thế kỉ thứ ba - đầu thể kỉ thứ tư. Các hoạt động chống Kitô giáo
được đẩy mạnh trên phạm vi rộng, đồng thời cũng là đợt điều chỉnh lớn cuối cùng
nhằm tái khẳng định đa thần giáo La Mã. Sắc lệnh khoan dung Serdica của hoàng để
Galerius chính thức chấm dứt cuộc bách hại Diocletian ở phần phía đông đế quốc,
và khi Constantine đại đế lên nắm quyền vào năm 313 đã hoàn toàn hợp pháp hóa
Kitô giáo. Mặc dù không được tuyên bố một cách chính thức cho đến thời kì
Theodosius vào cuối thế kỉ thứ tư, nhưng kể từ đó Kitô giáo đã trở thành quốc
giáo của đế quốc La Mã.
2. Giai đoạn từ
năm 49-250
Trong Kinh thánh Tân ước (Sách Công vụ Tông đồ 18:2-3), có kể lại
khi Sứ đồ Phaolô từ Athens tới Corinth đã gặp một người Do Thái tên là Aquila
cùng vợ là Priscilla, vừa mới đến từ đất Ý vì lí do hoàng đế Claudius “đã ra lệnh
trục xuất người Do Thái ra khỏi Roma”. Tác giả Ed Richardson giải thích rằng sở
dĩ có sự trục xuất này bởi sự bất hòa giữa các hội đường đạo Do Thái với nhau ở
Roma dẫn tới xảy ra bạo lực trên đường phố, và Claudius trục xuất tất cả những
người có trách nhiệm, tuy nhiên điều này cũng diễn ra vào thời gian từ năm 47 đến
năm 52, trùng vào lúc ông phát động chiến dịch khôi phục các nghi lễ tôn giáo
truyền thống La Mã và đàn áp các tôn giáo ngoại lai. Nhà sử học Suetonius sống
vào thế kỉ thứ hai đã ghi nhận Claudius trục xuất “người Do Thái” vào năm 49,
nhưng Richardson nói đã có “hầu hết các nhà truyền giáo Kitô và tín hữu tân
tòng bị trục xuất”, trong đó Suetonius đã dùng cái tên Chrestus để
chỉ những người Do Thái theo Kitô giáo. Đó là một bằng chứng xác đáng về sự hiện
diện của người Kitô giáo trong cộng đồng người Do Thái ở Roma lúc bấy giờ.
Richardson chỉ ra rằng thuận ngữ Christian “chỉ
có mặt trong các tài liệu sau năm 70” và trước thời điểm đó, “những người tin
vào Chúa Kitô đều được xem như hoàn toàn thuộc về người Do Thái, cả về mặt dân
tộc và tôn giáo”. Các sử gia cổ đại như Suetonius và Tacitus sử dụng thuật ngữ
“dị đoan” và “những nghi thức bất kính” để khắc họa đặc trưng của những sự kiện
này, và các thuật ngữ trên không áp dụng đối với người Do Thái, mà thường áp dụng
đối với các tín đồ Kitô. Đế quốc La Mã thiết lập nền bảo hộ đối với người Do
Thái thông qua nhiều chính sách, trong đó bảo đảm “giữ cho các nghi thức thực
hành tín ngưỡng của người Do Thái không bị cản trở”. Richardson nhấn mạnh chính
quyền La Mã xem những tín đồ Kitô lúc bấy giờ là “người Do Thái” và Claudius đã
cố gắng thả họ đi bằng cách trục xuất.
Chúng ta có thể chấp nhận một quan điểm chung đó là trong khoảng
thời gian từ thời cai trị của Nero cho đến khi Decius tiến hành các biện pháp
trên phạm vi rộng hơn vào năm 250, thì các cuộc bách hại người Kitô giáo chỉ diễn
ra mang tính cô lập bên trong phạm vi rất nhỏ của các địa phương. Mặc dù thường
xuyên có những yêu cầu đòi người Kitô phải bị đàn áp vì sự khước từ sùng bái
hoàng đế của họ, và sự mất thiện cảm của người Kitô đối với số đông có thể xuất
phát từ việc họ khước từ sùng bái thần linh và tham gia cúng tế, vốn được xem
như một dạng điều kiện nếu muốn cư trú trong lãnh thổ đế quốc La Mã. Mặc dù người
Do Thái cũng từ chối tham dự vào các hoạt động này vì tín ngưỡng của họ song họ
đã được chính quyền xá miễn bởi họ tuân theo lề luật Do Thái của riêng họ, còn
tôn giáo của họ được công nhận là hợp pháp bởi tính chất truyền thống từ thế hệ
này sang thế hệ khác, vốn là đặc trưng được người La Mã ủng hộ. Ở một mặt khác,
người La Mã tin rằng các tín đồ Kitô cử hành những nghi thức kì lạ và diễn ra
vào ban đêm, điều này dấy lên những nhìn nhận cho rằng Kitô giáo là một giáo
phái dị đoan nguy hiểm.
Trong thời kì này, các hoạt động chống Kitô giáo diễn ra thông qua
trình tự pháp lí, có sự truy tố và không tùy tiện. Tổng đốc các tỉnh đóng vai
trò quan trọng trong các hoạt động này hơn là hoàng đế, tuy nhiên người Kitô
giáo không bị săn lùng bởi các viên tổng đốc mà thay vào đó buộc tội và truy tố
tuân theo một quá trình gọi là cognito extra ordinem. Các bằng chứng cho thấy
các phiên tòa xét xử cũng như hình phạt rất đa dạng, và phán quyết cũng có cả
trắng án cho đến tử hình.
3. Cuộc bách hại thời kì
Nero
Theo sử gia Tacitus và truyền thống Kitô giáo sau này, hoàng đế
Nero đã qui cho người Kitô giáo trách nhiệm gây ra vụ Đại hỏa hoạn Roma diễn ra
năm 64, đã phá hủy nhiều phần của thành phố và gây thiệt hại lớn về kinh tế đối
với cư dân Roma. Tác giả Anthony A. Barrett đã viết “những nỗ lực về khảo cổ học
lớn gần đây đã đưa ra bằng chứng mới về vụ hỏa hoạn” nhưng vẫn không thể chỉ
đích danh ai đã gây ra nó. Trong tác phẩm Biên niên (Annals),
Tacitus đã viết:
“…Để thoát khỏi việc tường trình trước mặt công chúng, Nero đã
buộc tội và giáng những đòn tra tấn tinh vi nhất xuống một tầng lớp bị căm ghét
vì những hành vi ghê sợ của họ, được công chúng gọi là đám Chrestianos.
Christus, gốc rễ mà cái tên đó được đặt ra, vốn là một nhân vật đã chịu cực
hình trong thời kì của Tiberius bởi tay một trong những viên tổng đốc (8) của
chúng ta là Pontius Pilatus, và sự cuồng tín tệ hại nhất tưởng như đến thời điểm
này đã được kiểm soát, nhưng nó lại bùng lên không chỉ ở Judaea, nguồn cơn đầu
tiên của cái ác, mà ngay cả tại Roma, nơi mọi thứ ghê tởm và đáng xấu hổ từ mọi
nơi trên thế giới đều qui tụ cả vào chúng và trở nên phổ biến”
(Biên niên 15.44 của Tacitus)
|
Những
ngọn đuốc của Nero (tranh của Henryk
Siemiradzki, năm 1876). Theo trình thuật của nhà sử học La Mã Tacitus, hoàng
đế Nero đã đem người Ki tô giáo ra làm những ngọn đuốc sống trước mặt công
chúng. |
Đoạn văn trên của Tacitus đã trở thành một nguồn tư liệu khảo chứng
độc lập trong đó chỉ rõ Nero đã qui cho người Kitô giáo trách nhiệm gây ra vụ Đại
hỏa hoạn Roma và được tin tưởng rộng rãi là sự thật. Một sử gia khác áng chừng
cùng thời với Tacitus là Suetonius trong chương thứ 16 về tiểu sử của Nero cũng
viết rằng “Sự trừng phạt được giáng xuống đầu các tín đồ Kitô, một tầng lớp những
người đi theo một thứ dị đoan mới và tệ hại” nhưng cũng không chỉ ra đâu là
nguyên nhân của sự trừng phạt này. Một tư liệu khác cũng được công nhận rộng
rãi đó là về Số của Con thú trong sách Khải huyền của Kinh thánh Tân ước, được ấn
định là 666, khi giải mã cách đọc nhận được kết quả là Nero Caesar, điều đó đã
minh chứng cho việc Nero được xem như một nhân vật ác đặc biệt được chú ý trong
Kitô giáo sơ khởi tính tới thời điểm đó.
Giới học giả gần đây bao gồm các nhà sử học Candida Moss và Brent
Shaw đã tranh luận về tính đúng đắn của các nguồn tư liệu này. Lập luận của họ
thuyết phục được một số các nhà nghiên cứu cổ điển Hi-La, song tính lịch sử của
cuộc bách hại dưới thời Nero vẫn được đại đa số các nhà sử học công nhận.
Những người cho Nero nhắm tới người Kitô giáo tranh cãi rằng liệu
Nero qui kết họ chỉ vì tội đốt phá có tổ chức hay còn những tội danh chung khác
liên quan tới Kitô giáo? Bởi vì Tertullian có nhắc tới cụm từ institutum
Neronianum trong bài biện hộ “Gửi các dân tộc” của ông, nên các học giả
tranh luận về khả năng tạo ra một điều luật hay sắc lệnh chống người Kitô giáo
dưới thời Nero. Các học giả người Pháp, người Bỉ, và các học giả Mác-xít ủng hộ
quan điểm này về mặt lịch sử, khi khẳng định một điều luật như vậy phải được
ban hành bên trong một bộ luật công hơn là một sắc lệnh mang tính hình thức.
Tuy nhiên quan điểm này bị cho là mâu thuẫn với ngữ cảnh trên; cụm từ institutum
Neronianum chỉ đơn thuần mô tả các hoạt động chống Kitô giáo chứ không
bao hàm cơ sở pháp lí nào cả. Hơn nữa, không có tác giả nào, không tính
Tertullian, có ghi chép về một bộ luật chính thức chống lại người Kitô giáo cả
(9).
Các nguồn tư liệu Kitô giáo đều ghi nhận sứ đồ Phaolô và thánh
Phêrô đều chết ở Roma trong thời gian diễn ra cuộc bách hại Nero. Một số tác giả
Kitô giáo như Origen và Dionysius thành Corinth, được trích dẫn bởi Eusebius,
xác định thêm là Phêrô bị đóng đinh vào thập giá và Phaolô thì bị chặt đầu, đều
chết trong cùng một thời kì. Trong Thư gửi các tín hữu Corinth của
Clement, giám mục Roma có xác nhận (vào năm 95) là Phêrô và Phaolô đều tử đạo,
nhưng không nói rõ ở đâu và bao giờ. Theo các công trình nghiên cứu của
Candida Moss và Brent Shaw về chủ đề này, không có bất cứ nguồn tư liệu nào
trong số này nhắc đến vụ Đại hỏa hoạn Roma, hay đồng nhất nó thành nguyên nhân dẫn
đến sự bắt giữ và hành hình đối với thánh Phêrô và thánh Phaolô cả.
4. Thời kì Domitian
Theo một số nhà sử học, những người Do Thái và người Kitô giáo bắt
đầu bị bách hại nặng vào khoảng cuối thời kì hoàng đế Domitian (cai trị từ năm
89-96). Sách Khải huyền trong Kinh thánh Tân ước có nhắc đến ít nhất một ví dụ
về sự tử đạo (10), điều này khiến nhiều học giả cho rằng sách Khải
huyền được viết trong những năm hoàng đế Domitian cai trị. Sử gia giáo hội thời
sơ khởi là Eusebius viết rằng xung đột xã hội được mô tả trong sách Khải huyền
phản ánh các cuộc đày ải và hành quyết người Kitô giáo do Domitian tiến hành là
quá mức và tàn nhẫn, tuy nhiên, những tuyên bố này có thể sai lệch hoặc bị
phóng đại. Tác phẩm De mortibus persecutorum (Về cái chết của
những kẻ bách hại), Lactantius, cũng là một sử gia Kitô giáo khác, đã đề cập
đến sự cai trị chuyên chế của Domitian ở chương 3. Theo Barnes, “Melito,
Tertullian và Bruttius đều khẳng định Domitian đã bách hại người Kitô giáo.
Melito và Bruttius không cho biết chi tiết gì thêm, còn Tertullian thì nói
Domitian đã sớm đổi ý và cho gọi lại những người bị bắt đi đày”. Một số ít các
sử gia bảo lưu quan điểm rằng có rất ít hoặc không có hoạt động chống Kitô giáo
nào trong thời kì của Domitian. Sở dĩ có sự không đồng thuận của giới sử gia về
mức độ bách hại trong thời kì Domitian xuất hiện là vì từ thực tế trong số các
nguồn tư liệu về sự bách hại có mặt thì hầu như rất sơ sài hoặc độ tin cậy vẫn
còn gây tranh cãi.
Một nguồn tham khảo khác dựa trên sự kiện hành quyết Titus Flavius
Clemens, một quan chấp chính La Mã và là cháu họ của hoàng đế lúc bấy giờ, và vợ
của ông ta là Flavia Domitilla phải chịu án đi đày tới đảo Pandateria (11) Eusebius
viết Flavia Domitilla bị đi đày là do bà là người Kitô giáo. Tuy nhiên theo tư
liệu của nhà sử học Cassius Dio thì lí do là vì bà cùng nhiều người khác bị
khép vào tội có thiện cảm với đạo Do Thái. Suetonius thì không đề cập gì tới vấn
đề đi đày của cả hai người này. Theo tác giả Keresztes, nhiều khả năng là họ đã
cải sang đạo Do Thái, có thể là được tiếp nhận bởi những người trốn tránh việc
đóng thuế fiscus Iudaicus – loại thuế được áp dụng với toàn thể
người Do Thái nếu muốn được tự do thực hành tín ngưỡng của mình. Như vậy, trong
tất cả những trường hợp nêu trên, không có câu chuyện nào đề cập đến hoạt động
chống Kitô giáo trong thời cai trị của Domitian mà có sự xuất hiện của các qui
định pháp lí cả.
5. Thời kì Trajan
Hoàng đế Trajan liên lạc với tổng đốc tỉnh Bithynia và Pontus, đồng
thời cũng là một học giả tiếng tăm thời đó là Pliny Trẻ về tình hình làm thế
nào giải quyết vấn đề người Kitô giáo ở Pontus. Nhà thần học Edward Burton viết
rằng sự trao đổi thư từ này cho thấy rằng tính tới thời điểm lúc bấy giờ vẫn
không có một luật lệ nào xử lí người Kitô giáo nào cả. Mặc dù tồn tại “một lượng
phong phú những luật bất thành văn về việc đàn áp các tôn giáo ngoại lai” nhưng
vẫn không có bộ luật chung qui định “cách thức tiến hành một phiên tòa xét xử
và cách thức áp dụng hình phạt; lại cũng không có bất cứ văn bản pháp luật nào
liệt Kitô giáo vào loại tội phạm hình sự”. Ngay cả như vậy, Pliny
cũng trình bày với Trajan rằng, việc đưa những người Kitô giáo ra xét xử không
phải là hiếm, trong khi tín đồ Kitô ở địa bàn nơi ông quản lí không hề có hành
vi phạm pháp nào, như trộm cắp và ngoại tình, thì Pliny lại “xử tử những người,
mặc dù họ không phạm tội và ông cũng không dựa trên thẩm quyền của bất kì điều
luật nào”, rồi tin tưởng rằng hành động đó sẽ được hoàng đế đồng tình và ủng hộ.
Hoàng đế Trajan đã đồng ý với phương pháp đó của Pliny, và gửi một lời hồi đáp
với sự phê chuẩn. Ông nói với Pliny hãy tiếp tục công việc đàn áp người Kitô
giáo, tuy nhiên không được phép tiếp nhận những lời tố cáo nặc danh, vì cho rằng
điều đó làm tổn hại tới công lí cũng như “tinh thần của thời đại”. Những người
không có quyền công dân La Mã, nếu tự xưng mình là tín đồ Kitô và từ chối rút lại
lời tuyên xưng đó, sẽ bị xử tử vì “cố chấp” (12). Còn công dân La
Mã sẽ phải giải về Roma để tiến hành các phiên tòa ở đó.
Barnes cho rằng những bằng chứng trên cho thấy người Kitô giáo bị
liệt vào “một thể loại hoàn toàn phân biệt với tất cả các loại tội phạm hình sự
khác. Tự xưng mình là tín đồ Kitô đồng nghĩa với tình trạng bất hợp pháp”. Lời
hồi đáp của hoàng đế Trajan với Pliny có thể coi như một sắc lệnh chính thức mà
Burton gọi là “chỉ dụ đầu tiên” chống lại Kitô giáo, còn tác giả Sherwin-White
lại nói việc hoàng đế đưa ra phán quyết như vậy “sẽ mang hiệu lực mạnh nhất
thay thế cho một bộ luật chung”. Một điều thú vị là mặc dù vậy, các nhà thần học
Kitô giáo thời trung cổ lại xem Trajan như một người đa thần giáo có đức hạnh.
6. Thời kì Hadrian
Hoàng đế Hadrian cai trị từ năm 117-138, khi phản hồi yêu cầu xin
chỉ dẫn từ tổng đốc một tỉnh trong việc đối phó với người Kitô giáo, đã có sự
khoan dung hơn. Hadrian khẳng định rằng việc một người xưng mình là tín đồ Kitô
không đủ đề phía chính quyền thực hiện hành động chống lại họ, mà họ phải thực
hiện thêm một số hành vi bất hợp pháp khác. Ngoài ra, việc thực hiện “các cuộc
tấn công vu khống” nhằm chống người Kitô giáo cũng không được dung thứ, nghĩa
là bất kể ai có hành động chống người Kitô giáo nhưng thất bại, chính họ cũng sẽ
phải đối mặt với hình phạt.
7. Từ Marcus Aurelius cho
tới Maximinus Thrax
Lịch sử ghi nhận những đợt tiến hành các hoạt động chống Kitô giáo
lẻ tẻ diễn ra trong khoảng thời gian từ triều đại của Marcus Aurelius cho tới
Maximinus Thrax. Ở giai đoạn này, các viên tổng đốc tỉnh tiếp tục đóng vai trò
quan trọng hơn là các hoàng đế trong các cuộc bách hại.
Trong nửa đầu thế kỉ thứ ba dưới sự cai trị của nhà Severus, mối
quan hệ giữa chính sách của nhà nước với những hoạt động chống người Kitô giáo
dựa trên cơ sở đó, về cơ bản không có sự thay đổi nhiều:
“Chính áp lực từ phía dưới chứ không phải do nhà nước khởi xướng,
đã làm nảy sinh rắc rối và gây nên sự xung đột với giới hạn cho sự khoan dung của
người La Mã, vốn được áp dụng rộng rãi song mong manh: thái độ của quan chức
chính quyền đều là thụ động và né tránh cho tới khi họ bị buộc phải chủ động để
đối phó khi xảy ra những trường hợp cụ thể tại địa phương họ, rộng ra là cấp tỉnh”
Sự chối đạo dưới hình thức tự nguyện dâng cúng trước các thần linh
tiếp tục là cơ sở cho việc trả lại tự do cho một người Kitô giáo. Đồng thời,
sau một thử nghiệm ban đầu, các biện pháp như bỏ tù, gây áp lực và tạo cơ hội
chối đạo cũng được chính quyền áp dụng như một thông lệ chuẩn.
Số lượng và mức độ nghiêm trọng của các cuộc bách hại ở những địa
điểm khác nhau trong lãnh thổ đế quốc dường như đã tăng lên trong thời Marcus
Aurelius từ năm 161-180. Theo các nguồn tư liệu Kitô giáo thì các vị tử đạo ở
Madaura và Scillium (đều thuộc tỉnh Numidia của La Mã, nay thuộc Algeria, Bắc
Phi) đều bị hành quyết trong thời kì này. Tuy nhiên những nhận thức về mức độ
được Marcus Aurelius chỉ đạo, khuyến khích các cuộc bách hại này là không rõ
ràng và vẫn còn bị tranh cãi bởi các nhà sử học.
Một trong những trường hợp bách hại đang chú ý nhất dưới triều đại
của Marcus Aurelius xảy ra vào năm 177 tại thành phố Lugdunum (nay là Lyons của
Pháp), một trung tâm của tín ngưỡng sùng bái hoàng đế cho cả ba tỉnh xứ Gaul của
La Mã (13) vốn được thiết lập từ cuối thế kỉ I trước Công
nguyên bởi vị hoàng đế đầu tiên là Augustus. Cuộc bách hại ở Lyons khởi phát từ
một phong trào không chính thức nhằm bài xích những người Kitô giáo khỏi các
không gian công cộng như chợ và nhà tắm, nhưng cuối cùng lại dẫn đến một hoạt động
chính thức từ phía chính quyền. Những người Kitô giáo bị bắt bớ, giải ra trước
quảng trường thành phố, rồi bị tống giam sau đó. Tất cả họ đều phải chịu nhiều
loại hình phạt khác nhau: xé xác bởi thú dữ, tra tấn và bị cầm tù trong điều kiện
sống thiếu thốn. Các nô lệ của những người theo Kitô giáo bị buộc phải làm chứng
rằng chủ nhân họ đã phạm các tội loạn luân và ăn thịt đồng loại. Tác giả Barnes
cho rằng cuộc bách hại này như “một ví dụ về việc trừng phạt những người Kitô
giáo, ngay cả khi họ đã bỏ đạo vẫn bị nghi ngờ”. Eusebius nói rằng vào năm 177,
giám mục Lyons lúc bấy giờ là Irenaeus đã gửi một lá thư, được gửi tới bởi các
tín hữu giáo hội Lyons đang cận kề sự tử đạo, tới giáo hoàng Eleutherius; nhưng
bản thân Irenaeus lại không đề cập tới cuộc bách hại trong tác phẩm của ông
là Adversus Haereses. Eusebius ghi điều này trong cuốn Lịch
sử giáo hội của mình, ở thời điểm 120 năm sau khi sự kiện diễn ra.
Giám mục thành Tours, Gregory sống vào cuối thế kỉ VI nói về cuộc bách hại này
trong tác phẩm Sách kể về vinh quang của các đấng tử đạo (Liber
in gloria martyrum), song hầu như chỉ đề cập đến những phép lạ được thực hiện
bởi những người tử đạo ở Lyons, trong các cuộc bách hại của người La Mã.
Dưới thời kì của Septimius Severus (cai trị từ năm 193-211), một số
các cuộc bách hại lại được ghi nhận. Thánh Clement, nhà thần học Kitô giáo
thành Alexandria đã viết về giai đoạn này: “… chúng ta đã được trông thấy
trước mặt hàng ngày, một số lượng dồi dào những vị tử đạo; họ bị thiêu cháy, bị
đóng vào cọc, bị chặt đầu”. Quan điểm truyền thống cho rằng hoàng đế
Septimius Severus chịu trách nhiệm về những cuộc bách hại này. Điều này căn cứ
trên những nguồn tham khảo lấy từ những chỉ dụ của ông về việc cấm đoán cải
sang đạo Do Thái cũng như đạo Kitô, nhưng chỉ dụ này cũng chỉ biết đến thông
qua cuốn Historia Augusta, vốn được biết đến là một tác phẩm không
đáng tin cậy do sự pha trộn giữa thực tế và hư cấu trong nội dung của nó.
Eusebius thì miêu tả Severus là một kẻ bách hại, tuy nhiên Tertullian lại khẳng
định Severus có khuynh hướng thiện cảm với người Kitô giáo; ông đã thuê một người
Kitô làm thầy thuốc riêng của mình, và đã đích thân can thiệp để cứu anh ta khỏi
“đám đông” một số tín đồ Kitô có xuất thân cao mà Severus biết. Một số nhà sử học
cho rằng Severus ban đầu giữ chính sách có thiện cảm với người Kitô giáo trong
những năm đầu trị vì, nhưng sau đó đã thay đổi, và vào năm thứ mười tính từ lúc
ông lên cầm quyền đã bắt đầu bách hại họ. Ngoài ra, trình thuật của Eusebius
cho rằng Severus là một kẻ bách hại thực sự, có thể xuất phát từ thực tế có nhiều
cuộc bách hại diễn ra trong thời kì của ông, bao gồm sự tử đạo của thánh
Perpetua và thánh Felicitas ở tỉnh Africa thuộc Bắc Phi, nhưng đây có lẽ là kết
quả của các cuộc đàn áp tại địa phương, chứ không phải là một chiến dịch đàn áp
chung được thực hiện trên phạm vi toàn thể đế quốc, cũng không phải do bất kì
hành động hay chỉ dụ nào do Severus đưa ra.
Cũng có những trường hợp bách hại khác diễn ra trước thời kì của
hoàng đế Decius cầm quyền, tuy nhiên ít có nguồn tư liệu nào đề cập đến kể từ
năm 215 trở đi. Điều này phản ánh thái độ thù địch của chính quyền La Mã đối với
người Kitô giáo đã giảm bớt hoặc những lỗ hổng trong các nguồn tư liệu hiện
hành. Một trong những cuộc bách hại nổi tiếng nhất trong thời kì hậu-Severus được
cho là do hoàng đế Maximinus Thrax (cai trị từ năm 235-238) khởi xướng. Theo
Eusebius, cuộc bách hại này nhằm vào những người lãnh đạo đứng đầu của giáo hội
Kitô vào năm 235, mà kết quả đã khiến giáo hoàng Pontian và nhà thần học
Hippolytus, một nhân vật tiếng tăm của giáo hội lúc đó được cho là từng tranh
chấp vị trí đứng đầu giáo hội, đều bị án đi đày tới đảo Sardinia. Những bằng chứng
khác nói rằng cuộc bách hại năm 235 diễn ra chỉ trong phạm vi tỉnh Cappadocia
và tỉnh Pontus, chứ không phải do hoàng đế phát động.
Như trên đã nói, người Kitô giáo khước từ việc bỏ đạo của mình, mà
cụ thể thông qua hình thức dâng tiến và cúng tế các vị thần La Mã, sẽ bị trừng
phạt nặng. Trong số họ có thể là những người có quyền công dân La Mã sẽ chịu
hình phạt đi đày hoặc bị xử tử nhanh chóng bằng hình thức chặt đầu; nô lệ, những
người ngoại kiều và những người thuộc tầng lớp thấp hơn sẽ bị đem ra xé xác bởi
thú dữ trước công chúng. Nhiều loài thú được sử dụng cho những người bị kết án
tử theo cách này. Tác giả Keith Hopkins cho rằng vẫn tồn tại tranh cãi về việc
liệu các tín đồ Kitô có bị hành hình tại đấu trường Colosseum ở Roma hay không,
vì chưa tìm thấy bất cứ bằng chứng nào về việc này cả. Còn Norbert Brockman viết
trong cuốn Encyclopedia of Sacred Places (Bách khoa toàn thư về những địa điểm
thiêng liêng) của mình rằng những cuộc hành hình trước công chúng vẫn diễn ra tại
Colosseum trong thời kì đế quốc, và không quá bất ngờ khi những người Kitô giáo
cũng bị hành hình ở đó. Thánh Ignatius thành Antioch, một tác giả Kitô giáo và
là người đứng đầu giáo hội Antioch sống vào giữa thế kỉ II “đã bị ném cho thú dữ
ăn thịt vào năm 107 dưới thời hoàng đế Trajan. Không lâu sau đó vào năm 115,
nhiều người Kitô giáo lại bị xử tử theo hình thức bắn cung hàng loạt. Khi có một
đại dịch lớn tràn vào lãnh thổ La Mã vào cuối triều đại Marcus Aurelius, gặp
lúc những người Kitô từ chối khẩn cầu các vị thần nhanh chóng kết thúc dịch bệnh,
Marcus Aurelius đã đem giết cả nghìn người tại đấu trường Colosseum vì tội báng
bổ và khinh thị thần linh”.
8. Thời kì Decius
Phải đến thế kỉ thứ ba, dưới triều đại của Decius, thì cuộc bách hại
Kitô giáo đầu tiên trên phạm vi toàn thể đế quốc mới diễn ra và chính thức được
công nhận. Tổng đốc các tỉnh đã được trao rất nhiều quyền trong việc ra quyết định
cá nhân trong địa bàn họ có thẩm quyền và có thể tự lựa chọn các cách giải quyết
khác nhau đối với các vụ việc bắt bớ hay bạo lực của đám đông quần chúng chống
người Kitô giáo tại các địa phương. Trải qua ba trăm năm đầu tiên của lịch sử
Kitô giáo, hầu như người Kitô đều được sống trong hòa bình, được tự do làm việc
cũng như tham gia vào những vị trí nhất định trong xã hội.
Vào năm 250 Công nguyên, một cuộc bách hại với qui mô cả nước đã
diễn ra do hệ quả gián tiếp của một sắc lệnh được ban hành bởi hoàng đế Decius.
Sắc lệnh này có hiệu lực trong vòng mười tám tháng liên tiếp, và trong khoảng thời
gian này, một số tín đồ Kitô giáo đã bị giết hoặc phải chối bỏ đức tin để thoát
khỏi bị hành quyết. Tác giả W. H. C. Frend ước tính có khoảng 3000 đến 3500 người
đã bị giết trong cuộc bách hại này.
Cụ thể, vào năm 250, hoàng đế Decius ban hành một sắc lệnh mà văn
bản của nó đã bị thất lạc, yêu cầu toàn thể cư dân trong đế quốc ngoại trừ người
Do Thái đã được miễn từ trước, phải thực hiện lễ dâng hiến lên các vị thần La
Mã trước sự chứng kiến của quan chức có thẩm quyền và phải được ghi tên vào giấy
chứng nhận là đã có tham dự, gọi là libellus. Sắc lệnh này là một phần trong nỗ
lực của Decius nhằm khôi phục các giá trị truyền thống cổ xưa của người La Mã
nhưng không có bằng chứng nào nói người Kitô là mục tiêu cụ thể được nhắm đến.
Một số giấy chứng nhận kiểu này vẫn còn được lưu giữ và như ví dụ về một mảng
giấy cói papyrus ở đây, được phát hiện ở Ai Cập, có nội dung:
“Kính gửi những vị phụ trách việc tế lễ của làng Theadelphia,
tôi Aurelia Bellias là con gái của ông Peteres và bà Kapinis. Chúng tôi luôn dâng
tiến lễ vật lên các vị thần và bây giờ vẫn vậy, trước sự chứng kiến của các vị,
theo qui định tôi đã rót rượu dâng lên và nếm thử các lễ vật, vậy nên tôi đề
nghị các vị chứng nhận việc này cho chúng tôi ở bên dưới. Cầu cho sự thịnh vượng
luôn ở bên các vị
Chúng tôi, Aurelius Serenus và Aurelius Hermas đã chứng kiến các
người làm lễ dâng tiến.
Tôi, Hermas xác nhận việc này.
Năm thứ nhất hoàng đế Caesar Gaius Messius Quintus Traianus Decius
Pius Felix Augustus”.
|
Một
giấy chứng nhận libellus vào thời gian diễn ra cuộc bách hại
Decius năm 250 |
Khi tổng đốc Pliny viết thư gửi hoàng đế Trajan vào năm 112 trước
đó, ông đã trình bày việc mình đã kiểm tra người bị tình nghi là theo đạo Kitô
bằng cách yêu cầu họ báng bổ danh Đức Kitô của họ, nhưng tuyệt nhiên không thấy
nhắc gì đến chữ “Kitô” hay “tín đồ Kitô” trong các giấy chứng nhận có trong thời
trị vì của Decius. Song đây là lần đầu tiên mà các tín đồ Kitô giáo trên khắp
lãnh thổ đế quốc bị buộc phải lựa chọn giữa đức tin và cuộc sống của họ. Một số
người Kitô nổi tiếng thời kì này như giáo hoàng Fabian, thượng phụ thành
Antioch là Babylas, hay giám mục thành Jerusalem là Alexander phải chịu chết vì
khước từ thực hiện các cuộc dâng tiến. Số lượng người Kitô giáo bị hành quyết
do không có giấy chứng nhận từ chính quyền cấp, cũng như việc làm rõ những nỗ lực
từ phía chính quyền để xác minh ai có, ai không có giấy chứng nhận, tất cả đều
không được biết rõ. Nhưng chỉ biết rằng có một số lượng lớn người Kitô giáo đã
chối bỏ đạo và thực hiện nghi lễ dâng tiến, một số khác thì chạy trốn được, chẳng
hạn như Cyprian, giám mục thành Carthage. Mặc dù thời gian thực hiện sắc lệnh
trên chỉ trong vòng mười tám tháng, nhưng nó đã gây ra những thiệt hại nặng nề
cho nhiều cộng đoàn Kitô giáo, vốn vẫn sinh hoạt trong yên ổn lúc bấy giờ và để
lại những kí ức ghê sợ về chế độ bạo ngược của nhà nước.
Trong nội bộ của hầu hết các giáo hội khi đó, những người đã từng
chối bỏ đạo cũng vẫn được chấp nhận để được hiệp thông trở lại vào giáo hội.
Tuy nhiên ở một số giáo phận Bắc Phi đã từ chối tiếp nhận lại những người này.
Hệ quả của cuộc bách hại Decius mang lại là sự dấy lên của chủ thuyết Novatian
li khai khỏi giáo hội, trong đó cực lực duy trì án vạ tuyệt thông đối với những
tín hữu đã từng chối bỏ đức tin và không kiên tâm giữ đạo khi bị bách hại. Và
hơn 50 năm sau khi cuộc đàn áp dưới thời hoàng đế Diocletian diễn ra, cũng lại
có một phản ứng tương tự như vậy, đó là những người ủng hộ phái Donatism.
9. Thời kì Valerian
Hoàng đế Valerian lên nắm quyền vào năm 253, nhưng ngay năm sau để
rời khỏi Roma để tiến hành chiến dịch chống người Ba Tư đang vừa chiếm thành phố
Antioch, một trọng trấn quân sự và trung tâm văn hóa ở miền đông đế quốc. Kể từ
đó ông không còn hiện diện ở Roma cho tới khi bị người Ba Tư bắt làm tù binh
vào năm 260 và chết trên đất Ba Tư sau đó. Ông đã gửi hai lá thư cho viện
nguyên lão về vấn đề người Kitô giáo. Lần đầu tiên vào năm 257, ông ra lệnh cho
tất cả hàng giáo phẩm Kitô phải thực hiện lễ dâng tiến lên các vị thần La Mã và
cấm người Kitô tổ chức hội họp tại các nghĩa trang. Lần thứ hai vào năm sau
(năm 258), ông ra lệnh tất cả các giám mục và những người có chức sắc cao trong
giáo hội phải bị xử tử, và những nguyên lão nghị viên, cũng như những người thuộc
tầng lớp kị sĩ mà theo đạo Kitô phải bị tước bỏ mọi chức danh và bị tịch thu
tài sản. Và nếu họ không chịu thực hiện nghi lễ dâng tiến thần linh thì cũng bị
hành quyết. Đối với phụ nữ La Mã, những người không chịu bỏ đạo sẽ bị mất tài sản
và chịu đi đày, trong khi các nhân viên dân sự và những người phục vụ trong gia
đình hoàng đế nếu từ chối tế lễ sẽ bị giáng làm nô lệ và phải đi lao động trong
các điền trang thuộc sở hữu hoàng đế. Thực tế về sự hiện diện của những người
Kitô giáo có địa vị cao trong xã hội như vậy ngay tại trung tâm của đế quốc đã
cho thấy rằng những biện pháp của Decius thực hiện chưa đầy một thập kỉ trước
đó cũng không có tác dụng lâu dài.
Trong số những người bị hành quyết dưới thời Valerian có Cyprian,
giám mục Carthage và Sixtus II, giám mục Roma cũng với các phó tế dưới quyền,
bao gồm cả thánh Lawrence. Người ta có ghi lại một đoạn hội thoại giữa Cyprian
với viên tổng đốc Carthage lúc bấy giờ là Galerius Maximus, trong một cuộc thẩm
vấn trước công chúng vào ngày 14 tháng 9 năm 258 rằng:
Galerius Maximus: “Ông có phải là Thascius Cyprianus không?”
Cyprian: “Vâng chính là tôi”.
Galerius: “Hoàng đế rất mực thánh thiêng ra lệnh cho ông phải tiến
hành những nghi thức La Mã”.
Cyprian: ”Tôi từ chối làm việc đó”.
Galerius: “Hãy giữ gìn lấy bản thân ông”.
Cyprian: “Hãy cứ làm như ông đã ra lệnh; ở một tình cảnh quá rõ
ràng như thế này, tôi chẳng còn cần giữ gìn gì nữa”.
Galerius: “Ông đã sống bình thường từ lâu ngoài xã hội, nhưng lại
tụ tập cùng với những kẻ khác bị ràng buộc bởi một hội nhóm bất hợp pháp, và đồng
thời tự xưng mình là kẻ thù công khai đối với các vị thần linh và tôn giáo của
La Mã, với các hoàng đế tôn nghiêm, hiếu kính và rất mực thiêng liêng… [Nhà nước]
đã cố gắng dù biết là vô ích để đưa ông trở lại chính đạo trong những nghi lễ
tôn giáo chính thức; do đó, trong khi ông bị bắt với tư cách là một yếu nhân và
người đứng đầu trong những tội ác xấu xa này, ông sẽ là tấm gương cho những kẻ
bạn hữu tội lỗi của ông; và quyền uy của luật pháp sẽ đươc thể hiện rõ thông
qua máu của ông”.
Rồi Galerius đọc lời phán quyết cuối cùng của phiên tòa, được viết
trên một tấm biển: “Phán quyết cuối cùng của phiên tòa này, đó là Thascius
Cyprianus sẽ bị xử tử hình bằng gươm”.
Cyprian: “Tạ ơn Chúa”.
Sau khi được giải đến thẳng nơi hành hình, Cyprian đã bị chém đầu.
Văn phong của đoạn hội thoại trên cho thấy trong mắt chính quyền La Mã, Kitô
giáo và giáo hội Kitô không phải là một tôn giáo mà là một tổ chức tội phạm.
Khi con của Valerian là Gallienus trở thành hoàng đế năm 260, những sắc lệnh
này bị hủy bỏ và cuộc bách hại chấm dứt. Khoảng thời gian tương đối yên ổn này,
bắt đầu từ khi Gallienus lên ngôi, cho tới khi cuộc bách hại qui mô lớn do
Diocletian phát động bắt đầu, được giáo hội gọi là giai đoạn “Tiểu hòa bình”.
Trong bộ sưu tập các bản thảo chép tay trên giấy cói papyrus được
phát hiện cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX tại Ai Cập, mang tên Oxyrhynchus
Papyri, có chép về lệnh bắt giữ một tín đồ Kitô vào ngày 28 tháng 2 năm 256, đó
là thời gian Valerian làm hoàng đế, song lại không đề cập đến lí do bắt giữ. Việc
đầu tiên của Valerian sau khi lên ngôi hoàng đế đó là phong con mình là
Gallienus làm Caesar cùng cai trị. Vào đầu triều đại của ông, phương tây trở
nên tồi tệ và rơi vào tình thế hỗn loạn. Ở phương đông, người Ba Tư xâm lược
Armenia và tiến đánh Antioch. Valerian và Gallienus phải phân chia công việc với
nhau: Gallienus lo việc phương tây; còn Valerian thì quay sang phương đông để đối
mặt với mối đe dọa của người Ba Tư.
10. Cuộc bách hại cuối cùng: Thời
kì Diocletian và Galerius
Khi Diocletian lên ngôi hoàng đế vào năm 284, tuy không có thái độ
thù địch với Kitô giáo ngay lập tức, nhưng sự kiện này đã báo trước một sự chuyển
đổi dần dần trong chính sách của nhà nước đối với những nhóm tôn giáo thiểu số.
Trong mười lăm năm đầu tiên của triều đại mình, Diocletian đã thanh lọc những
người Kitô ra khỏi quân đội, xử tử những người theo đạo Mani từ Ba Tư truyền
vào, và tập hợp xung quanh mình những người có lập trường chống Kitô giáo.
Diocletian có ấn tượng mạnh về một chính quyền chuyên chế và mong muốn gây dựng
cho mình hình ảnh một người khôi phục vinh quang của La Mã trong quá khứ, và điều
đó đã tiên báo một cuộc bách hại qui mô lớn chưa từng có trong lịch sử La Mã.
Mùa đông năm 302, Galerius, bấy giờ là Caesar dưới quyền, thúc giục Diocletian
phát động một cuộc bách hại chung đối với những người theo Kitô giáo.
Diocletian cảm thấy cảnh giác và đã đến đền thờ thần Apollo ở Delphi để xin lời
sấm chỉ dẫn. Sau khi nhận được nội dung từ lời sấm truyền, cảm thấy đề nghị của
Galerius là đúng đắn, Diocletian đã ra lệnh tiến hành bách hại vào ngày 24
tháng 2 năm 303. Trong khi những mệnh lệnh từ Diocletian hướng đến những người
Kitô thuộc tầng lớp có địa vị cao trong xã hội, thì mệnh lệnh của một trong những
người kế nhiệm ông là Maximinus Daia lại có ý muốn cô lập hoàn toàn người Kitô
giáo ra khỏi xã hội La Mã.
Thế nhưng sự đồng tình của tầng lớp trên và giới tinh hoa trong xã
hội La Mã đối với cuộc bách hại lại không mấy phổ biến. Trong khi Galerius và
Diocletian nhiệt tâm với cuộc bách hại, Constantius, Caesar nắm quyền ở phương
tây lại không quan tâm tới sự kiện này. Tất cả các sắc lệnh bách hại về sau bao
gồm cả những lời kêu gọi dân chúng dâng tiến lên các vị thần La Mã đều đã không
được thực hiện trên lãnh thổ mà ông cai quản. Con trai ông là Constantine khi
lên kế vị vào năm 306 đã khôi phục hoàn toàn quyền bình đẳng về mặt pháp lí cho
người Kitô giáo, đồng thời hoàn trả lại tài sản đã tịch thu được trong thời
gian bách hại. Tại Ý vào năm 306, con trai của Maximian, là Augustus cùng cai
trị với Diocletian trước đó, đã lật đổ người kế vị được chỉ định của Maximian
là Severus để xưng Augustus ở Roma, cũng hứa hẹn về một sự khoan dung triệt để
đối với các tôn giáo. Còn Galerius dù tuyên bố chấm dứt bách hại ở phía đông
năm 311, nhưng Maximinus Daia, người kế nhiệm ông vẫn tiếp tục bách hại ở đất
Ai Cập, Palestine và Tiểu Á. Sau khi Constantine đánh bại Maxentius và làm chủ
phương tây trên thực tế, ông đã cùng với Licinius (Licinius trên danh nghĩa là
Augustus phương tây do Galerius phong trước đó, để thay cho Severus bị
Maxentius giết) kí vào “sắc lệnh Milan” năm 313 với sự công nhận toàn diện hơn
đối với Kitô giáo so với sắc lệnh của Galerius ban hành năm 311. Tiếp đó,
Licinius lật đổ Maximinus Daia giữa năm 313, đánh dấu sự chấm dứt bách hại ở miền
đông.
|
Constantine đại đế, người đã chấm dứt các cuộc bách hại sau sự kiện ban hành sắc lệnh
Milan năm 313 và là hoàng đế La Mã đầu tiên theo đạo Kitô |
Như vậy, cuộc bách hại do Diocletian khởi xướng đã thất bại trong
việc kiểm soát sự trỗi dậy của giáo hội Kitô. Đến năm 324, sau khi đánh bại
Licinius và trở thành người cai trị duy nhất, Kitô giáo đã trở thành tôn giáo
giành được cảm tình của Constantine. Mặc dù cuộc bách hại đã chứng kiến những
cái chết, sự tra tấn, bỏ tù và đày ải nhiều người Kitô giáo, song tựu trung, phần
lớn người Kitô giáo đã tránh được sự trừng phạt của nhà cầm quyền. Tuy nhiên cuộc
bách hại lại đem đến sự chia rẽ trong nội bộ các giáo hội, giữa những người từng
chối đạo nay trở về hiệp thông, với những tín hữu bảo thủ cho rằng phải kiên
tâm giữ đạo và sẵn sàng chịu chết nếu có bách hại. Một số sự chia rẽ nhất định,
chẳng hạn như cuộc li khai của những người phái Donatism ở Bắc Phi, hay phái
Melitian ở Ai Cập, vẫn còn tồn tại rất lâu sau các cuộc bách hại.
Tác giả Peter Brown nhận định: “Sự thất bại của cuộc Đại bách hại
Diocletian được coi là sự xác nhận một quá trình tự khẳng định lâu dài chống chủ
nghĩa phục tùng (tiếng Anh: conformism) được áp đặt bởi một đế quốc
đa thần giáo. Quyền tự do khẳng định tín ngưỡng không được nhà nước công nhận
nay đã được giành lấy và nắm giữ. Cho dù sau này, giáo hội và các quốc gia Kitô
giáo đã phạm nhiều sai lầm trong vấn đề cưỡng bức tôn giáo, tuy nhiên những sự
tử đạo của người Kitô giáo trong các cuộc bách hại do người La Mã phát động vẫn
là một hình ảnh có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử của sự tự do. Và trong cuộc cách mạng này… vấn đề
không chỉ là đơn thuần là những bất bình bên trong một địa phương, một tỉnh nào
đó; mà là cả vị trí của một tôn giáo trong lòng xã hội”.
IV. Những tranh cãi
Nhà thần học Paul Middleton viết rằng:
“… những trình thuật về sự tử đạo thực sự là những câu chuyện
gây tranh cãi. Không có bất kì một phương pháp trung dung nào trong những sự
tích về những vị tử đạo đó, vì chúng chắc chắn sẽ tạo ra hình ảnh những anh
hùng và những kẻ phản diện… ngay cả trong thời kì sơ khởi của giáo hội, sự tử đạo
vẫn luôn bị tranh cãi. Hơn nữa, bất kì phép thử nào nhằm phân biệt đúng sai một
cách khách quan những cuộc tử đạo, về cơ bản đều thể hiện sự áp đặt các giá trị
hoặc thiên kiến của người dịch, người tường thuật hoặc thậm chí cả người biên tập
nữa”.
Như vậy, có thể thấy sự bất đồng và tranh cãi thể hiện rõ nét khi
bàn về những cuộc tử đạo của người Kitô giáo dưới thời kì đế quốc La Mã.
1. Quan điểm của Edward Gibbon
Cái gọi là “cuộc tranh cãi lâu dài” này có thể được coi là bắt đầu
từ các nhà sử học như Edward Gibbon và G. W. Bowersock. Theo nhà sử học
Patricia Craddock, tác phẩm Lịch sử về sự suy tàn và sụp đổ của đế quốc La Mã của
Gibbon là một thành tựu, nhưng nó cũng chỉ ra sự thất bại của Gibbon trong việc để
cho những thiên kiến cá nhân ảnh hưởng đến cách nhìn nhận của ông, theo kiểu “từ
bỏ vai trò của một nhà sử học để chuyển sang vai trò của một công tố viên được ủy
quyền trước tòa”. Và vì thế, bản thân Gibbon cũng trở thành một khía cạnh trong
cái gọi là “cuộc tranh cãi lâu dài” này.
Gibbon cho rằng các nguồn tư liệu Kitô giáo khi đề cập về các cuộc
tử đạo đã phóng đại con số và sự man rợ của các cuộc bách hại. Một bộ phận học
giả sau đó đã xây dựng thêm dựa trên quan điểm này và khẳng định rằng sự phóng
đại là cần thiết để tạo ra một “sự sùng kính đối với các đấng tử đạo” do nhu cầu
định hình một bản sắc cho Kitô giáo, tách biệt với những truyền thống Do Thái
và La Mã. Sự phóng đại và thêu dệt đã xảy ra, chủ yếu vào thời trung cổ, khiến
cho các thánh tử đạo có tác động mạnh mẽ đến bản sắc Kitô giáo thời kì sơ khởi,
tuy nhiên theo người đứng đầu chủng viện Bethany và Chicago, nhà thần học
Graydon F. Snyder, sau khi tham khảo các văn bản cổ đại và bằng chứng khảo cổ
có liên quan, đã nhận định: “mọi bằng chứng phi ngôn ngữ… các công trình kiến
trúc còn tồn tại, dạng thức, biểu tượng, phong cách nghệ thuật, hình thức thực
hành tang lễ, những bản khắc, những câu chữ, những ghi chép hay thậm chí cả âm
nhạc, đều khẳng định sự sùng kính các thánh tử đạo không ảnh hưởng đến nguồn tư
liệu Kitô giáo thời kì sơ khởi, bởi nó đã không bắt đầu cho đến sau thời đại của
Constantine”.
Phần lớn các học giả hiện đại ít hoài nghi hơn Gibbon về mức độ
nghiêm trọng của cuộc Đại bách hại do Diocletian khởi xướng. Một nhà sử học
chuyên nghiên cứu về vị hoàng đế này là Stephen Williams đã viết vào năm 1985:
“Ngay cả khi cho phép sáng tạo một chút thì những gì còn lại [sau cuộc Đại bách
hại] cũng đủ khủng khiếp. Không giống như Gibbon, chúng ta đang sống trong thời
đại đã trải qua những điều tương tự, và biết rằng cái cười cợt của sự hoài nghi
đó là sai lầm như thế nào trong những ghi chép như vậy. Những điều đó có thể và
đã từng tệ hại như những gì chúng ta tưởng là tệ hại nhất”.
2. Tính xác thực
Số lượng các trình thuật Kitô giáo có tính xác thực, về lịch sử và
những bằng chứng khác thu thập được thuộc thời kì tiền-Constantine về các cuộc
tử đạo vẫn còn đang bị tranh cãi gay gắt. Tác phẩm Acta Martyrum (Hành
trạng các vị tử đạo), trong đó bao gồm tất cả những trình thuật khác nhau về
sự bắt bớ, thẩm vấn, kết án, hành quyết và chôn cất các vị tử đạo trong các thế
kỉ đầu Công nguyên. Các trình thuật này đều có tính lịch sử khác nhau vì nhiều
trong số đó được viết rất lâu sau khi những sự kiện chúng mô tả diễn ra. Theo
tiêu chí phân loại của Hippolyte Delehaye, một tu sĩ dòng Tên và là nhà nghiên
cứu các vị thánh đưa ra, các văn bản trên được phân thành ba nhóm chính sau:
1. Các
ghi chép chính thức và những trình thuật của những người có mặt trực tiếp
2. Trình
thuật dựa trên những tài liệu thuộc nhóm thứ nhất, hoặc ít nhất có dựa trên một
yếu tố lịch sử đủ tin cậy nhất định.
3. Những
tiểu thuyết hoặc tác phẩm văn học hư cấu về các vị thánh sau này.
Với sự phân loại trên, nhóm thứ nhất mang tính lịch sử và nhóm thứ
ba là thuộc thể loại văn học phi lịch sử đạt được sự chấp nhận rộng rãi; tranh
cãi tập trung chủ yếu vào nhóm thứ hai. Theo nhà sử học người Pháp Pierre
Maraval, nhiều văn bản trong nhóm thứ hai được viết để “gây dựng tinh thần cho
người đọc, với mục đích chính không phải nhắm đến tính lịch sử mà là đưa ra
hình ảnh về một minh chứng hoàn hảo”. Maraval bổ sung thêm rằng các sách thuộc
thể loại Acta (Hành trạng) và Passiones (Khổ
nạn) đã lưu giữ đủ dữ liệu lịch sử xác thực, cho phép người đọc hiện đại nhận
ra thực tế của cuộc bách hại và cách mà các cộng đoàn Kitô giáo lúc bấy giờ cảm
nhận nó.
Về tính xác thực trong các tác phẩm của Eusebius cũng là một chủ đề
của cuộc tranh cãi. Eusebius đã có thiên kiến, và tác giả Barnes khẳng định ông
mắc sai lầm đặc biệt là về niên đại, cũng như quá tôn sùng hoàng đế
Constantine, nhưng nhiều phát biểu mà ông đưa ra được chấp nhận là đáng tin cậy,
phần lớn đến từ phương pháp tiếp cận: những đoạn trích được trích dẫn cẩn thận
từ những nguồn tư liệu gốc cổ đại. Ví dụ, Eusebius phát biểu rằng trong khi
Marcus [Aurelius] cùng nắm quyền với [Antoninus] Pius [từ năm 138 đến năm 161],
thì Pius đã viết chỉ dụ [liên quan đến tính chất hình sự của tội xưng mình là
tín đồ Kitô] tới các thành phố Larissa, Thessalonica, Athens và tới tất cả những
người Hi Lạp… Eusebius trích dẫn văn bản Biện hộ của giám mục
Melito, gửi hoàng đế Marcus Aurelius và bản thảo tác phẩm Những lời biện
giải của học giả Kitô giáo Justin cùng với một lá thư được cho từ
hoàng đế hồi đáp lại, với chỉ có thay đổi nhỏ trong văn bản của ông. Nguyên tắc
chính quyền La Mã áp dụng, đó là liệt việc theo đạo Kitô vào loại tội danh tự-thân
(tiếng Latinh: eo ipso) cũng được nhắc đến rõ ràng ngay sau những
năm 161 khi Marcus Aurelius chính thức trở thành người cai trị duy nhất. Nó được
cho là được phát biểu trong lá thư mà hoàng đế trả lời về vấn đề những người
Kitô giáo ở xứ Gaul, bị phản biện bởi giám mục Melito trong văn bản Biện
hộ của ông, và dường như đã được sử dụng để kết tội học giả Justin và
các bạn hữu của ông, bị xét xử và hành quyết trong những năm từ 161 đến 168.
Theo tác giả Barnes, vì phương pháp tiếp cận như vậy mà Eusebius được sự đồng
tình trong phần lớn những gì mà ông đưa ra.
3. Tính tự nguyện trong những
cuộc tử đạo
Tác giả G. E. M. de Ste. Croix đã phân chia các trường hợp tử đạo
Kitô giáo thời kì sơ khởi vào ba nhóm: những người tự nguyện tử đạo; những người
không tự nguyện như tử đạo vì hành vi của họ, chẳng hạn như từ chối tuân lệnh
chính quyền; và những người bị chính quyền săn lùng mà không có bất kì hành động
tuyên xưng đức tin nào từ phía họ. Trong số 91 vị tử đạo ở Palestine được đề cập
bởi Eusebius trong tác phẩm On the Martyrs of Palestine (Về
những vị tử đạo Palestine), Ste. Croix cho biết không có chi tiết nào phân
loại 44 người trong số họ cả; còn 47 người còn lại thì có 13 người tự nguyện,
18 người bị chính quyền “để ý” và 16 người bị cho “có thể nhận ra dấu hiệu phạm
tội”. Từ đó, ông kết hợp hai nhóm đầu tiên thành một định nghĩa rộng hơn về “sự
tự nguyện tử đạo” và loại họ ra trong tổng số các trường hợp tử đạo.
Herbert Musurillo, một học giả và là dịch giả cuốn sách Acts
of the Christian martyrs Introduction (Một dẫn nhập về hành trạng
các vị tử đạo Kitô giáo) cho rằng Ste. Croix đã “nhấn mạnh quá mức tính tự
nguyện về sự tử đạo, điều mà rất hiếm có bằng chứng xác đáng trong các sách thuộc
thể loại Acta (Hành trạng) thời sơ khởi. Giáo sư triết
học Alan Vincelette cũng đồng tình với quan điểm này, và cho rằng sự phân loại
của Ste. Croix về những người tự nguyện tử đạo là quá rộng rãi, bởi số liệu kiểm
tra trong bốn thế kỉ đầu tiên cho thấy có tồn tại những người này nhưng chỉ chiếm
khoảng 12% trên tổng số, chứ không phải là 75% như Ste. Croix đưa ra.
Tác giả G. W. Bowersock cho biết sự tự nguyện tử đạo đã trở nên
quá phổ biến đến mức cuối thế kỉ thứ hai, các nhà chức trách của giáo hội đã cố
gắng ngăn cản hành vi này, và đến thế kỉ thứ ba và thứ tư, họ bắt đầu phân biệt
rạch ròi ai sẽ nhận “triều thiên tử đạo” từ Chúa Kitô, giữa những người “tử đạo
vô ý thức [ám chỉ sự tự nguyện tử đạo mà không có nhận thức] và những trường hợp
tử đạo truyền thống khác, sau những kết quả của cuộc bách hại đem đến”.
Trong các công trình của mình, nhà nghiên cứu Candida Moss lập luận
sự tự nguyện tử đạo không được các tín hữu Kitô thời kì sơ khởi công nhận là một
phạm trù riêng rẽ, và bà nhận định “ở đâu không có những chỉ dẫn về mặt ngôn ngữ,
ở đó các học giả có thể thoải mái làm việc với các giả thuyết và phân loại mà
tính cá nhân cao về vấn đề: Điều gì khiến một cuộc tử đạo diễn ra? Đó là sự tự
nguyện hay đến từ động cơ nào khác thôi thúc? Bà cũng lập luận rằng bằng chứng
cho rằng sự tự nguyện tử đạo thuộc về một dạng thực hành tín ngưỡng riêng biệt
chỉ có thể được xác định chắc chắn thông qua các văn bản có phân biệt giữa các
hình thức tử đạo, nhưng nếu tồn tại một văn bản như vậy, thì sự phân biệt cũng
chẳng bao giờ khách quan cả. Moss cho rằng những tín đồ Kitô giáo thời kì sơ khởi
chỉ bắt đầu công nhận và lên án hành vi “tự nguyện tử đạo” từ thế kỉ thứ ba trở
đi.
Một cách tương tự, tác giả Paul Middleton cũng lập luận về tính hợp
lệ của sự tự nguyện tử đạo như một bộ phận bên trong cái tổng quát hơn là “sự tử
đạo Kitô giáo thời kì tiền-chính thống” và bao hàm tất cả những trường hợp như
vậy vào một con số tổng thể. Ông nói rằng trong sách Hành trạng thánh
Cyprian “không có điều gì trong văn bản cho thấy rằng những người tham
gia hành vi tự nguyện tử đạo hàng loạt, là những người nào khác ngoài các vị tử
đạo chân chính cả”. Trong sách Cuộc khổ nạn thánh Perpetua, một vị
lãnh đạo của giáo hội đã tới để thêm sức cho những tín hữu ở trong tù, những
người này được mô tả như những kẻ đã “buông bỏ bản thân mình phó mặc theo ý muốn”.
Viên tổng đốc tỉnh Asia là Arrius Antoninus, sau khi đã đáp trả một nhóm những
người Kitô giáo đòi được tử đạo bằng cách ra lệnh giết một số người, cũng phải
thốt lên rằng: “Hỡi những kẻ khốn khổ, nếu các người muốn chết, thì đã có vách
đá dựng đứng và thòng lọng”. Còn Tertullian dường như cũng ủng hộ tình nguyện để
chính quyền bắt giữ bằng cách trả lời nhà cầm quyền rằng ông và những tín hữu
khác không sợ sự trả thù từ La Mã mà thay vào đó “sẵn sàng chịu hình phạt”.
Theo quan điểm của Moss và Middleton, tính chất tự nguyện thực sự bị phê phán
trong Kitô giáo giai đoạn sau này, nhưng những người tự nguyện tử đạo “cũng được
đánh giá cao như những vị tử đạo khác trong truyền thống Kitô giáo thời kì sơ
khởi”.
4. Những con số
Ste. Croix ước tính về tổng số người tử đạo trong cuộc Đại bách hại
hoàn toàn phụ thuộc vào niềm tin của ông về việc Eusebius đã cố gắng viết một
trình thuật đầy đủ về các vị tử đạo ở địa phương của Eusebius, trong tác phẩm On
the Martyrs of Palestine, mặc dù mục đích thực sự của Eusebius vẫn còn gây
tranh cãi. Ste. Croix lập luận rằng mục đích của Eusebius là rất rõ ràng: sau
khi trình thuật về các cuộc tử đạo tại thành phố Caesarea năm 310 (đó là lần cuối
cùng), Eusebius kết luận “Đó là những cuộc tử đạo đã xảy ra tại Caesarea trong
suốt thời gian bách hại”; lại ví dụ khác, sau khi mô tả các đợt hành quyết hàng
loạt tại Phaeno, Eusebius cũng viết “Những cuộc tử đạo này đã diễn ra ở
Palestine trong suốt tám năm; và trên đây là tường thuật về cuộc bách hại trong
thời đại của chúng ta”.
Tác giả Timothy Barnes khẳng định rằng chủ ý của Eusebius không rộng
như Ste. Croix lập luận. Theo quan điểm của Barnes, chủ ý của Eusebius không phải
cố đưa ra một trình thuật toàn vẹn về tất cả các vị tử đạo. mà là đưa ra các ví
dụ cụ thể một cuộc tử đạo có thể diễn ra như thế nào. Barnes trích dẫn lời nói
đầu của phần tựa khá dài trong sách Các vị tử đạo của Eusebius
để làm cơ sở: “Vậy thì thật là hợp lí khi những cuộc xung đột tiếng tăm ở các địa
phương khác nhau, nên được qui cho những người sống cùng những người đã tham
gia viết lại, ở địa phương họ. Nhưng đối với tôi, tôi cầu nguyện rằng tôi có thể
nói về những cá nhân mà tôi đã được trò chuyện cùng” cho thấy có tồn tại một số
nhân vật mà tại đó Eusebius không nhắc tới, nhưng có thể họ lại được nhắc tới ở
những nguồn tư liệu khác. Jan Bremmer, giáo sư danh dự đại học Groningen Hà
Lan, chuyên ngành nghiên cứu về tôn giáo đã viết rằng: “Như chúng ta đều biết,
Eusebius đã thu thập những sự tích về các vị tử đạo trước thời kì của ông,
thông qua một cuốn sách có tựa đề là Collection of the Ancient Martyrs (Tuyển
tập về các vị tử đạo thời xa xưa) và trong sách này có tồn tại một số những
sự tích không được Eusebius đề cập đến trong các văn bản còn sót lại của ông”.
Bremmer lập luận rằng không có lí do gì để mong đợi Eusebius hoặc thánh
Augustine sau đó sẽ đưa sự tích của tất cả các vị tử đạo mà họ biết vào trong
văn bản của họ. Những trình thuật khác của Eusebius cũng tiết lộ về những tín hữu
vô danh đồng hành cùng các vị tử đạo đã được biết đến, họ không được đưa vào
danh sách các vị có tên chính thức trong cuốn On the Martyrs of
Palestine.
Nhà sử học Edward Gibbon sau khi phàn nàn về sự mơ hồ trong cách
diễn đạt của Eusebius đã đưa ra ước tính đầu tiên về số lượng người tử đạo
trong cuộc Đại bách hại bằng cách đếm số người được liệt kê trong danh sách bên
trong cuốn On the Martyrs of Palestine chia cho số năm diễn ra
bách hại, nhân với tỉ lệ dân số trên toàn thể thế giới La Mã lúc bấy giờ, mà cụ
thể được đại diện bởi tỉnh Palestine, rồi nhân kết quả thu được với tổng thời
gian của cuộc bách hại; kết quả là ông nhận được một con số ở khoảng dưới hai
nghìn người. Cách tiếp cận của Gibbon phụ thuộc vào giả thiết đặt ra là số lượng
người tử đạo trong On the Martyrs of Palestine là đầy đủ, cũng
như sự hiểu biết về dân số của ông là chính xác, và mật độ phân bố dân số trên
toàn đế quốc phải đạt trạng thái ổn định. Song điều này trên thực tế lại không
xảy ra. Năm 1931, tác giả Goodenough đã phản đối và cho rằng ước tính này của
Gibbon là không chính xác; nhiều người khác khi tự mình ước tính theo công thức
của Gibbon còn cho ra kết quả sai khác lớn hơn nhiều, cụ thể số lượng người
Kitô giáo khởi đầu ở mức 6 triệu đã tăng trưởng lên mức 15 triệu, so với dân số
toàn La Mã vào năm 300 là 60 triệu người; như vậy nếu chỉ có 1% trong số 6 triệu
người Kitô giáo chết dưới thời Diocletian thì con số đó đã là 60 nghìn người. Một
số phép ước lượng khác sau đó vẫn còn dựa trên phương pháp luận của Gibbon. Nhà
sử học thuộc giáo hội Anh là W. H. C. Frend ước tính có 3000-3500 người Kitô
giáo đã bị giết trong cuộc Đại bách hại, mặc dù con số này còn nhiều tranh cãi.
Một nhà sử học khác là Min Seok-shin thì ước tính có hơn 23500 người tử đạo dưới
thời Diocletian, trong đó có 850 người được biết tên.
Ste. Croix khi biết về những con số kết luận trên đã phản ứng: “Chỉ
tập trung đưa ra thống kê về các cuộc tử đạo hoàn toàn không phải là thước đo
tin cậy về sự khổ nạn mà toàn thể người Kitô giáo đã phải chịu đựng”.
Chú thích:
(1) Lấy ví dụ như trong
sách 1 Gioan, chương 2, các câu từ 15-17 có nói: “Anh em đừng yêu
thế gian và những gì ở thế gian…vì mọi sự trong thế gian: như dục vọng của tính
xác thịt, dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của, tất cả những cái đó
không xuất phát từ Chúa Cha nhưng xuất phát từ thế gian…” (Kinh thánh ấn bản
2011, Nhóm phiên dịch các giờ kinh phụng vụ, Nhà xuất bản Tôn giáo). Thế
gian ở đây theo cách hiểu của người Kitô giáo là những ham muốn trong
cuộc sống đời thường luôn rình rập theo đuổi khiến con người lìa xa đức tin, và
là những biểu hiện mà người Kitô giáo nhận thấy được ở những người đa thần
giáo.
(2) Trong thần thoại Hi Lạp, Thyestes,
vì chiếm ngôi vua thành Mycenae nên đã bị người em mình là Atreus giết những đứa
con của mình, làm thành bữa tiệc và bị lừa vào ngồi ăn thịt chính con mình. Còn
Oedipus là con trai vua Laius thành Thebes và vợ là Jocasta, bị tiên tri rằng sẽ
giết cha và kết hôn với mẹ của mình, trải qua vô số bi kịch theo đúng như vậy,
cuối cùng ông tự chọc mù mắt và sống trong đau khổ đến lúc chết.
(3) Xem thêm bài viết về những
bức thư giữa Trajan và Pliny Trẻ tại: https://vietnguyend.blogspot.com/2021/07/plinius-tre-nhung-thu-tin.html.
(4) Một điều thú vị là cách thức
này dường như đã lặp lại tại nước ta vào thời kì đầu nhà Nguyễn cấm đoán Công
giáo, các quan tổng đốc ở địa phương mỗi lần bắt được tín hữu Công giáo cũng bắt
chà đạp lên thập giá hoặc ảnh Chúa để khẳng định người đó đã chối đạo rồi mới
tha bổng.
(5) Nguyên văn: proconsul.
Các tỉnh La Mã được phân thành hai loại: Thứ nhất là tỉnh của hoàng đế, những
nơi có nhiều quân đoàn lê dương trú đóng, đứng đầu là một legatus
Augusti pro praetore, tạm dịch là “khâm sai hoàng đế hành pháp quan sự”, nắm
cả quyền quân sự lẫn dân sự. Cũng có những tỉnh của hoàng đế nhưng không có
quân đoàn nào, thì sẽ do một praefectus hoặc procurator chỉ
huy lực lượng quân trợ chiến ở đó, và ngoại lệ là ở Ai Cập, chức danh này có
tên là praefectus Aegypti, chỉ dành do những người được hoàng đế ưu
ái đảm nhiệm. Thứ hai là các tỉnh do viện nguyên lão điều hành có tình hình ổn
định và ít bạo loạn hơn, tổng đốc ở đây gọi là proconsul, hầu như
chỉ có quyền dân sự là chính. Các viên tổng đốc đều phải từng đảm nhiệm chức vụ
chấp chính quan hoặc pháp quan, riêng các praefectus và procurator là người có
xuất thân từ tầng lớp kị sĩ thấp hơn các nguyên lão. Asia không nên hiểu là
châu Á mà đây là một tỉnh La Mã lập ra vào năm 133 trước Công nguyên, lãnh thổ
bao gồm phần phía tây bán đảo Tiểu Á trông ra biển Aegea ngày nay.
(6) Triết học Tân-Plato là trường
phái triết học duy tâm trong đó thế giới quan tuân theo một ý tưởng mang tính
nhất nguyên, cho rằng mọi thực thể bắt nguồn từ một khởi nguyên duy nhất, gọi
là “Cái Độc nhất” (tiếng Anh: the One), “Cái Toàn thiện” (tiếng
Anh: the Good). Triết học kinh viện của Kitô giáo cũng vận dụng
quan niệm này và đồng nhất nó với Thiên Chúa. Đến thế kỉ XIX, Hegel lại gọi nó
trong học thuyết của mình là “Tinh thần tuyệt đối”. Ở đây, nguyên văn dùng chữ God nhưng
tạm dịch như vậy để khỏi nhầm lẫn với khái niệm Thiên Chúa dùng trong các ngữ cảnh Kitô giáo
hoặc Do Thái giáo.
(7) Viện nguyên lão La Mã lúc bấy
giờ, đứng đầu là hai quan chấp chính Quintus Marcius Philippus và Spurius
Postumius Albinus, đã ban hành sắc lệnh công bố giáo phái thờ thần Bacchus là mối
đe dọa với an ninh quốc gia, cần phải tiến hành một qui trình pháp lí nghiêm ngặt,
điều tra làm rõ và trao thưởng cho các cá nhân cung cấp thông tin, đồng thời tiến
hành trấn áp giáo phái này trên khắp lãnh thổ Ý. Hiện tại vẫn còn bản sao của sắc
lệnh này (bản gốc khắc trên bảng đồng) đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Nghệ
thuật Viên, Áo.
(8) Nguyên văn dùng chữ procurator,
tạm dịch là tổng đốc, xin xem thêm Chú thích 5. Pontius Pilatus chính là quan
chức La Mã đứng đầu tỉnh Judaea từ năm 26-36 đã xử Chúa Giêsu chịu hình phạt
đóng đinh vào thập giá. Theo phân loại của chính quyền La Mã, Judaea là tỉnh
thuộc hoàng đế song lực lượng quân sự trú đóng ở đây không nhiều nên quan chức
đứng đầu chỉ là các procurator hoặc praefectus. Căn cứ trên văn khắc của một tấm
đá phát hiện năm 1961 tại thành phố Caesarea, Israel, cho thấy Pilatus là một
viên praefectus thì đúng hơn.
(9) Rất có thể những tranh cãi như vậy xuất phát từ cách hiểu của từ Latinh institutum, nghĩa đen chỉ một nguyên tắc hoạt động, ý định hoặc kế hoạch nào đó, tuy nhiên ở nghĩa rộng còn có nghĩa là một sắc lệnh, thể chế, thiết chế
(10) Ví dụ ở câu thứ 9 của
chương 6 sách Khải huyền nói về thị kiến của tác giả về ngày
Phán xét cuối cùng: “Khi Con Chiên mở ấn thứ năm, thì tôi thấy dưới bàn thờ,
linh hồn của những người đã bi giết vì đã rao giảng lời Thiên Chúa và đã làm chứng”
(Kinh thánh ấn bản 2011, Nhóm phiên dịch các giờ kinh phụng vụ, Nhà xuất
bản Tôn giáo). Đó là cách nói chỉ những người tử đạo Kitô giáo.
(11) Nay là đảo Ventotene thuộc
tỉnh Latina vùng Lazio của Ý, nằm ở phía đông nam thành phố Roma trong biển
Tyrrhenum. Thời La Mã, các hoàng đế thường dùng đảo này làm nơi đày ải các nhân
vật thường là phụ nữ thuộc gia đình hoàng đế phạm tội đến đó.
(12) Nguyên văn dùng chữ obstinacy,
tuy nhiên trong việc tố tụng mà dùng lí do đó để gán cho một tội danh thì thật
là thiển cận. Đúng ra nhà cầm quyền sẽ khép vào tội danh bất kính hoặc phản quốc
sau khi đã một người Kitô khước từ việc chối đạo bằng cách dâng cúng trước các
thần linh La Mã để chứng minh trung thành với nhà nước.
(13) Dưới thời kì đế quốc, người
La Mã chia những vùng đất ở Gaul mà Julius Caesar chinh phục được trước đó
thành ba tỉnh: Gallia Belgica, nằm trên lãnh thổ Bỉ, Hà Lan và đông bắc nước
Pháp ngày nay; Gallia Lugdunensis, bao trùm lãnh thổ nước Pháp từ bán đảo
Bretagne dọc theo sông Loire và sông Seine về phía đông nam; và Gallia
Aquitania thuộc phía tây nam nước Pháp giáp với biển và đi xuống dãy Pyrénées
giáp với đất Tây Ban Nha. Lugdunum là thủ phủ tỉnh Gallia Lugdunensis.
Bài viết được chuyển ngữ từ Wikipedia tiếng Anh, mục từ Persecution
of Christians in the Roman Empire: https://en.wikipedia.org/wiki/Persecution_of_Christians_in_the_Roman_Empire.
Vui lòng không up lại khi chưa có sự đồng ý từ người dịch.







Nhận xét
Đăng nhận xét