Về giai thoại “Tạ phu nhân từ chối gả con gái cho Minh Thành Tổ”
Minh Thành Tổ, vị hoàng đế thứ ba của nhà Minh, có hoàng hậu là con gái cả của khai quốc công thần Từ Đạt, làm hoàng hậu không bao lâu sau khi Thành Tổ lên ngôi thì băng thệ. Thành Tổ có lời hỏi người vợ còn sống của Từ Đạt là Tạ phu nhân về việc liệu ông có thể kết hôn và lập người con gái út trong gia đình, đồng thời cũng là em gái ruột của vị hoàng hậu quá cố, làm tân hoàng hậu được không, thì bị Tạ phu nhân khước từ. Câu chuyện này được lưu truyền trong các sách vở không chính thống trong giai đoạn trung hậu kì triều Minh, song cũng nhận được những ý kiến phản bác, điển hình như học giả Vương Thế Trinh (1) thời Minh Thần Tông, khi ông chỉ ra Tạ phu nhân đã qua đời nhiều năm trước khi Từ hoàng hậu của Minh Thành Tổ băng thệ. Trong các tác phẩm cuối Minh đầu Thanh như “Danh sơn tàng” của Hà Kiều Viễn (2) những năm Vạn Lịch của Minh Thần Tông, hay “Minh văn hải” của Hoàng Tông Hi (3) thời đầu Thanh, đều có ghi chép các dị bản của giai thoại này và cho biết con gái thứ ba của Từ Đạt có tên Từ Diệu Cẩm, đã khước từ lời đề nghị trở thành hoàng hậu của Minh Thành Tổ. Cả hai tác phẩm “Danh sơn tàng” cũng như “Minh văn hải” đều xếp sự tích Từ Diệu Cẩm cự hôn vào hàng “liệt nữ”, tức những gương phụ nữ có lòng khẳng khái, tiết liệt, giữ nghĩa vẹn tròn.
Các tác giả trong thời
hiện đại có xu hướng nhìn nhận câu chuyện Tạ phu nhân từ chối gả con gái này là
một nguồn thông tin đáng tin cậy, hoặc giống như trình thuật của các sách “Danh
sơn tàng” và “Minh văn hải”, cho rằng đây là một bằng chứng thuyết phục về
không khí xã hội lúc bấy giờ đối với sự kiện Minh Thành Tổ soán ngôi cháu mình
là Kiến Văn đế cũng như nền cai trị có phần chuyên chế của ông.
1. Bối cảnh
Trong truyền thống xã
hội Trung Quốc lúc bấy giờ, việc “thê tỉ muội hôn”, tức là chị chết thì em gái
thay chị kế hôn, lấy anh rể được coi là không vi phạm chuẩn mực đạo đức. Xét
các đời đế vương của Trung Quốc cũng có những ví dụ như vậy, chẳng hạn như hai
hoàng hậu Đại Chu hậu, Tiểu Chu hậu của Nam Đường Hậu chủ hay chuyện Chu Thế
Tông có vợ là Phù hoàng hậu chết, sau lại lập em gái là Tiểu Phù thị làm hoàng
hậu thời Ngũ đại. Dĩ nhiên, cuộc hôn nhân được sự chấp thuận của bậc cha mẹ, vốn
là nguyên tắc bất di bất dịch, thì cũng sẽ được xã hội thừa nhận.
a. Về gia đình của Từ Đạt
![]() |
| Nhân Hiếu Văn hoàng hậu Từ thị, tranh chân dung lưu trữ tại Bảo tàng Cố cung Quốc lập ở Đài Loan. Nguồn ảnh: Wikimedia Commons |
“Từ Đạt truyện” của bộ
“Minh sử” có chép Từ Đạt sinh được bốn người con trai: Từ Huy Tổ, Từ Thiêm
Phúc, Từ Ưng Tự và Từ Tăng Thọ. Con gái bao gồm trưởng nữ Từ hoàng hậu, thứ đến
là vương phi của Đại vương Chu Quế (con trai thứ mười ba của Minh Thái Tổ), rồi
vương phi của An vương Chu Doanh (con trai thứ hai mươi hai của Minh Thái Tổ).
Từ Đạt qua đời năm 1385, được Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đích thân soạn văn
bia thần đạo để ca ngợi công lao, trong đó có nói gia đình ông bao gồm bốn người
con trai và bốn người con gái. Tuy nhiên “Minh sử” vốn là bộ chính sử được công
nhận rộng rãi lại bỏ sót người con gái út này, không hề ghi chép gì. Về mẹ đẻ của
bốn con trai và bốn con gái của Từ Đạt, căn cứ vào sách “Minh thực lục” chỉ cho
biết, Tạ phu nhân sinh Từ hoàng hậu và Từ Tăng Thọ. Lại căn cứ vào mộ chí của Từ
Ưng Tự cho biết mẹ đẻ ông này là vợ lẽ của Từ Đạt là Tôn thị, đồng thời gọi Tạ
phu nhân là đích mẫu (mẹ cả, vợ cả của người cha). Bên cạnh đó, mộ chí của Từ
Hiển Long là cháu nội Từ Ưng Tự cũng một lần nữa xác nhận mẹ đẻ Từ Ưng Tự là
Tôn thị. Về vấn đề mẹ đẻ của Từ Huy Tổ thì vẫn còn tranh cãi. Có thuyết cho rằng
đó là Tạ phu nhân, song có thuyết lại phản bác vì cho rằng quan hệ giữa Từ Huy
Tổ và Từ hoàng hậu vốn không thuận hòa. Có thuyết lại căn cứ vào “Minh thực lục”
mà suy đoán đó là một vị phu nhân mang họ Giả, vì trong nguyên văn có nói Giả
phu nhân là “Trung Sơn Vũ Ninh vương phu nhân” (Từ Đạt được ân phong tước Trung
Sơn vương, tên thụy là Vũ Ninh), như vậy giả sử vị Giả phu nhân này là người vợ
đầu tiên của Từ Đạt thì lại mâu thuẫn với dữ liệu nhận được từ mộ chí của Từ
Ưng Tự.
Trong lịch sử, Minh
Thái Tổ cùng với gia đình Từ Đạt có quan hệ mật thiết. Bốn người con trai của
ông đều do Thái Tổ ban tên, ba con gái đều được gả cho các con trai của Thái Tổ.
Con trai thứ tư của Thái Tổ là Yên vương Chu Đệ (tức Minh Thành Tổ sau này) lấy
con gái cả Từ Đạt, sách phong Yên vương phi vào năm Hồng Vũ thứ chín (1376).
Sau khi Từ Đạt qua đời, đến năm Hồng Vũ thứ hai mươi tư (1391) tháng chín ngày
Bính Ngọ sách phong con gái thứ hai của Từ Đạt làm Đại vương phi cho con trai
thứ mười ba của Thái Tổ là Chu Quế, cùng năm đó lại phong con gái nhà Từ Đạt
làm An vương phi cho con trai thứ hai mươi hai là Chu Doanh, khi đó Chu Doanh mới
gần tám tuổi. Không rõ vợ Từ Đạt là Tạ phu nhân qua đời vào thời điểm nào, có lẽ
là khoảng gần năm Hồng Vũ thứ hai mươi (1387), triều đình truy phong bà là
Trung Sơn Vũ Ninh vương phu nhân.
b. Minh Thành Tổ
Năm đầu tiên niên hiệu
Kiến Văn (1399), Yên vương Chu Đệ khởi binh đối nghịch với hoàng đế lúc bấy giờ
là Kiến Văn đế Chu Doãn Văn, hoàng trưởng tôn của Minh Thái Tổ theo di chiếu
lên ngôi, sự kiện đó được gọi là “Tĩnh Nạn chi dịch”. Ba năm sau, Chu Đệ đoạt
được ngôi hoàng đế, tức là Minh Thành Tổ. Sau khi lên ngôi ông liền lập Yên
vương phi Từ thị làm hoàng hậu. Suốt thời gian ở ngôi, Từ hoàng hậu có tiếng là
người hiền đức. Sau Tĩnh Nạn chi dịch, Thành Tổ ra lệnh giết hại và bài xích
các đại thần thời Kiến Văn cùng gia quyến của họ, tới năm 1407, Từ hoàng hậu
băng thệ, căn cứ theo ghi chép của Triều Tiên, Thành Tổ vì bị đả kích sâu sắc
mà lại tiến hành giết hại nhiều phi tần và cung nữ trong hậu cung.
2. Các dị bản của giai
thoại
a. Theo hướng Tạ phu nhân
cự hôn
Những năm Gia Tĩnh thời
Minh Thế Tông, sách “Kim ngôn” của học giả Trịnh Hiểu (4) và một thời
gian ngắn sau có thêm sách “Kim Lăng tỏa sự” của Chu Huy, đều ghi lại câu chuyện
Tạ phu nhân cự hôn, về nội dung đại thể tương đồng với nhau. Sách của Trịnh Hiểu
cũng như các trước tác khác cùng thời kì đều nói bốn con trai và bốn con gái của
Từ Đạt là do Tạ phu nhân sinh ra. Còn trong thực tế vào năm 1980 dựa trên những
bằng chứng khảo cổ thu thập được, như trên đã nói, lại cho thấy mẹ đẻ của Từ
Ưng Tự không phải là Tạ phu nhân. Trong sách của Trịnh Hiểu và Chu Huy (5),
có nói con gái thứ tư của Từ Đạt xuất gia theo Phật môn, ngụ ở ngoài cửa Tụ Bảo,
cửa chính nam của nội thành Nam Kinh và cửa Phượng Đài là cửa vào ngoại thành
Nam Kinh, như vậy đều là ở một nơi không gần so với tường thành bao bọc Nam
Kinh.
Theo sách “Yểm Sơn đường
biệt tập” của Vương Thế Trinh những năm Vạn Lịch thời Minh Thần Tông, ông đưa
ra ý kiến phản bác: Năm Hồng Vũ thứ hai mươi đã truy phong Tạ phu nhân, đủ biết
là bà đã qua đời từ sớm, vậy sao còn đợi tới lúc sau khi Từ hoàng hậu băng thệ
mà có chuyện cự tuyệt Minh Thành Tổ. Từ lúc Từ Đạt qua đời cho tới khi Từ hoàng
hậu băng là hai mươi ba năm, sao có thể kịp sinh ra thêm một người con gái tới
tuổi cập kê, hoàn toàn không thể có thêm chuyện người đó ít tuổi đã xuất gia, rồi
[Thành Tổ] lập người đó làm hoàng hậu được.
Dưới đây là ghi chép của
câu chuyện trong các sách của Trịnh Hiểu và Chu Huy:
Trung Sơn vương ban
đầu có phu nhân họ Trương, kế đó là phu nhân họ Tạ. Vương dẫn đại quân về triều,
Hiếu lăng (6) mới dụ vương rằng: “Phu nhân của khanh thường
có tật đánh đòn người ta đến chết, chẳng đáng để nâng khăn sửa túi cho khanh,
nay trẫm vì khanh mà ban cho một người tốt để làm vợ”. Ấy chính là Tạ phu nhân
vậy. Tạ phu nhân sinh được bốn con trai và bốn con gái. Con gái cả tức Nhân Hiếu
hoàng hậu, thứ đến là Đại vương phi, An vương phi, thứ nữa còn một người chưa kết
hôn. Năm Đinh Hợi niên hiệu Vĩnh Lạc, Nhân Hiếu hoàng hậu băng, Trường lăng (7) dụ Tạ phu nhân: “Trẫm muốn lập quý nữ của phu nhân kế ngôi trung cung”.
Phu nhân đáp rằng: “Con gái thiếp không thể cùng thánh cung kết hôn được”. Trường
lăng mới hỏi: “Con gái phu nhân không thể theo trẫm, chắc hẳn đã chọn được người
nào làm rể chăng?” Phu nhân đáp: “Con gái thiếp không dám ước định cùng người
thường là vì đã xuất gia theo Phật, làm ni ở ngoài cửa Tụ Bảo thành Nam Kinh,
nơi ấy gọi là am của một vị ni cô họ Vương vậy”. Đến những năm Gia Tĩnh, Hoắc
Văn Mẫn công (8) làm Lễ bộ thượng thư, mới bác bỏ chuyện đó.
(Trịnh Hiểu – Kim
ngôn, quyển thứ hai, thiên 175)
Kế phu nhân Trung
Sơn vương, họ Tạ, sinh được bốn người con gái. [Con gái] cả tức Nhân Hiếu hoàng
hậu, thứ đến là Đại vương phi, An vương phi. Lại thứ đến một người chưa kết hôn.
Năm Đinh Hợi niên hiệu Vĩnh Lạc, Nhân Hiếu hoàng hậu băng, Trường lăng dụ Tạ
phu nhân: “Trẫm muốn lập quý nữ của phu nhân kế ngôi trung cung”. Phu nhân đáp:
”Con gái thiếp không thể cùng thánh cung kết hôn được”. Trường lăng mới hỏi:
“Con gái phu nhân không thể theo trẫm, chắc hẳn đã chọn được người nào làm rể
chăng?” Phu nhân đáp: “Con gái thiếp không dám ước định cùng người thường là vì
đã xuất gia theo Phật, làm ni ở am của một vị ni cô họ Vương, bên ngoài cửa Phượng
Đài vậy. Phía sau am có một giống tre lạ cao đến một trượng.
(Chu Huy – Kim Lăng tỏa sự, quyển thứ nhất)
b. Theo hướng Từ Diệu Cẩm
cự hôn
![]() |
| Tạo hình nhân vật Từ Diệu Cẩm do nữ diễn viên Dương Hật Tử 楊肸子 thể hiện trong bộ phim truyền hình Sơn hà nguyệt minh 山河月明, công chiếu năm 2022 |
Các sách “Danh sơn
tàng” và “Minh văn hải” là các tác phẩm xếp vào thể loại bút ký tư nhân. Câu
chuyện về nhân vật Từ Diệu Cẩm trong “Danh sơn tàng” không phải do tác giả Hà
Kiều Viễn tự thuật, nên cũng không được tường tận. Còn ghi chép câu chuyện về Từ
Diệu Cẩm trong “Minh văn hải” được tác giả nêu rõ do Hoàng Tá (9) ghi lại.
Trong tác phẩm “Cách trừ di sự” của Hoàng Tá có truyện về Từ Diệu Cẩm, song
nguyên văn đã bị thất truyền. Sách “Minh văn hải” cho biết thêm, sự tích về Từ
Diệu Cẩm được Hoàng Tá truyền lại cho cháu đời thứ tư của Từ Huy Tổ là Từ Thiên
Tứ, và có trong những ghi chép về mộ chí của Từ Diệu Cẩm bên trong văn tập của
Trần Liễn (10). Các ghi chép này có giải thích về nguyên nhân không có
nguyện vọng kết hôn của nhân vật Từ Diệu Cẩm, vốn là do chịu ảnh hưởng từ việc
một trong những người anh rể của bà là Đại vương Chu Quế bị kết tội trong những
năm cuối thời Hồng Vũ (11), và em gái của bà sau bị đem gả cho An vương
Chu Doanh mà ra. Trên thực tế căn cứ vào sử liệu, con gái Từ Đạt được sách lập
làm An vương phi vào tám năm trước khi Chu Quế chịu biến cố, tức là vào năm Hồng
Vũ thứ hai mươi tư (1391). Sách “Danh sơn tàng” thì chỉ nói nguyên nhân Từ Diệu
Cẩm không muốn kết hôn đến từ việc người chị bà là Đại vương phi bị liên lụy
theo chồng vào năm đầu tiên của niên hiệu Kiến Văn (1399).
Đến khi Minh Nhân Tông
lên ngôi, đổi niên hiệu thành Hồng Hi, hậu duệ của gia đình Từ Đạt vào kinh tạ
ơn. Con dâu của Từ Huy Tổ tức vợ của con trai ông là Từ Khâm, tên là Hà Diệu
Liên mới “hầu cô mình là thái phu nhân bái tạ ân mệnh dưới cửa khuyết”, Minh
Nhân Tông bèn “xuống chỉ, ban cho được dùng ngự yến, ngự tửu, lại cấp cho vàng
lụa”, rồi “sai đưa về Nam Kinh”. Các tác giả đương đại căn cứ vào ghi chép về
việc Tạ phu nhân cự hôn trong sách “Kim ngôn”, lại thêm trình thuật của Hoàng
Tá, dẫn đến sự xác nhận nhân vật Từ Diệu Cẩm là có thật, mới đặt vị “cô thái
phu nhân” này, tức vào vai cô đối với con cái của Từ Huy Tổ, chính là Từ Diệu Cẩm.
Các ghi chép trên cũng
cho biết thêm, mẹ đẻ của nhân vật Từ Diệu Cẩm là một vị phu nhân của Từ Đạt
mang họ Giả, như vậy là tương đối gần với ghi chép của sách “Anh Tông thực lục”
trong bộ “Minh thực lục”, theo đó có nói Giả thị là bà cụ nội của Từ Hiển Tông
(con trai Từ Khâm, cháu bốn đời Từ Đạt) và là phu nhân của Trung Sơn vương, như
vậy có thể tạm thời suy ra Giả thị chính là mẹ đẻ của Từ Huy Tổ. Song cho dù Giả
thị có là người vợ đầu tiên của Từ Đạt hay là người được triều đình truy phong
là Trung Sơn vương phu nhân, thì những sử liệu về nhân vật này vẫn đang mâu thuẫn
với nhau.
Dưới đây là ghi chép của
các sách “Danh sơn tàng” và “Minh văn hải” về nhân vật Từ Diệu Cẩm:
Từ Diệu Cẩm là con
gái của Trung Sơn vương Đạt. Các con gái của Trung Sơn, cả là Nhân Hiếu hoàng hậu,
thứ hai là Đại vương phi, thứ ba là An vương phi, đều rất tôn quý vậy. Trong số
các chị em, chỉ có một mình Diệu Cẩm là người không có ý muốn kết hôn. Có lẽ dường
như vì việc Đại vương phi chịu nạn trong những năm Kiến Văn mà thành ra như vậy.
Nhân Hiếu hoàng hậu băng, lúc đó Diệu Cẩm được hai mươi tám tuổi. Thành Tổ nghe
tiếng hiền đức, muốn lấy mà lập làm hoàng hậu, Diệu Cẩm không đồng ý. Nội sứ và
nữ quan trong cung nhiều lần tới phủ đệ tuyên dụ thánh ý, tới tận lúc nữ quan
phục xuống trước giường, Diệu Cẩm ôm lấy chăn mà than dài, ung dung chỉ mặt mà
nói rằng mặt mình bị sẹo do đậu mùa, không thể phục mệnh. Đám nữ quan ngẩng đầu,
nhìn lên rồi tuyên lại thánh ý, nói rằng dung mạo sáng trong như ngọc, sao có
thể nói là bị sẹo. Diệu Cẩm mới vạch mặt ra chỉ cho họ thấy vết lốm đốm trên mặt
mình. Nữ quan đi rồi, bèn gọt tóc làm ni. Văn miếu (12) sau đó rốt cục cũng không còn lập hậu nữa. Năm đầu niên hiệu Hồng Hi, [Diệu
Cẩm] mới nuôi tóc dài trở lại như xưa. Trương hoàng hậu của Nhân Tông từ lúc
còn làm Đông cung phi (13), nghe chuyện của Diệu Cẩm, rất lấy làm thán phục.
Năm đầu niên hiệu Tuyên Đức, [Trương] hoàng hậu trở thành hoàng thái hậu, nói rằng
muốn tới [chỗ của Diệu Cẩm] để làm cho trọn lễ, dùng lễ của công chúa để đối đãi.
Đến khi vua biết, xét thấy [Diệu Cẩm] là bên ngoại của hoàng tộc, tình cảm thân
thiết, nên rất ủng hộ. Diệu Cẩm nói mình là con gái thứ ba của Từ Đạt, lễ bái nghiêm
cẩn ôn nhu, cử chỉ tiến thoái cũng rất mực khiêm cung. Người trong cung đều bàn
tán về chuyện khi xưa bà từ chối không làm hoàng hậu. Hoàng thái hậu ban lễ hậu
ân tứ, lại đặc biệt cho phép bà ở lại phủ đệ cũ tại Xương đô (14).
(Hà Kiều Viễn – Danh
sơn tàng, quyển thứ tám mươi tám: Liệt nữ kí, phần thứ nhất)
Diệu Cẩm vốn họ Từ,
tổ tiên là người đất Phượng Dương. Cha là Trung Sơn Vũ Ninh vương Đạt, là bậc
khai quốc nguyên huân, mẹ là phu nhân họ Giả. Diệu Cẩm sớm tiếp thu phép tắc,
tính tình lại đoan trang điềm tĩnh, tuy sinh trưởng ở nhà vương công, mà vẫn giữ
lễ ôn nhu, ít khi cười nói. Chị cả gả cho Yên vương, sau chính vị ngôi trung
cung, đó là Nhân Hiếu Văn hoàng hậu. Chị thứ là Đại vương phi, cuối những năm Hồng
Vũ các phiên vương không yên, nên Đại vương bị phế. Diệu Cẩm bèn thắp hương khấn
trời, thề không chịu lấy chồng nữa, rồi trai giới giữ tâm thanh tịnh mà thờ Phật,
cho là mọi sự không gì bằng việc Phật, từ đó trở đi gặp các tông thất phiên
vương tới cầu hôn đều tạ từ mà cự tuyệt. [Bà] có em gái tới tuổi cập kê, được
đem gả cho An vương làm vương phi. Tới khi Nhân Hiếu Văn hoàng hậu băng, Diệu Cẩm
được hai mươi tám tuổi. Văn miếu nghe tiếng Diệu Cẩm đã đẹp lại còn hiền đức,
muốn lấy để lập làm hoàng hậu. Bèn sai nội sứ cùng sáu viên thượng nữ quan đến
dụ, để phòng việc Diệu Cẩm cáo bệnh từ chối mà trốn tránh không ra. Người nhà lại
tới khuyên nhủ, nên vào triều chịu mệnh nhưng bà đều không nghe theo. Nữ quan lại
túc trực bên giường, Diệu Cẩm ôm chăn mà than dài. Nội sứ rời khuất khỏi cửa sổ
phòng đã lâu, nhưng đám nữ quan vẫn khấu đầu nài xin. Bất đắc dĩ bà mới từ từ
trở dậy, tự lấy tay chỉ mặt mình, nói ta vốn nguyện cả đời không lấy chồng, há
có thể thay lòng đổi dạ hay sao, mặt khác dung mạo ta đã xấu lại sần sùi sứt sẹo,
không phải là dung mạo thường có của đàn bà vậy. Đám nữ quan đều xúm lại quỳ xuống,
ngẩng đầu lên nhìn hồi lâu, rồi dâng lời rằng, tôn mạo người sáng trong như ngọc,
nào có sần sùi gì, đó là người khiêm nhường nên mới thoái thác như thế. Diệu Cẩm
liền vạch mặt ra chỉ cho họ thấy, trên mặt đều lốm đốm, nên phải phòng ngừa, há
lại còn không sần sùi sao. Đám nữ quan liền lui ra, cùng với nội sứ trở về cung
phục mệnh. Diệu Cẩm sau đó cắt tóc làm ni, sớm khuya vọng về hư không mà lễ Phật,
chưa từng một ngày trễ nải. Văn miếu nghe vậy rốt cục bỏ trống ngôi trung cung,
không còn sách lập ai nữa. [Nhân Tông] đổi niên hiệu Hồng Hi, Diệu Cẩm mới nuôi
tóc dài trở lại mà chịu mệnh. Năm đầu niên hiệu Tuyên Đức, dâng tôn hiệu cho
hoàng hậu của Nhân Tông là Trương thị là hoàng thái hậu. Hoàng thái hậu từ lúc
còn là Đông phi (15), nghe được chuyện cũ trong cung cấm, cảm phục
tiết hạnh cao khiết của bà, thường luôn khen ngợi là xưa nay hiếm có, tới đây mới
truyền lệnh xuống tới Tuyên Tông, muốn một lần đến gặp bà. Vì vậy mà vua sai hoạn
quan đem mệnh đi về lưu đô (16), triệu Diệu Cẩm tới Bắc Kinh, để bày tỏ cái
tình nghĩa gắn bó với nhà ngoại. Lệnh cho hữu ty những người thực hiện đi thuyền
tới, mang theo đồ ăn thức uống ngự dụng để tiếp đãi, theo lễ của công chúa, lại
sai nội sứ đi theo bảo vệ dọc đường, tới lúc rước vào trong cung. Khi gặp [Diệu
Cẩm] nói mình là con gái thứ ba của Từ Đạt, hành lễ bái đều kính cẩn khiêm nhã.
Từ hoàng thái hậu tới dưới đều lấy làm tôn kính. Mỗi ngày bà đều vào cung từ
sáng sớm, ra khỏi cung lúc tối, có lúc không biết là tối, trong vài ngày, cử chỉ
tiến thoái đều thập phần gìn giữ, không bỏ sót bước nào. Hậu cung gặp bà, không
ai là không cung kính, đều xôn xao chuyện trước kia bà từ chối không làm hoàng
hậu. Bà được đặc ban các thứ vàng lụa, phẩm phục, hưởng ưu dưỡng lúc tuổi già,
[Tuyên Tông] lại sai nội sứ hộ tống bà về phủ đệ cũ ở lưu đô. Tháng giêng năm
Canh Thân niên hiệu Chính Thống, bà qua đời, thọ sáu mươi mốt tuổi, phụ táng
vào khu mộ phần của tiên tổ ở núi Chung. Tôi có biết rõ về gương tiết tháo của
bà từ ông Từ Thiên Tứ đang làm chức huân vệ (17), ông rất thương tiếc [bà Diệu Cẩm] mà không thể trọn nghĩa tưởng nhớ. Đến
nay gặp lúc xem văn tập ông Trần Liễn nói về mộ chí [của bà Diệu Cẩm], xét thấy đại
lược trước sau, quả nhiên tương hợp với những câu chuyện của ông Thiên Tứ. Ông
Thiên Tứ vốn là cháu bốn đời của anh cả bà Diệu Cẩm, tức Ngụy quốc công Từ Huy
Tổ vậy.
Thái sử thị (18) nói, sách vở có nhắc chuyện “Nhị nữ li giáng” (19), như thế theo lễ thiên tử có thể kết hôn với nhiều nữ nhân. Ví phỏng bà
Diệu Cẩm lúc bấy giờ kế tiếp chị cả mà chính vị trung cung, như thế vẫn hợp lễ.
Đương nhiên việc ấy xét ra không đủ để xem là phạm lễ mà phải kiêng tránh, song
câu chuyện của bà cũng rất đáng gọi là tiết tháo lắm. Người đời thường nói
Quang Vũ không thể khuất phục được Tử Lăng, vì Tử Lăng cũng chỉ xem lễ vua cũng
như tấm áo da dê mà thôi (20), còn Hoàng Phủ Sĩ An (21) dù bị tật ở mặt mà vẫn rạng khí tiết không theo lệnh vua truyền gọi bậc ẩn sĩ. Than ôi! Kẻ trượng phu ở đời gắng gỏi cầu người hiền, uốn gối cúi đầu,
chỉ sợ không đủ vinh hiển để nên tiếng tốt, tích xưa Tử Lăng tự cao như thế cũng
vì vua tôi đàm luận với nhau mà ra cả. Dù cho trung cung giữ vị trí tương đương
với hoàng đế, cùng làm chủ thiên hạ, nhưng đại thể đạo thờ vua vẫn không hề
thay đổi. Việc bà Diệu Cẩm kiên quyết giữ chữ trinh đến cùng, Văn hoàng đế rốt
cục cũng không vì thế mà ép buộc, đó đều là việc lưu lại đức tốt vậy. Ô hô! Thịnh
thay!
(Hoàng Tông Hi dẫn
theo ghi chép của Hoàng Tá – Minh văn hải, quyển thứ bốn trăm mười ba)
Chú thích:
(1) Vương Thế Trinh (王世貞, 1526-1590), đỗ Tiến sĩ xuất thân (hay Hoàng giáp) khoa thi năm Đinh Mùi,
Minh Thế Tông Gia Tĩnh năm thứ 26. Làm quan tới chức Nam Kinh Hình bộ thượng thư,
mất năm Vạn Lịch thứ 18 thời Minh Thần Tông, được truy tặng hàm Thái tử thiếu bảo.
Một số tác phẩm bao gồm: Quốc triều kỉ yếu, Thiên ngôn hối lục, Yểm
Sơn đường biệt tập, Danh khanh kỉ tích, Minh dã sử hối, Nghệ
uyển chi ngôn,…Một số học giả cho rằng tác giả Lan Lăng Tiếu Tiếu Sinh của bộ
tiểu thuyết Kim Bình Mai chính là Vương Thế Trinh.
(2) Hà Kiều Viễn (何喬遠, 1558-1632), đỗ Đồng tiến sĩ xuất thân khoa thi năm Bính Tuất, Minh Thần
Tông Vạn Lịch năm thứ 14. Làm quan tới chức Nam Kinh Công bộ thượng thư, mất năm
Sùng Trinh thứ 4 thời Minh Tư Tông, truy tặng Công bộ thượng thư. Một số tác phẩm
bao gồm: Mân thư, Danh sơn tàng, Hoàng Minh văn trưng,…
(3) Hoàng Tông Hi (黃宗羲, 1610-1695), học giả và là nhà tư tưởng lớn giai đoạn cuối Minh đầu Thanh,
cùng với Cố Viêm Vũ, Vương Phu Chi được gọi là “Minh mạt tam đại nho”. Sống qua
các thời kì Minh Sùng Trinh, Thanh Thuận Trị, Thanh Khang Hi. Quân Thanh nam hạ,
ông từng tự tổ chức lực lượng vũ trang ở địa phương để chống lại, việc hỏng, ông
bỏ đi ẩn cư, chuyên tâm nghiên cứu và dạy học. Khang Hi nhiều lần mời ông ra hợp
tác, nhưng ông nhất quyết khước từ. Ông mất vào năm Khang Hi thứ 34, thọ 84 tuổi.
Các tác phẩm nổi bật bao gồm: Minh nho học án, Tống Nguyên học án,
Minh di đãi phỏng lục, Minh văn hải,…
(4) Trịnh Hiểu (鄭曉, 1499-1566), đỗ Tiến sĩ xuất thân (hay Hoàng giáp) khoa thi năm Quý Mùi,
Minh Thế Tông Gia Tĩnh năm thứ 2, làm quan tới chức Hình bộ thượng thư, vì đắc
tội với quyền thần Nghiêm Tung nên bị cách chức. Mất năm Gia Tĩnh thứ 46, truy
tặng hàm Thái tử thiếu bảo, thụy là Đoan Giản. Tác phẩm gồm có: Ngô học thiên,
Trưng ngô lục, Cổ ngôn, Kim ngôn.
(5) Chu Huy (周暉,sinh 1546, không rõ năm mất), nhà văn đời Minh, người Thượng Nguyên (nay
thuộc Nam Kinh), có học vấn sâu rộng, nhưng không xuất sĩ làm quan. Áng chừng năm
mất của ông rơi vào năm cuối niên hiệu Thiên Khải của Minh Hi Tông, hoặc đầu năm
Sùng Trinh của Minh Tư Tông (khoảng 1627 hoặc 1628). Tác phẩm có các sách Kim
Lăng cựu sự, Kim Lăng tỏa sự.
(6) Hiếu lăng: chỉ Minh Thái
Tổ. Vì lăng của Minh Thái Tổ gọi là Hiếu lăng, nay nằm trên núi Tử Kim sơn (xưa
gọi là Chung sơn), thành phố Nam Kinh. Khu mộ của gia đình Từ Đạt, bao gồm cả vị
trí phỏng đoán của mộ chí nhân vật Từ Diệu Cẩm cũng nằm trên núi này.
(7) Trường lăng: chỉ Minh Thành
Tổ. Vì lăng của Minh Thành Tổ gọi là Trường lăng, nay nằm trong quần thể 13 lăng
vua nhà Minh, dưới chân núi Thiên Thọ, quận Xương Bình, thành phố Bắc Kinh.
(8) Hoắc Văn Mẫn công: tức Hoắc Thao (霍韜,1487-1540), đỗ đầu đệ nhị giáp (Tiến sĩ xuất thân, ta quen gọi là Hoàng giáp) khoa thi Giáp Tuất, Minh Vũ Tông Chính Đức năm thứ 9, làm quan tới chức Lễ bộ thượng thư, hàm Thái tử thiếu bảo. Mất năm Gia Tĩnh thứ 19 thời Minh Thế Tông khi đương nhiệm, truy tặng hàm Thái tử thái bảo, thụy là Văn Mẫn. Di cảo bao gồm: Vị Nhai tập, Vị Nhai gia huấn, Tây Hán bút bình.
(9) Hoàng Tá (黃佐,1490-1566), đỗ Tiến sĩ xuất thân (hay Hoàng giáp) khoa thi Tân Tị, Minh Vũ Tông Chính Đức năm thứ 16, từng làm các chức vụ: Nam Kinh Hàn lâm viện biên tu kiêm Chiêm sự phủ ti gián, Giang Tây thiêm sự, Quảng Tây đốc học, cuối đời do bất đồng với đại học sĩ Hạ Ngôn nên từ quan, sau mất năm Gia Tĩnh thứ 46 thời Minh Thế Tông, truy tặng Lễ bộ hữu thị lang, thụy là Văn Dụ. Di cảo về văn gồm có: Quảng Đông thông chí, Thái Tuyền hương lễ, Thi truyện thông giải, Tục Xuân thu minh kinh, Tiểu học cổ huấn,…; về thơ có tập Nam chinh từ.
(10) Trần Liễn (陳璉,1369-1454), quan viên nhà Minh, quê quán huyện Đông Quản, Quảng Châu phủ, Quảng Đông, đỗ cử nhân năm Hồng Vũ thứ 23 thời Minh Thái Tổ, được bổ làm Quế Lâm giáo thụ, sau đó trải qua các chức vụ: Quốc tử giám trợ giáo; Hứa Châu, Trừ Châu tri châu; Dương Châu tri phủ chưởng Trừ Châu sự; Tứ Xuyên án sát sứ; Nam Kinh thông chính sứ chưởng Quốc tử giám sự; Lễ bộ tả thị lang. Minh Anh Tông Chính Thống năm thứ 6, ông từ quan về trí sĩ, sau mất năm Cảnh Thái thứ 5 thời Đại Tông. Di cảo gồm có: Cầm Hiên tập, Quy điền cảo. Sách “Cầm Hiên tập” phần “Trung Sơn Vũ Ninh vương đệ tam nữ Từ thị khoáng minh” (Bài minh trên mộ con gái thứ ba Từ thị của Trung Sơn Vũ Ninh vương) được cho là có ghi chép về hành trạng của nhân vật Từ Diệu Cẩm.
(11) Những năm cuối đời Hồng Vũ: Ám chỉ giai đoạn Kiến Văn, bởi sau khi Minh Thành Tổ lên ngôi đã phế trừ niên hiệu Kiến Văn, bốn năm dùng niên hiệu này đổi thành các năm Hồng Vũ thứ 32, 33, 34, 35, nên sách vở sau này phải dùng cách nói như vậy. Theo sử liệu cho biết, Đại vương Chu Quế vào năm đầu Kiến Văn (1399) bị Kiến Văn đế phế làm thứ nhân.
(12) Văn miếu: Chỉ Minh Thành Tổ,
do có thụy hiệu là Văn hoàng đế.
(13) Đông cung phi: Tức là thái
tử phi.
(14) Xương đô: chưa khảo được,
có lẽ là một sự nhầm lẫn với Nam đô (kinh đô phía nam) hoặc lưu đô
(kinh đô dự bị). Trong văn cảnh này thì ở đây chỉ Nam Kinh, kinh đô dự bị của
nhà Minh sau khi triều đình dời về Bắc Kinh.
(15) Đông phi: Có lẽ là viết tắt
từ Đông cung phi, tức thái tử phi.
(16) Lưu đô: Kinh đô dự bị, chỉ
Nam Kinh.
(17) Huân vệ: Từ Thiên Tứ là
con cháu công thần nên được triều đình ban chức vụ trong Cẩm y vệ. Căn cứ theo "Minh thực lục" - "Đại Minh Thế Tông Túc hoàng đế thực lục" - quyển 293:
(18) Thái sử thị: Do Tư Mã Thiên
khi viết lời bình cho bộ Sử kí thường dùng cụm từ “Thái sử công bàn rằng…”, do đó
đời sau thường mượn chữ “Thái sử”, “Thái sử thị” để chỉ lời Tư Mã Thiên, hoặc câu
từ trong tác phẩm Sử kí của ông.
(19) Nhị nữ li giáng: Thời thượng
cổ, vua Nghiêu tuổi già muốn truyền ngôi, thấy ông Thuấn là người hiền liền gả hai
người con gái là Nga Hoàng và Nữ Anh, sau truyền ngôi cho Thuấn. Thuấn truyền
ngôi cho Đại Vũ, sau đến đất Thương Ngô mà mất ở bờ sông Tương. Truyền thuyết nói
hai bà an táng cho chồng xong, khóc bên mộ mất bảy ngày bảy đêm, rồi trầm mình
xuống sông để theo chồng. Trong văn học, chữ “li giáng” 厘降 trở thành một điển tích
chỉ việc con gái nhà vua hạ giá.
(20) Tử Lăng: Nghiêm Quang 嚴光, tự là Tử Lăng 子陵, người thời Đông Hán, nguyên có họ là Trang sau kị húy Hán Minh đế mà đổi
sang họ Nghiêm. Tử Lăng vốn là bạn học với Hán Quang Vũ đế thuở hàn vi, cuối thời
Tây Hán loạn lạc mà tránh đi ẩn dật. Đến khi Quang Vũ đế lên ngôi, có người đất
Tề báo với vua: “Có kẻ khoác áo da dê ngồi câu cá trong đầm”, vua nhớ ra, cho vời
Tử Lăng vào cung hàn huyên, tối đến nằm ngủ cùng một giường. Tử Lăng lúc ngủ gác
chân lên người Quang Vũ đế, sáng hôm sau viên thái sử có nói: “Đêm qua có khách
tinh phạm vào sao Đế tọa thực là gấp lắm” (Khách tinh tức là sao lạ, mà cũng ám
chỉ người lạ; Đế tọa là tên gọi sao Alpha Herculis nằm trong chòm Vũ Tiên, người
Trung quốc xưa quan niệm sao đó là biểu thị cho tính mạng nhà vua). Quang Vũ đế
chỉ cười mà bảo: “Ấy là bạn cũ Nghiêm Tử Lăng của trẫm cùng nằm ngủ đó thôi”. Về
sau Quang Vũ đế nhiều lần cho triệu Tử Lăng mà ông đều không đến cho tới lúc chết.
Ý tác giả dùng điển này muốn nói: Nhà vua vì một tấm áo da dê mà nhớ tới kẻ ẩn
sĩ, nhưng đối với họ chỉ là tấm áo khoác ngoài, khoác được cũng có thể cởi được.
(21) Hoàng Phủ Mịch (皇甫谧,215-282), tự là Sĩ An 士安, người thời Tây Tấn, là hậu duệ gia đình Hoàng Phủ rất hiển quý vào thời
Đông Hán, song tới thời ông lại sa sút, tướng mạo lại xấu xí nên chỉ lo trau dồi
học vấn, Tấn Vũ đế mấy lần hạ chiếu cho vời, ông đều khước từ, đến hết đời cũng
không ra làm quan.
Bài viết được chuyển ngữ từ đường dẫn: https://zh.wikipedia.org/wiki/%E8%B0%A2%E5%A4%AB%E4%BA%BA%E6%8B%92%E5%AB%81%E5%A5%B3%E6%98%8E%E6%88%90%E7%A5%96. Vui lòng không tự sử dụng lại khi chưa có sự đồng ý của người dịch!




Nhận xét
Đăng nhận xét