Hậu Kim chinh phục Sát Cáp Nhĩ
“Hậu Kim chinh phục Sát Cáp Nhĩ” là cuộc chiến tranh nổ ra giữa nhà nước Hậu Kim do dân tộc Nữ Chân kiến lập với bộ tộc Sát Cáp Nhĩ (Chahar) vốn đang nắm quyền bá chủ ở Mông Cổ vào đầu thế kỉ XVII. Hệ quả của cuộc chiến tranh này là toàn bộ lãnh thổ của bộ tộc Sát Cáp Nhĩ kiểm soát ở Mạc Nam Mông Cổ (nay thuộc khu tự trị Nội Mông Cổ, Trung Quốc) nhập vào bản đồ Hậu Kim, làm thất bại ý chí khôi phục đế quốc Mông Cổ trong quá khứ, đồng thời gây chấn động lớn đến các bộ tộc Mông Cổ ở khu vực Mạc Bắc (nay là nước Mông Cổ hiện đại) là Khách Nhĩ Khách (Khalkha) và liên minh bốn bộ tộc Vệ Lạp Đặc (Oirad) (1), có tầm ảnh hưởng quan trọng tới sự thành lập nhà Thanh và các vấn đề nội trị lẫn ngoại trị của nhà Thanh sơ kì.
![]() |
| Cương vực của Hậu Kim (phần biên giới màu tím) vào khoảng năm 1635, trước khi đổi tên thành Đại Thanh |
Nguyên nhân
Dân tộc Nữ Chân và các
bộ tộc Mạc Nam Mông Cổ có mối liên hệ mật thiết với nhau, theo đó các bộ tộc Nữ
Chân thường thông hôn qua lại với các bộ tộc Khoa Nhĩ Thấm (Khorchin) vốn có vị
trí địa lí gần gũi hơn cả. Quý tộc Nữ Chân vào cuối thời nhà Minh cũng sử dụng
văn tự Mông Cổ một cách rộng rãi, khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích kiến lập nước Hậu Kim
cũng tham khảo chế độ hãn quốc của người Mông Cổ mà tự xưng làm hãn, sau khi
đánh bại liên quân chín bộ tộc Nữ Chân đối địch và người Mông Cổ, ông mới tận dụng
mối quan hệ liên hôn Mãn-Mông mà tăng cường sức ảnh hưởng đối với các bộ tộc
Mông Cổ, ý đồ thu phục. Lâm Đan hãn của bộ tộc Sát Cáp Nhĩ cũng có tham vọng thống
nhất Mông Cổ, do đó mới cùng với nước Hậu Kim phát sinh mâu thuẫn.
Diễn biến
Tháng 7 năm 1619, Nỗ
Nhĩ Cáp Xích chuẩn bị công đánh quân đội nhà Minh tại thành Thiết Lĩnh, quân
Minh thế yếu phải cầu viện Lâm Đan hãn. Lâm Đan hãn mệnh nặc nhan (2) là Tề Trại,
người Hoằng Cát Lạt bộ; đài cát (3) Ba Khắc và Sắc Bản người Trát Lỗ Đặc bộ, đều
thuộc về Nội Khách Nhĩ Khách ngũ bộ (4) cùng với con trai của Khoa Nhĩ Thấm bộ trưởng
Minh An là đài cát Tang Cát Nhĩ Trại mang hơn một vạn quân tới giúp quân Minh. Tề
Trại vừa tới chân thành Thiết Lĩnh đã bị Nỗ Nhĩ Cáp Xích đánh bại, bọn đài cát
Ba Khắc, Sắc Bản, Tang Cát Nhĩ Trại bị bắt sống, từ đó về sau Nỗ Nhĩ Cáp Xích
liên tục sai người tới Nội Khách Nhĩ Khách yêu cầu các đài cát ở đó lập minh ước
hòa hảo với Hậu Kim, cùng nhau đối phó với nhà Minh.
Tháng 10 năm 1619, sau
khi tự xưng mình là “chúa của bốn mươi vạn dân
Mông Cổ” (5), Lâm Đan hãn phái sứ thần Khang Khách Lặc Bái Hô mang thư tới Nỗ
Nhĩ Cáp Xích, trong đó gọi Nỗ Nhĩ Cáp Xích là “chúa của ba vạn dân ven sông”,
yêu cầu Nỗ Nhĩ Cáp Xích phóng thích vô điều kiện các đài cát của Khách Nhĩ
Khách và Khoa Nhĩ Thấm đang bị giam cầm, đồng thời cảnh cáo Nỗ Nhĩ Cáp Xích chớ
có xâm phạm đến việc đánh chiếm thành Quảng Ninh của ông ta. Trong thư viết rằng:
“Minh chúa cai trị bốn
mươi vạn dân nước Mông Cổ là Thanh Cát (Tư) hãn, ở đây Thanh Cát (Tư) hãn là hiệu
của thủy tổ nhà Đại Nguyên trước xưng như vậy, gửi lời thăm hỏi tới minh chúa
ba vạn dân miền ven sông thân thể có được an khang không? Đại Minh với nước ta,
hai bên vốn có thù sẵn, ta nghe tin từ năm Mậu Ngọ trở lại đây, Đại Minh bắt đầu
đánh nhau với nước ngươi, mùa hạ năm nay ta tự mình tới Quảng Ninh để vỗ yên
thành ấy, thu nạp thuế má dâng lên, ví phỏng quân nước ngươi sang mưu đồ tranh
đoạt, ta cầm quân đánh lại thì sẽ bất lợi cho ngươi đó. Hai người chúng ta vốn
không có ác ý lẫn nhau, nhược bằng ta bày quân trên thành, ngươi đến bị ta bắt
thì danh ta cũng có được vẹn toàn được không? Lại nói nếu ngươi chẳng nghe lời
ta, thì thị phi giữa hai người chúng ta có trời cao chứng giám. Trước kia hai
nước sứ giả thường xuyên qua lại, bởi vì sứ ngươi nói ta kiêu mạn, quay về tâu
với ngươi toàn lời lẽ bất thiện, thế nên mới đoạn tuyệt vậy. Nay nếu nghe lời
ta mà làm theo, thì ngươi hãy sai sứ giả trước kia đến phục mệnh ta”.
Nỗ Nhĩ Cáp Xích bèn thả
Tề Trại và đám đài cát bị bắt về, viết thư niêm phong cẩn thận gửi đáp lại Lâm
Đan hãn, lời lẽ trào phúng cứng cỏi:
“Xem thử gửi đến, ta
thấy ngươi nói mình là chúa của bốn mươi vạn dân Mông Cổ, ta là chúa của ba vạn
dân miền ven sông, thế thì cớ gì dựa vào số dân mà tự cho mình là mạnh đối với
nước ta? Ta nghe trước vào đời Hồng Vũ nhà Đại Minh lúc lấy được Đại Đô, cơ
nghiệp của “Mông Cổ bốn mươi vạn” đã tan vỡ cả rồi, gần sáu vạn kẻ đào thoát, hết
thảy đều không phụ thuộc ngươi, Nga Đô Lí Thi một vạn người, Chuyên Chuyết Thổ
Mặc Đặc một vạn người, rồi tới A Tôn Đặc, Ung Thọ Bố, Khố Lạt Thấm một vạn người,
ba vạn dân ấy chiếm cứ phía đông của ngươi, mặc ý tung hoành, với ngươi chẳng
có giao hảo gì. Thế thì ba vạn dân nữa ở phía tây, quả cũng thuộc về ngươi lắm
chăng? Đến ba vạn người cũng chẳng đủ, lại còn đem chuyện đời trước mà tự khoa
trương là bốn mươi vạn, dựa vào đâu mà khinh nước ta chỉ có ba vạn dân? Chẳng lẽ
trời đất há lại không biết được việc đó hay sao? Cố nhiên nước ta tuy nhỏ,
không giống như dân nước ngươi, quốc lực ta còn yếu, không mạnh như nước ngươi,
nhưng [nước ta] được trời đất phù hộ, các bộ tộc Cáp Đạt, Huy Phát, Ngột Lạt (6),
Dạ Hắc (7) cùng với Phủ Thuận, Thanh Hà, Khai Nguyên, Thiết Lĩnh của nước Đại
Minh, tám xứ ta đều thu lấy cả. Ngươi lại nói thành Quảng Ninh là chỗ ngươi đến
thu thuế má cống vật, chớ có đánh lấy, nếu có ý đồ khác, ta sẽ chỉ chuốc lấy bất
lợi về mình. Nay nếu ta cũng nhân có hiềm khích mà buông lời nói như thế, thì
khác gì bị Đại Minh coi là dị tộc (8), cuối cùng cũng chỉ như những kẻ mong đoạt
được cái địa vị minh chúa được trời đất phù hộ, vậy sao có thể buông lời ác
ngôn như vậy? Thế là làm việc phóng túng, không theo đạo lí, trái với lẽ cố
nhiên của trời đất. Bởi ta có lòng chí thành cảm đến trời đất, nên trời đất mới
ban cho được trí dũng, lại bởi được trời đất phù hộ nên [nước ta] mới thịnh riêng
một cõi vậy, ngươi còn chưa biết đến, sao có thể cho là ta gặp bất lợi? Ngươi lại
lấy việc công hạ Quảng Ninh làm lợi, nói rằng có thể phá được thành quách nơi ấy,
thực đáng sợ lắm chăng? Mà còn tỏ vẻ thân gần để thông báo cho ta, thực là chân
thành lắm chăng? Cái lòng thành của ngươi là kiểu lấy nhỏ làm lợi thì ta tiếp
nhận làm gì? Nếu ngươi quả có khả năng khôi phục lại Đại Đô, dời ba mươi tư vạn
hộ dân Mông Cổ về đó, nói những lời đó với ta thì thế mới gọi là lòng thành. Ta
nhớ vào lúc quân ta còn chưa gặp quân của Đại Minh, ngươi mới ra giao chiến thì
đã vứt bỏ khôi giáp, ngựa, lạc đà mà nhàn thân chạy về phương bắc rồi. Nay lại
cùng ta giao chiến lần nữa, phường tôm tép là bọn Cách Căn Đái Thanh cùng với
hơn mười tên đều bị chém tại trận, [ngươi] phải quay về tay không. Hai lần đều
thế thì thử hỏi người ngựa súc vật thu được ở đâu, thành trì chiếm được ở
đâu, đại quân thua trận giờ ở nơi nào? Lại
có thấy Đại Minh tưởng thưởng công ngươi mang quân đến giúp hậu hĩnh chăng? Chẳng
qua là vì ngày nay uy thế ta lớn mạnh bức đến [Đại Minh], giết đàn ông, vứt bỏ
đàn bà của họ, Đại Minh sợ ta, cho nên mới lấy lợi mà dụ ngươi, chẳng đúng như
thế ư?”
Sau khi thông báo cho
năm bộ tộc Nội Khách Nhĩ Khách dùng một vạn gia súc để chuộc lấy đám người nặc
nhan Tề Trại, Lâm Đan hãn lại cự tuyệt yêu cầu giao hảo của Nỗ Nhĩ Cáp Xích.
Tháng 11 năm 1625, Lâm Đan hãn tự mình soái lĩnh một bộ phận binh lực của người
Khách Nhĩ Khách, đi trước sang chỗ đài cát Áo Ba của bộ tộc Khoa Nhĩ Thấm, ở thành Địa Cách Lặc Châu Nhĩ Căn, vây hãm
thành đó để hỏi tội (9). Nỗ Nhĩ Cáp
Xích mệnh tam bối lặc là Mãng Cổ Nhĩ Thái, tứ bối lặc Hoàng Thái Cực soái lĩnh
5000 kị binh tinh nhuệ tới Nông An Tháp trợ giúp cho Áo Ba, buộc Lâm Đan hãn phải
triệt thoái. Nỗ Nhĩ Cáp Xích chủ trương tiến hành các biện pháp như li gián, kết
thân, uy hiếp các bộ tộc nằm ngoài sự kiểm soát của Sát Cáp Nhĩ như Nội Khách
Nhĩ Khách và Khoa Nhĩ Thấm, dần dần cô lập và làm suy yếu thế lực của Lâm Đan
hãn, để tập trung vào mục tiêu làm tan rã dần khối tám bộ tộc Sát Cáp Nhĩ.
Sau khi Lâm Đan hãn
đông chinh bộ tộc Khoa Nhĩ Thấm thất bại, đối mặt với sự uy hiếp của Hậu Kim, mới
quay sang hướng tây để thống nhất nội bộ Mông Cổ trước, theo đó mới cùng các bộ
tộc như Khách Lạt Thấm, Thổ Mặc Đặc ở thành Quy Hóa phát sinh xung đột kịch liệt,
kết quả là các bộ tộc này đều bị đánh bại, tuy nhiên toàn bộ Mông Cổ hữu dực (10)
lại không chịu hàng phục Lâm Đan hãn. Từ đó mới dẫn tới việc người Khách Lạt Thấm
bắt đầu thiết lập quan hệ liên minh với Hậu Kim, Hậu Kim nhân thời cơ đem ảnh
hưởng đối với các bộ tộc thuộc Mông Cổ tả dực khuếch trương sang các bộ tộc thuộc
Mông Cổ hữu dực. Người Sát Cáp Nhĩ vì chiến tranh mà bị tổn thất đại bộ phận tộc
nhân, “bên trong chỉ thấy càng mỏi mệt, càng đói, càng cùng quẫn”, ngựa trong bộ
tộc gom góp lại mới chỉ ước chừng bốn vạn, dân không đầy năm vạn. Tháng 2 năm
1628, quân đội Hậu Kim tới công thành Đại Lăng Hà, đánh bại quân của bộ tộc Đa
La Đặc liên minh với quân Minh làm nhiệm vụ thủ thành. Tháng 5, quân Hậu Kim
đánh tới A Lạp Khắc Xước Đặc, giết chết đại tướng của Lâm Đan hãn là Nhân Đặc
Tháp Bố Nang. Tháng 9, Hoàng Thái Cực lúc bấy giờ là đại hãn Hậu Kim triệu tập
các bộ tộc Ngao Hán, Nại Mạn, Trát Lỗ Đặc, Cáp Lạp Sân cùng hội quân quét sạch
các địa phương Tích Nhĩ Bác Tích Cáp Đồ và Anh Thang Đồ, người Sát Cáp Nhĩ khi
đó “người nào hàng thì được lưu lại hộ tịch, kẻ nào kháng cự thì bị giết”, năm
đó toàn bộ quân đội người ngựa của Lâm Đan hãn cố thủ bị tiêu diệt hoàn toàn,
cũng như toàn bộ các bộ tộc Nội Khách Nhĩ Khách chính thức bị nước Hậu Kim thôn
tính.
Tháng 4 năm 1632, Hoàng Thái Cực thống lĩnh quân đội Hậu Kim, cùng với binh lực của hầu hết các bộ tộc Mông Cổ quy thuận như Thổ Mặc Đặc, Khách Lạt Thấm, Y Tô Đặc, Trát Lỗ Đặc, Ngao Hán, Nại Mạn, Khoa Nhĩ Thấm, A Lỗ Khoa Nhĩ Thấm, tổng cộng mười vạn quân viễn chinh Lâm Đan hãn, song lúc bấy giờ Sát Cáp Nhĩ vốn không còn sức lực để kháng cự, “toàn bộ tộc đã giải thể”, Lâm Đan hãn lại quay sang mưu kết minh với Khước Đồ hãn, Tạng Ba hãn vốn đều là tín đồ Phật giáo Tây Tạng Ninh-mã phái, từ phía đông dẫn lực lượng của mình vượt Hoàng Hà triệt thoái sang phía tây, “mười phần nay chỉ còn bảy tám phần đi theo”, năm 1634 trên đường từ Thanh Hải chạy về phía tây thì bị trúng bệnh nặng mà chết. Ở Mạc Bắc, Xa Thần hãn Thạc Lũy (11) thu nhận lực lượng tàn dư của Sát Cáp Nhĩ chạy đến, song bị quân Hậu Kim chặn đánh. Tháng 2 năm 1635, Hoàng Thái Cực mệnh Đa Nhĩ Cổn, Nhạc Thác, Tát Cáp Liêm, Hào Cách lĩnh binh một vạn tiến vào Ngạc Nhĩ Đa Tư truy quét tàn quân Sát Cáp Nhĩ, con của Lâm Đan hãn là Ngạch Triết cùng với mẹ mình ra quy hàng, hiến quả ngọc tỉ truyền quốc “Chế cáo chi bảo” (12) cho Đa Nhĩ Cổn, toàn bộ Mạc Nam Mông Cổ chính thức nhập vào bản đồ của Hậu Kim.
Nhận định
Sách “Mông Cổ nguyên lưu” có nói Lâm Đan hãn “trong lòng sinh sân si, muốn thôn tính cả sáu nước (chỉ chung Mạc Nam Mông Cổ, bao gồm sáu bộ tộc lớn)”, cuối cùng để cho “các lãnh chúa phong kiến Mông Cổ quay sang ủng hộ hoàng đế Mãn Châu, không còn trông chờ vào Sát Cáp Nhĩ hãn như một Thành Cát Tư hãn thứ hai nữa. Lâm Đan hãn chỉ biết dùng cái xưng hiệu Thành Cát Tư mà không nhận ra việc hoàng đế Mãn Châu cũng đang từng bước thực hiện sự nghiệp vĩ đại của Thiết Mộc Chân khi xưa”. Hoàng Thái Cực dựa vào việc thu về ấn “Chế cáo chi bảo” của Ngạch Triết mà cho rằng mình có được thiên mệnh, sang năm 1636 mới đổi quốc hiệu thành Đại Thanh, lên ngôi hoàng đế, từ đó về sau hoàng đế nhà Thanh đối với người Mông Cổ cũng tự xưng mình là “Bác Cách Đạt hãn” hay “khả hãn vĩ đại”, “khả hãn thần thánh”.
Chú thích
(1) Người Oirad, nhà Minh gọi là Ngõa Lạt 瓦剌, Hậu Kim và nhà Thanh sau này gọi là Vệ Lạp Đặc 衛拉特, hoặc Ách Lỗ Đặc 厄魯特, là liên minh gồm bốn bộ tộc lớn sống ở khu vực phía Tây của nước Mông Cổ hiện đại, bao gồm Xước La Tư bộ 綽罗斯 (cũng gọi là Chuẩn Cát Nhĩ 準噶爾), Đỗ Nhĩ Bá Đặc bộ 杜爾伯特, Thổ Nhĩ Hỗ Đặc bộ 土爾扈特 và Hòa Thạc Đặc bộ 和碩特.
(2) Nặc nhan 諾顏 cũng gọi là Na nhan 那顏, tiếng Mông Cổ có nghĩa là “trưởng
quan”, là một danh hiệu dùng cho các quý tộc
Mông Cổ. Thành Cát Tư hãn lập nước, gọi những quý tộc quản một nghìn hộ dân dưới
quyền là na nhan, sau trở thành danh hiệu cho quý tộc nói chung.
(3) Đài cát 台吉, là danh hiệu của quý tộc Mông Cổ chỉ dùng cho con
cháu trực hệ của Thành Cát Tư hãn.
(4) Vào đầu thế kỉ XVI, trong bộ tộc Khách Nhĩ Khách lại chia thành hai bộ tộc là Ngoại Khách Nhĩ Khách sống ở Mạc Bắc và Nội Khách Nhĩ Khách dời xuống Mạc Nam. Người Mông Cổ quy ước các bộ tộc chừng một vạn hộ dân, chia thành các “ngạc thác khắc” (trong Hán ngữ thường dịch thành “doanh” 營 hoặc “bộ” 部, thấp hơn nữa mới đến “ái mã khắc” 爱瑪克, tức là cấp thị tộc). Hoằng Cát Lạt và Trát Lỗ Đặc là một trong năm “ngạc thác khắc” của Nội Khách Nhĩ Khách, thường chịu sự khống chế của người Sát Cáp Nhĩ láng giềng, vốn lớn mạnh hơn.
(5) Người Mông Cổ có tập
quán dùng số hộ dân ước lệ để chỉ một quốc gia hay dân tộc khác, chẳng hạn như
“bát thập vạn Hán nhân”, hoặc “tam vạn Nữ Chân”,…do đó tự gọi toàn thể lãnh thổ
của mình là “tứ thập tứ vạn Mông Cổ”, trong đó phía đông bao gồm bốn mươi vạn hộ
và phía tây (người Oirad) gồm bốn vạn hộ.
(6) Tức là Ô Lạp 烏拉, một trong bốn bộ tộc Hải Tây Nữ
Chân, quốc chủ thuộc thị tộc Na Lạp, cư trú ở ven sông Tùng Hoa, nay thuộc tỉnh
Cát Lâm, Trung Quốc.
(7) Tức là Diệp Hách 葉赫, một trong bốn bộ tộc Hải Tây Nữ
Chân, quốc chủ thuộc thị tộc Na Lạp, cư trú ở ven sông Diệp Hách nên lấy tên
sông làm tên, nay thuộc tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc.
(8) Nguyên văn: 異姓 (dị tính). Ở đây hiểu theo nghĩa là
những dân tộc mà người Hán cho là có trình độ phát triển ở mức kém hơn.
(9) Trước đó một năm
(1624), Áo Ba đã đem bộ chúng của Khoa Nhĩ Thấm quy thuận Hậu Kim, chính thức
li khai với Lâm Đan hãn.
(10) Trong quan niệm
“tứ thập tứ vạn Mông Cổ” thì phía đông bốn mươi vạn hộ (không tính bốn vạn hộ của
Ngõa Lạt ở phía tây) lại chia thành “tả dực” bao gồm các bộ tộc chính là Sát
Cáp Nhĩ, Khách Nhĩ Khách, Ngột Lương Cáp, Khoa Nhĩ Thấm và “hữu dực” bao gồm
Vĩnh Tạ Bố (hay Ung Thọ Bố), Ngạc Nhĩ Đa Tư, Thổ Mặc Đặc, A Tô Đặc.
(11) Ngoại Khách Nhĩ Khách bao gồm bảy bộ tộc cư trú ở Mạc Bắc, do ba vị hãn cùng cai quản, bao gồm Thổ Tạ Đồ hãn 土謝圖汗, Xa Thần hãn 車臣汗, Trát Tát Khắc Đồ hãn 札萨克图汗. Xa Thần hãn Thạc Lũy vốn là bề tôi cũ của Lâm Đan hãn, nên có ý muốn dung dưỡng tàn dư của Sát Cáp Nhĩ nhưng trước tình thế bị Hậu Kim uy hiếp, cuối cùng đành phải xưng thần với Hậu Kim. Đến năm 1638 thì cả ba hãn đều đến triều cống, chính thức trở thành phiên thuộc của nhà Thanh.
(12) Cần phân biệt quả ngọc tỉ này với quả ngọc tỉ truyền quốc có từ thời Tần đã bị thất lạc trong các cuộc chiến loạn trước đó. Về lai lịch của quả ngọc tỉ này cũng không có bằng chứng nào cụ thể, có lời đồn đại trong dân gian cho rằng vua Nguyên đã mang nó đi khi bỏ kinh đô chạy về Mạc Bắc rồi truyền lại tới Ngạch Triết. Quả ngọc tỉ sau đó được dùng để đóng lên các chiếu thư thời kì Sùng Đức và Thuận Trị, tới thời Càn Long thì được liệt vào một trong "Thịnh Kinh thập bảo" (mười quả ấn ở Thịnh Kinh) và được cất giữ ở lầu Phượng Hoàng, bên trong khu cung điện Thịnh Kinh (nay thuộc thành phố Thẩm Dương, Trung Quốc).
Bài viết được chuyển ngữ từ nội dung có trong đường dẫn: https://zh.wikipedia.org/wiki/%E5%90%8E%E9%87%91%E5%BE%81%E6%9C%8D%E5%AF%9F%E5%93%88%E5%B0%94. Vui lòng không sử dụng lại khi chưa có sự đồng ý của người dịch.




Nhận xét
Đăng nhận xét