Đôi điều về cái đuôi sam của nam giới thời nhà Thanh

Về kiểu tóc đuôi sam của nam giới thời nhà Thanh, đặc biệt là trong giai đoạn Thanh sơ, ngày nay có hai quan điểm giải thích. Quan điểm thứ nhất mà chúng ta có thể thấy xuất hiện phổ biến rộng rãi trong các loại hình phim ảnh và kịch nghệ lấy bối cảnh cung đình thời Thanh, đó là kiểu tóc để một đuôi sam lớn phía sau nửa đầu và phần trán phía trước cho đến đỉnh đầu đều được cạo sạch tóc. Đó là quan điểm "âm dương đầu".

Quan điểm thứ hai bổ sung cho quan điểm thứ nhất, cho rằng loại hình "âm dương đầu" trong phim ảnh và kịch nghệ không phù hợp với thực tế lịch sử. Theo quan điểm này, kiểu tóc của nam giới trong thời Thanh sơ là cạo hết sạch tóc gần như trọc, phía sau chỉ để duy nhất một mảng tóc tròn có diện tích cỡ một đồng xu và thắt phần tóc dài ra từ đó thành một cái đuôi sam nhỏ, do đó mà kiểu tóc này có tên gọi là "kim tiền thử vĩ" (tiền vàng đuôi chuột), "kim tiền tiểu đính" (tiền vàng đỉnh đầu), gọi tắt là "kim tiền thức". Còn quan điểm thứ nhất về kiểu "âm dương đầu" tuy đã ăn sâu vào tiềm thức mọi người nhưng trên thực tế chỉ hình thành vào giai đoạn cuối triều Thanh, hoàn toàn không phải là kiểu tóc của nam giới thời Thanh sơ.


Sự chuyển biến của kiểu tóc nam giới thời Thanh, từ trái sang phải: tiền kì, trung kì và hậu kì

Về tính xác tín của quan điểm thứ hai, cụ thể là cách thức để tóc với một diện tích nhỏ trên đầu và thắt đuôi sam theo kiểu "kim tiền thử vĩ", "kim tiền tiểu đính" có thể được tìm thấy trong các tư liệu văn hiến như "Minh quý bắc lược - quyển 13", "Tư văn đại kỉ - quyển 8", "Ông sơn văn ngoại - quyển 5", hay "Thất phong di biên - hồi thứ 13". Trong tiếng Mãn cũng có danh từ riêng dùng để chỉ phần tóc trên đầu mà từ đó người đàn ông sẽ thắt đuôi sam, gọi là ᡥᡡᡴᡩᠠ (hukda) trong tiếng Hán tương đương với 腦後髮際 ("não hậu phát tế" tạm dịch là "khoảnh tóc sau đầu") ("Ngự chế tăng đính Thanh văn giám" - quyển 10). Song nếu đối chiếu với tư liệu hình ảnh giai đoạn Thanh sơ, chúng ta có thể thấy khác đi. Trong các bức họa về giai đoạn Hậu Kim và Thanh sơ, kiểu tóc của các nhân vật đều không cho thấy những đặc điểm của loại hình "âm dương đầu" mà quan điểm thứ nhất đã đề cập, cũng không giống như quan điểm thứ hai về kiểu để bím tóc nhỏ đằng sau đầu như trên. Ngược lại, các nhân vật còn giữ lại tóc ở nhiều phần, cụ thể là ở mai và trán.

Dưới đây là một số ví dụ:


Tranh vẽ Thuận Trị đế mặc thường phục

Tranh vẽ Khang Hi đế mặc thường phục

Chi tiết từ bộ tranh "Cảnh đi săn mùa hạ bên gốc cây hông và ao sen của các thân vương ngoại phiên" (親藩荷塘消夏桐蔭行獵行樂畫卷) vẽ năm Khang Hi thứ 24 (1684) 

Vương Sĩ Trinh, quan chức và nhà văn nổi tiếng triều Khang Hi 

Chúng ta có thể thấy từ những bức họa trên, các nhân vật đều có phần tóc rõ nét ở phần trước trán, Vậy nếu nam giới thời Thanh sơ thực sự để tóc theo các kiểu "kim tiền thử vĩ", "kim tiền tiểu đính", cạo sạch hoàn toàn phần tóc và chỉ lưu lại một bím tóc nhỏ sau đỉnh đầu, thì tại sao lại có thể có nhiều tóc như vậy? Hãy theo dõi hai ví dụ dưới:


Chi tiết từ bộ tranh "Cảnh đi săn mùa hạ bên gốc cây hông và ao sen của các thân vương ngoại phiên" (親藩荷塘消夏桐蔭行獵行樂畫卷) vẽ năm Khang Hi thứ 24 (1684)

Chi tiết từ bộ tranh "Cảnh tập bắn và thưởng ngựa của các thân vương ngoại phiên" (親藩習射觀駿行樂圖卷) vẽ năm Khang Hi thứ 24 (1684)

Qua hai ví dụ trên, có thể thấy cái gọi là "kim tiền thử vĩ" là một mảng tóc dùng để nuôi dài phần tóc phía sau đầu ra để thắt lại thành đuôi sam. Do tóc mọc ra từ một diện tích không lớn, nên đuôi sam cũng nhỏ. Tuy nhiên ngoài đuôi sam ra thì các phần tóc còn lại trên đầu đều được giữ bình thường, tương tự như quan niệm "cắt tóc ngắn" của người hiện đại, không hề có hiện tượng cạo nhẵn nhụi những phần tóc trên đầu ngoài đuôi sam như trong các sản phẩm điện ảnh và kịch nghệ như ngày nay. Chẳng hạn như bức tranh dưới đây vẽ lại chân dung Ung thân vương Dận Chân (Ung Chính đế khi còn chưa lên ngôi), trong đó đuôi sam của Ung thân vương rất nhỏ, như vậy là ứng với cái gọi là "kim tiền thử vĩ", nhưng đỉnh đầu vẫn giữ một lớp tóc ngắn tròn đều.


Chi tiết từ tranh "Ung thân vương ngồi đọc sách"

Việc để tóc ngắn trong các tác phẩm hội họa giai đoạn Thanh sơ phản ánh chính sách "thế phát dịch phục" (cắt tóc, đổi y phục) được chứng thực trong các thư tịch đương thời. Một sĩ đại phu sống ở Gia Định (thuộc khu vực Giang Nam, nay thuộc Thượng Hải) có tên là Hầu Kì Tăng 侯岐曾 có ghi lại trong nhật kí của mình: Ngày mùng một tháng ba năm Thuận Trị thứ 3, hôm nay ghi lại việc tự mình nghe thấy được, sau khi lệnh cắt tóc hạ xuống, các sở quan ở Giang Nam đều nhất loạt chấp hành theo tiêu chuẩn về kiểu tóc, gọi là "Thanh phát ngũ đẳng định tội" 清髮五等定罪 như sau:

- Nhất thốn miễn tội 一寸免罪 (Tóc dài một thốn - tức cỡ một đốt ngón tay, thì miễn tội)

- Nhị thốn đả tội 二寸打罪 (Tóc dài hai thốn thì bị đánh đòn)

- Tam thốn thú tội 三寸戍罪 (Tóc dài ba thốn thì bị phạt đi làm lính thú ngoài biên ải)

- Lưu tấn bất lưu nhĩ 留鬢不留耳 (Để tóc mai thì mất tai)

- Lưu phát bất lưu đầu 留髮不留頭 (Để tóc trên đầu thì mất đầu)


Như vậy, tóc trên đầu cũng như những phần khác, để dài chừng một đốt ngón tay thì gần như được xem là không có tội, hơn nữa theo tường thuật trên và đối chiếu qua các chân dung của người Mãn thời Thanh sơ, chúng ta có thể thấy các nhân vật đa phần đều để tóc ngắn ước chừng một đốt ngón tay. Những ghi chép của Hầu Kì Tăng phản ánh những tiêu chuẩn mà triều đình Thanh đặt ra về kiểu tóc cho người Hán, là mô phỏng cách thức để tóc của người Mãn Châu, nhưng có phần nghiêm ngặt hơn. Trong các chân dung trên, từ hoàng đế, quý tộc Mãn Châu và quan chức Bát kì đều để tóc mai, tóc trán khá dài, và dĩ nhiên là họ không phải chịu bị cắt tai như người Hán cả. Dù trên hình thức nghiêm ngặt là vậy, nhưng án theo khoản "nhất thốn miễn tội" nhìn chung vẫn cho phép dân Hán bị chinh phục được để tóc, miễn là trong phạm vi một đốt ngón tay.


Một quan viên sống trong thời Khang Hi là Bành Bằng 彭鹏, khi còn trẻ từng cư trú tại phủ Hưng Hóa, tỉnh Phúc Kiến, sống qua cuộc chiến loạn cuối Minh đầu Thanh, cũng ghi lại những chuyện lưu lạc của gia đình bản thân trong một tập hồi kí có tên là "Cổ ngu tâm ngôn" 古愚心言, trong đó, Bành Bằng có đề cập rõ kiểu tóc của những bách tính đã cắt tóc (để đối phó với lệnh của triều đình) chỉ là "đoản phát" (tóc ngắn), và việc để tóc ngắn như vậy khiến cho gia đình ông gặp nhiều chuyện sợ hãi căng thẳng trong thời gian chạy loạn.


Năm thứ 5 niên hiệu Thuận Trị (1648), đại học sĩ nhà Nam Minh (chính quyền tàn dư của nhà Minh ở phía nam) là Chu Kế Tạc cùng với bộ tướng của Trịnh Thành Công là Dương Cảnh hội quân vây khốn thành phủ Hưng Hóa là nơi cư trú của Bành Bằng, bấy giờ đã thuộc triều đình Thanh kiểm soát. Qua hai tháng vây thành, lương thực trong thành lâu ngày cạn kiệt, nếu như bách tính tiếp tục ở lại chỉ còn đường chết. Bành Bằng khi đó mười hai tuổi, cùng với mẹ, bác gái và anh họ đều cải trang thành những người đi hái rau, cùng với những người dân đói khác mạo hiểm trốn ra ngoài thành, mong cầu đường sống. Trong gia đình của Bành Bằng thì người dễ gặp nguy hiểm nhất khi chạy nạn chính là anh họ của ông, bởi theo mô tả của Bành Bằng, người này đã "thế đầu đoản phát" (cạo đầu, để tóc ngắn), nên nếu người này đi qua khu vực quân đội Nam Minh kiểm soát thì gia đình của Bành Bằng ắt gặp tai họa. Khi đoàn người đi qua cầu Đông Pha thì gặp phải lính Nam Minh, theo như tường thuật lại "trường phát thập dư nhân" (hơn mười người tóc dài), đám lính này bắt trói và đánh đập "đoản phát tam nhân" (ba người để tóc ngắn). Gia đình của Bành Bằng chứng kiến tình cảnh đó, tưởng rằng không thể thoát được, nhưng may mắn là đám lính Nam Minh này đã thả họ đi. Sau đó họ lại gặp một đồn trại của quân đội Nam Minh với "trường phát nhị thập dư nhân" (hơn hai mươi người tóc dài), vì thấy anh họ của Bành Bằng để tóc ngắn nên chúng bắt giữ và giải xuống, những người khác vì quá sợ hãi mà "chiến lật phục địa" (戰栗伏地, "run lập cập rạp xuống đất"). Chính vào lúc ấy, trong quân Nam Minh có một người lính có lòng tốt bèn đứng ra nhận mẹ và bác gái của Bành Bằng là cô mình, còn Bành Bằng và người anh họ kia là biểu đệ (em họ bên ngoại), nhờ vậy mà cả nhà mới thoát nạn. Sau đó trên đường chạy nạn, anh họ của Bành Bằng tiếp tục bị bắt vì để tóc ngắn, rồi bị giam lại qua một đêm trước khi được thả ra.


Như vậy, dựa vào những chi tiết về người anh họ của Bành Bằng, có thể thấy sau khi "thế phát" (cắt tóc) thì chỉ "đoản phát" (để tóc ngắn), nên cũng không khác mấy so với các nhân vật trong các bức chân dung thời Thanh sơ kể trên. Trong quá trình tị nạn của gia đình Bành Bằng, nhân vật người anh họ là một ví dụ cụ thể cho những bách tính đã bị triều đình Thanh cắt tóc, thực chất đều để tóc ngắn lại và điều đó trở thành dấu hiệu cho quân đội Nam Minh, vốn vẫn để tóc dài nhận diện kẻ địch, khiến họ trở thành đối tượng bị bắt.


Do sự khiếm khuyết về tài liệu văn hiến ghi chép lại, chúng ta không thể biết được tại sao người sống vào thời kì Thanh sơ lại để kiểu đầu ngắn như vậy, song có thể suy đoán từ điều kiện sinh sống của người Mãn Châu vào buổi đầu. Trong sách "Minh Thái Tổ thực lục", quyển 144 có nói người Nữ Chân đời Minh "dĩ thú vi nghiệp, nông tác thứ chi" (以狩爲業,农作次之 nghĩa là sống bằng việc săn bắn còn canh tác nông nghiệp chỉ là phụ), tựu trung phương thức sản xuất còn tương đối lạc hậu, trình độ phát triển kinh tế thấp, nên điều kiện sống cũng khó khăn. Trong điều kiện sống thấp như vậy, dường như họ cũng không có đủ điều kiện để sửa sang cho da đầu được nhẵn nhụi. Và nếu như điều kiện sống của họ không cho phép thì trong giai đoạn đầu người Nữ Chân cũng không hình thành thói quen cạo sạch tóc trên đầu ngoại trừ bím tóc.


Trên thực tế, kiểu "âm dương đầu" xuất hiện vào trung hậu kì thời Thanh mà chúng ta thấy trong phim ảnh và kịch nghệ ngày nay, để có được nó phải cần những điều kiện khá ngặt nghèo, chẳng hạn phải có dụng cụ cạo chuyên dụng, cũng như phải mời và được làm qua tay người thợ cạo lành nghề.


Một tác giả và linh mục tên là George N. Wright từng tham gia cuộc chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất mô tả đời sống sinh hoạt của thị dân Quảng Châu đương thời trong tác phẩm "The Chinese Empire Illustrate" (Minh họa về đế quốc Trung Hoa): "Dao cạo (của người Trung Hoa) không chỉ cạo đầu mà còn dùng để cạo cả khuôn mặt nữa, điều đó khiến người Trung Hoa không thể tự mình thực hiện tập quán thiết yếu này, thành thử phát sinh nhu cầu một số lượng lớn những thợ cắt tóc chuyên nghiệp", "Chỉ riêng đất Quảng Châu đã có hơn 7000 thợ cắt tóc khắp các phố lớn và ngõ ngách nhỏ". George N. Wright khẳng định người Trung Hoa không thể tự mình cạo tóc mà phải nhờ tới những thợ cạo có tay nghề, về điểm này có thể xem là khả tín. Trên thực tế, thao tác cạo sạch đầu đòi hỏi tay nghề rất giỏi, căn cứ theo hồi kí "Cung nữ đàm vãng lục" (宮女談往錄) của một cung nữ họ Hạ từng sống trong cung nhà Thanh cho biết, thợ cạo tóc trong cung đình "phải trải qua huấn luyện trong thời gian dài, một ngày không luyện thì tay sẽ bị run và mắt sẽ bị mờ đi. Mùa xuân và mùa đông họ phải tập cạo trên chính cánh tay và bàn tay của mình, dùng tay phải để cầm dao và cạo sạch lông trên tay trái. Mùa hạ và mùa thu họ sẽ tập trên vỏ bí đao". Thợ cạo tóc cung đình nếu để xảy ra sai phạm sẽ phải chịu trừng phạt rất nặng, do đó họ phải khổ luyện tay nghề của mình. Còn những người thợ cạo ngoài xã hội tuy không phải chịu sự quản lý khắt khe như trong cung đình, song họ cũng phải có tay nghề thuần thục mới có thể dành được sự hài lòng của khách hàng. Bên cạnh đó, sau khi da đầu được cạo sạch xong, nếu muốn duy trì trạng thái sạch sẽ đó, người khách lại phải tiếp tục bỏ tiền ra để trả cho thợ cạo thường xuyên. Cũng theo hồi kí của vị cung nữ họ Hạ nói trên, hằng năm hoàng đế Quang Tự sẽ dành ra những ngày nhất định để cạo đầu, đó là các ngày mùng một, ngày mười một và ngày hai mươi mốt mỗi tháng, cứ cách mười ngày một lần cạo, bất kể thời tiết thế nào. Tần suất đó có thể xem là cần thiết để duy trì da đầu luôn được sạch sẽ. Hoàng đế sẵn sàng trả tiền cho các thợ cạo, những người giàu có cũng trả tiền để thuê các thợ cạo đầu giỏi, bất kể có phải dùng phương cách nào đi nữa. Cạo đầu thường xuyên đã trở thành một thói quen sinh hoạt, mà cốt yếu được hình thành dựa trên quan niệm về lối sống và cơ sở điều kiện kinh tế nhất định.


Như trên đã nói, mặc dù thiếu hụt những ghi chép và tài liệu văn hiến - lịch sử tường tận về đời sống sinh hoạt của người Nữ Chân cuối triều Minh song vào thời kì Thanh sơ, triều đình đem một số lượng tù chính trị cũng như giới văn nhân chống đối đày ra miền quan ngoại, vì vậy mà họ có để lại một số tác phẩm thuộc thể loại bút kí ghi chép cuộc sống sinh hoạt của người Mãn Châu sống ở quan ngoại, chẳng hạn như: "Ninh Cổ Tháp kỉ lược", "Long Sa kỉ lược", hay "Ninh Cổ Tháp sơn thủy kí". Trong những tác phẩm này, có thể thấy người Mãn Châu ở quan ngoại ngoài các công việc như canh tác nông nghiệp, khai thác gỗ, săn bắt, đánh cá, tìm ngọc trai hoặc buôn bán mậu dịch thì chưa hề đề cập tới sự tồn tại của những người kiếm sống bằng nghề cạo đầu cả. Bên cạnh đó, các tác phẩm này đều mô tả rất rõ điều kiện và phương thức sống thô sơ của người Mãn ở quan ngoại. Vì vậy, chúng ta cũng không có căn cứ để biết là có tồn tại một phương pháp cạo đầu nào chung nhất vào thời Thanh mạt hay không.


Nếu quả là vào thời kì Thanh sơ, người Mãn chưa hình thành một tầng lớp những người hành nghề cạo đầu, thì kiểu tóc ngắn trong những bức chân dung mà chúng ta thấy ở trên có khả năng không phải do việc cạo mang lại mà là kết quả của việc dùng kéo cắt. Giả sử rằng cho dù họ có tìm được người cạo đầu đi chăng nữa thì chưa chắc họ đã giống như người thời Thanh mạt cạo đầu thường xuyên, mà họ chỉ để da đầu nguyên như vậy, một thời gian sau sẽ có tóc mọc lại.


Và nếu chúng ta nghiền ngẫm kĩ về mặt ngôn từ, cũng như suy luận dựa trên tinh thần của các tư liệu lịch sử, có thể đi tới nhận định: Dụng cụ dùng để "thế phát" hay "cạo đầu" vào thời kì Minh mạt Thanh sơ nhiều khả năng là kéo, còn cái gọi là "thế phát" là chỉ việc cắt tóc trên đầu cho ngắn đi, chứ không phải là làm sạch hoàn toàn tóc trên đầu bằng dao cạo như trong ngữ cảnh thời hiện đại. Cây kéo chỉ có thể cắt đi phần tóc dài và để lại phần chân tóc chứ không thể cạo sạch sẽ da đầu như trong kịch nghệ. Do đó, qua một số lượng lớn các bức chân dung thuộc giai đoạn Thanh sơ, ta đều thấy các nhân vật có mái tóc ngắn.


Vào năm thứ 23 niên hiệu Vạn Lịch nhà Minh (1595), quốc vương Triều Tiên phái sứ thần Shin Chung-il (申忠一, Thân Trung Nhất) tới trị sở của Nỗ Nhĩ Cáp Xích là thành Phật A Lạp (nay thuộc huyện Tân Tân tỉnh Liêu Ninh) nhằm mục đích truyền đạt thư tín ngoại giao, kết mối giao hảo, sau khi về nước, Shin Chung-il có mô tả lại kiểu tóc của đàn ông trong thành Phật A Lạp trong tác phẩm "Kiến Châu kỉ trình đồ kí" là: "Hồ tục giai thế phát" (胡俗皆剃髮, "tục người Hồ đều cắt tóc (ngắn) cả"). Một người Triều Tiên khác có tên là Yi Min-hwan (李民寏, Lí Dân Viện) là viên quan làm việc trong quân doanh Triều Tiên, tham gia chiến dịch Tát Nhĩ Hử, quân thua, ông ta bị bắt về đô thành Hậu Kim là Hách Đồ A Lạp, sang năm sau thì được phóng thích trở về nước. Trong bản báo cáo "Kiến Châu kiến văn lục" soạn ra để trình lên quốc vương Triều Tiên, Yi Min-hwan mô tả đàn ông trong thành Hách Đồ A Lạp "đều nhổ râu dưới cằm (người Nữ Chân có tập quán nhổ râu dưới cằm và quanh cổ), cắt tóc ngắn và còn thừa tóc sau đỉnh đầu thì bện lại bằng ngón tay út rồi thả xuống bên trái". Dân chúng sống dưới quyền kiểm soát của Nỗ Nhĩ Cáp Xích hẳn nhiên là phải sử dụng cùng một kiểu tóc, và kiểu tóc này được Shin Chung-il gọi là "thế phát" còn Yi Min-hwan lại dùng chữ "tiễn phát" (Cả hai chữ "thế" 剃 và "tiễn" 剪 đều có nghĩa là cắt, nhưng "tiễn" còn có nghĩa là cái kéo). "Thế phát" và "tiễn phát" nhiều khả năng là đồng nghĩa với nhau.


Căn cứ trên các tư liệu lịch sử về việc người Hán cắt tóc của triều đình Thanh sau khi nhập quan, có thể thấy rằng sau khi lệnh cắt tóc được truyền xuống, không ít trường hợp người Hán đã dùng phương thức cắt tóc bằng kéo để tuân theo lệnh của triều đình. Trong "Hà Nam tuần phủ Ngô Cảnh Đạo đề thẩm nghĩ Dương yêu tưởng lưu phát hàng lương trảm tội sự bản" (河南巡撫吳景道題審擬楊夭獎留發杭糧斬罪事本, "Bản tường trình của tuần phủ Hà Nam là Ngô Cảnh Đạo xin miễn tội chém cho tên họ Dương về vụ để tóc dài và không nộp thuế ruộng") ghi lại một sự việc xảy ra vào năm thứ 4 niên hiệu Thuận Trị (1647), có một nông dân tên là Dương Thiên Mĩ không chịu cắt tóc mà còn phản kháng bằng cách từ chối nộp thuế ruộng, lại bắn chết người đi thu thuế. Nhưng cuối cùng Dương Thiên Mĩ vì bị vây bắt phải khuất phục và tự mình cắt tóc, quan viên thẩm lí vụ việc đã mô tả cách thức thực hiện của người này là "gọi người nhà ném cho cái kéo, rồi cắt đi mớ tóc dài xuống".


Năm thứ 5 niên hiệu Thuận Trị (1648), tại châu Bảo Đức, phủ Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây xảy ra một vụ việc cũng do vấn đề cắt tóc mà ra. Trần Kì Du, một cựu quan chức cao tuổi của triều Minh cũ sống tại châu Bảo Đức, từng làm quan trải qua chức tổng đốc quân vụ năm tỉnh Thiểm Tây, Sơn Tây, Hà Nam, Hồ Quảng, Tứ Xuyên dưới thời Sùng Trinh. Sau khi bị triều đình Minh cách chức thành dân, ông quay về quê sinh sống. Trần Kì Du mặc dù sống cuộc sống thường dân đã lâu nhưng vẫn bám giữ cái quan uy, không thay đổi, ông vẫn treo biển ngoài cổng lớn và dựng cột cờ trước nhà mình như lúc còn làm quan cho triều Minh, lúc xuất hành ra ngoài vẫn dùng dù vàng để che, ngồi kiệu, tỏ rõ ra ngoài phong cách sang trọng. Nhưng những hành động này chưa phải là đáng lo ngại mà quan trọng là Trần Kì Du vẫn còn để tóc dài không cắt đi và vẫn còn đeo võng cân như khi triều Minh còn tồn tại. Trần Kì Du khi tới gặp mặt viên tri châu của châu Bảo Đức, lập tức bị viên tri châu đó phát hiện ra ngay vấn đề, do đó lập tức bị bắt giữ tại trụ sở nha môn. Sau đó, nhờ có các bậc hương thân đất đấy khẩn thiết xin cho, Trần Kì Du mới được tại ngoại, ngay khi về nhà ông đã yêu cầu người tiểu thiếp của mình là Vương Tuấn Tú Nhi dùng kéo cắt tóc. Sau khi việc tại ngoài diễn ra xong, Án sát ty và Kinh lịch ty nhận được báo cáo nói rằng người tiểu thiếp đã "cầm kéo, lập tức cắt bỏ mớ tóc dài của Trần Kì Du", còn trong khẩu cung mà viên tri châu thu thập được mô tả "Vợ của hán bèn cắt tóc [cho hắn], cắt xong, phía sau đầu và tóc mai đã theo kiểu mới". Án sát ty bèn chất vấn viên tri châu: "Sao lại dung túng cho hắn được tại ngoại và cắt tóc tại nhà riêng?" Lại dựa theo khẩu cung của các hương thân đứng ra bảo lãnh cho Trần Kì Du, trong đó có nói Trần Kì Du "chỉ cắt hết tóc sau khi đã được thả về nhà". Đốc sát viện đối chiếu lại các bằng chứng, xác nhận Trần Kì Du "về nhà sai tiểu thiếp ngầm cắt tóc" và "sai tiểu thiếp cạo đầu". Việc người tiểu thiếp này cắt tóc cho Trần Kì Du được mô tả qua các từ và cụm từ như "tiễn thế" (剪剃), "thế đầu" (剃頭), "tương đầu phát thế cật" (將頭髮剃訖), "tư thế" (私剃), "tận thế liễu" (盡剃了), cũng như kiểu tóc mới của Trần Kì Du sau khi cắt xong được mô tả là "tân thế chi hình" (新剃之形), có thể đi đến nhận định rằng đương thời, cái gọi là "thế phát", kì thực chính là việc dùng kéo để cắt ngắn tóc.


Một câu chuyện khác cũng diễn ra vào buổi giao thời giữa hai triều Minh Thanh, ở Tô Châu có một vị nhân sĩ không rõ danh tính, trong tác phẩm của mình là "Bá Thiên nhật kí" có kể lại vào năm thứ 3 niên hiệu Thuận Trị (1646), tháng hai, "Hồng nội viện (chỉ Hồng Thừa Trù, một nhân vật chính trị nổi tiếng trong giai đoạn Minh mạt Thanh sơ, từng nắm chức thượng thư bộ Binh, tổng đốc quân vụ Kế Liêu, chỉ huy quân Minh phòng ngự nhà Thanh ở đông bắc, sau hàng nhà Thanh, nhậm chức đại học sĩ kiêm giữ việc kinh lược các tỉnh miền nam) phụng chỉ ban bố, lại muốn khôi phục việc cạo đầu, thực không thu được lòng người, những kẻ không chịu cạo, lập tức bị quân binh mặc sức đánh đập lăng nhục, từ cuối tháng nay tới sơ tuần tháng ba, ai xuất thân từ các thành thị đều phải cắt tóc, dần dần lan đến nơi thôn dã vậy". Trong trích đoạn trên, tác giả nói bách tính tuân chiếu chỉ của triều đình phải "thế đầu" (ta quen gọi là "cạo đầu") và những người có xuất thân từ thành thị phải "tiễn phát" ("cắt tóc"), hai từ này thực chất chỉ là một việc mà thôi. Do đó, tác giả chỉ dùng chữ "tiễn phát" để biểu thị cái thao tác, phương thức cụ thể của việc "thế đầu".


Dễ thấy, kéo không thể loại bỏ hết tóc mọc trên da đầu của con người, nhất thiết vẫn phải còn phần chân tóc. Vậy nếu nói "cạo đầu" đồng nghĩa với "cắt tóc" thì sau khi thực hiện xong, trên đầu ắt phải còn một lớp tóc ngắn. Nếu người Mãn Châu ở Hách Đồ A Lạp dùng khái niệm "tiễn phát" để chỉ kiểu tóc của mình, và người Hán thì dùng khái niệm "tiễn thế" để chỉ việc chấp hành lệnh cắt tóc của triều đình Thanh, thì không có gì đáng ngạc nhiên khi chúng ta thấy các nhân vật trong các bức chân dung giai đoạn Thanh sơ, cả Mãn lẫn Hán, đều có một lớp tóc ngắn trên trán cả.


Trong quá trình nhà Thanh mở rộng lãnh thổ, thường xảy ra hiện tượng ra lệnh cho một lượng đông đảo nhân khẩu của một vùng đất phải nhất loạt cắt tóc trong một thời gian ngắn. Chẳng hạn vào năm thứ 6 niên hiệu Thiên Mệnh của Hậu Kim (1622), Thanh Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích sau khi chiếm được Thẩm Dương, đã lệnh cho mọi người trong toàn thành nhất loạt phải cắt tóc ("Mãn văn lão đương", quyển 19). Một ví dụ khác vào năm thứ 2 niên hiệu Thuận Trị (1645), triều đình Thanh lại lệnh nhân dân trong ngoài kinh sư (Bắc Kinh); riêng khu vực Trực Lệ (vùng xung quanh Bắc Kinh và tỉnh Hà Bắc ngày nay) cho tới các tỉnh địa phương sau khi nhận được công văn, trong vòng mười ngày đều phải "tận lệnh thế phát" (盡令剃髮, "toàn bộ thực hiện lệnh cắt tóc") ("Thanh Thế Tổ thực lục", quyển 17). Như trên đã đề cập, vào những năm Đạo Quang tức là bắt đầu giai đoạn cuối Thanh, ở Quảng Châu có tới hơn 7000 thợ cắt tóc khắp các phố xá và ngõ ngách để đáp ứng nhu cầu của cư dân trong thành phố, vậy vào thời kì chuyển giao giữa hai triều Minh Thanh, đối với một dân tộc chưa có tập quán cắt tóc thường xuyên mà nói, thì trong xã hội hẳn chưa thể tồn tại một cộng đồng những người hành nghề cắt tóc có số lượng lớn như trên. Vì thế đại đa số người dân khi phải thi hành việc cắt tóc trong một thời gian gấp rút như vậy, họ sẽ sử dụng kéo là một dụng cụ phổ thông hằng ngày làm công cụ để lược bỏ mái tóc dài đi, trong điều kiện lúc bấy giờ, có lẽ đó là phương thức khả thi hơn cả. Mặt khác, việc cắt tóc toàn dân là xuất phát từ lí do "Quân do phụ dã, dân do tử dã" (君猶父也, 民猶子也 "vua giống như cha còn dân giống như con vậy") thì ắt phải "phụ tử nhất thể" (父子一體, "cha con cùng một kiểu") ("Thanh Thế Tổ thực lục", quyển 17), phản ánh tư tưởng cho rằng dân tộc thống trị lẫn dân tộc bị trị phải thống nhất duy trì một phong cách giống nhau. Nếu lấy kiểu tóc của tầng lớp quý tộc, vương công người Mãn làm đối tượng để mô phỏng, trong khi bản thân họ cũng không chú ý mấy tới việc cạo sạch tóc trên đầu và phần lớn cũng chỉ để tóc ngắn, thì việc dân Hán cắt tóc ngắn hẳn cũng là điều nhà cầm quyền chấp nhận.


Nếu ta nhìn nhận kiểu tóc hay bất cứ một xu hướng thời trang nào dưới góc độ là một sản phẩm văn hóa thì hiển nhiên nó cũng không bao giờ được duy trì mãi mà sẽ thay đổi theo dòng chảy lịch sử. Từ trung kì triều Thanh trở về sau, dường như việc cạo sạch phần da đầu ngoại trừ bím tóc lại trở thành một xu hướng thịnh hành. Chúng ta có thể nhận thấy điều này trong những bức chân dung triều phục của các vị hoàng đế giai đoạn trung kì - vãn kì thời Thanh, cụ thể, phần chân tóc phía trước trán cũng như xung quanh vành mũ đều không còn nữa, da đầu cũng trở nên sáng rõ hơn.


Chi tiết từ tranh Càn Long đế mặc triều phục


Chi tiết từ tranh Gia Khánh đế mặc triều phục

Chi tiết từ tranh Đạo Quang đế mặc triều phục


Chi tiết từ tranh Đạo Quang đế trong trang phục thường ngày


Năm thứ 39 niên hiệu Càn Long (1764), họa sĩ cung đình và đồng thời cũng là một giáo sĩ dòng Tên người Ý là Giuseppe Castiglione (tên Hán là Lang Thế Ninh 郎世寧) trong bức tranh "Tái yến tứ sự đồ" (塞宴四事图, "Bốn cảnh thiết yến vùng biên ải", bức tranh có chủ đề là cảnh Càn Long đi săn và thiết yến ở Mông Cổ), chúng ta có thể thấy cảnh các đô vật người Mãn đang giao tranh với nhau, họ đều không đội mũ, đỉnh đầu lộ rõ phần da đầu được cạo sạch tóc và nhìn rõ được dấu vết trên da đầu do tóc bị cạo đi.


Chi tiết từ bức "Tái yến tứ sự đồ"

Trong bức chân dung tự họa của Kim Nông (金農, sinh 1687, họa gia sống vào thời Càn Long), chúng ta cũng có thể thấy kiểu tóc của ông giống với các đô vật trong bức "Tái yến tứ sự đồ", theo đó phần da đầu được cạo sạch hoàn toàn ngoại trừ bím tóc.


Chân dung tự họa của Kim Nông


Từ những bức họa trên, có thể suy luận ra rằng từ trung kì thời Thanh trở về sau, phương thức xử lí tóc của người dân đã có sự chuyển biến, họ bắt đầu sử dụng dao cạo để cạo sạch tóc cẩn thận hơn, và kiểu tóc này trở nên giống với kiểu tóc mà ta thường thấy trong phim ảnh và kịch nghệ thời hiện đại, da đầu nhẵn nhụi chỉ trừ phần bím tóc. Trong sách "Ngự chế tăng đính Thanh văn giám" viết bằng tiếng Mãn, biên soạn vào năm thứ 36 niên hiệu Càn Long (1771) có giải nghĩa cho mục từ ᡶ᠋ᡠᠰᡳ᠍ᠮᠪ (fusimb, trong Hán ngữ tương đương với "thế đầu") như sau: "Dụng đao tử trừ điệu đầu phát, xưng vi thế đầu" (用刀子除掉頭發,稱為剃頭 - "Dùng dao loại bỏ tóc trên đầu được gọi là cạo đầu"). Như vậy cách giải thích này cho thấy sự tương quan với kiểu tóc của nam giới trong các bức họa sau thời Càn Long.


Để sở hữu phần da đầu sạch sẽ và nhẵn nhụi thì không thể thiếu bàn tay của các thợ cạo có tay nghề. Thời kì Càn Long vùng Cửu Giang (nay thuộc tỉnh Giang Tây) nổi tiếng là nơi sản sinh ra nhiều thợ cạo chuyên nghiệp. Tương truyền rằng, Phúc Khang An là bậc đại thần khi đi qua vùng Cửu Giang cũng phải dừng lại để mời thợ ở đó cạo tóc. Tài nghệ điêu luyện của người thợ giỏi được mô tả là "đao pháp xào xạc như gió, tới mức tóc trên đầu rơi xuống mà người khách tri giác không cảm thấy gì, nhờ đó mà có lúc được thưởng tới năm mươi lượng bạc" (từ sách "Thanh bại loại sao", chương "Dung chỉ loại").


Tăng Kỉ Trạch, một đại thần vào thời Thanh mạt từng làm đại diện ngoại giao của Trung Quốc tại Anh, Pháp, Nga, ghi lại trong nhật kí của mình, khi ông thuê một người thợ cạo đầu cho mình phải giao hẹn trước là sẽ cạo trong vòng 7 ngày một lần và phải cạo nhiều hơn những lúc ông phải thượng triều. Sở dĩ Tăng Kỉ Trạch phải cạo đầu thường xuyên như vậy vì ông vốn là một quan chức, và cần phải duy trì một diện mạo lịch sự, sang trọng để tương xứng với địa vị của bản thân. Có thể thấy bắt đầu từ thời đại Càn Long trở đi đã tồn tại quan niệm cạo tóc cho gọn gàng là đặc điểm nhận diện của những người có địa vị trong xã hội, không phân biệt Mãn Hán.


Tuy nhiên, trong những tư liệu ảnh hoặc phim do người ngoại quốc ghi lại vào thời Thanh mạt, ta có thể thấy vẫn còn những người không cắt tóc mà để tóc mọc dài bù xù trên đầu, đều là những nông dân làm ruộng hoặc buôn bán kiếm sống nơi chợ búa, ắt hẳn đấy là những người thuộc tầng lớp thấp của xã hội. Suy cho cùng, để giữ cho phần da đầu luôn ở trạng thái sạch sẽ, người đó sẽ phải thường xuyên thuê thợ cạo, và điều đó hẳn là tốn kém hơn, chỉ có một bộ phận người có điều kiện tốt về mặt kinh tế mới làm được. Còn đối với những người không có tài lực thì từ thời Thanh sơ cho tới Thanh mạt, ngoại trừ phần bím tóc ra thì tóc họ vẫn duy trì như vậy trên nửa phần đầu còn lại.


Nông dân thời Thanh mạt


Nhà văn Lỗ Tấn trong tiểu thuyết "Đầu phát đích cố sự" (mà chúng ta đã quen thuộc ở Việt Nam với nhan đề "Chuyện cái đầu tóc") đã mượn lời kể của một vị tiền bối đặt tên là N để phàn nàn về chuyện đầu tóc: "Này, chắc anh cũng biết cái đầu tóc đối với người Trung Quốc chúng ta là bảo bối và cũng là một của oan gia chứ! Xưa nay, bao nhiêu người khổ vì nó một cách không có nghĩa lí gì hết" và "Thật không biết bao nhiêu người Trung Quốc chỉ vì cái đầu tóc vô thưởng vô phạt ấy mà phải chịu khổ, chịu cực thậm chí bị chém giết!" (trích theo "Truyện ngắn Lỗ Tấn", Trương Chính dịch, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, 2007).


Trích chọn và chuyển ngữ từ nguyên văn có trong bài viết tại đường dẫn: https://m.thepaper.cn/yidian_promDetail.jsp?contid=7754221&from=yidian. Vui lòng không tự sử dụng văn bản khi chưa có sự đồng ý của người dịch.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến